Về “R” (Kim Nhật)- Phần III

Cứ theo cái đà như thế, vượt qua quốc lộ 19 ở Quảng Trị rồi vào Thừa Thiên, lại vòng qua đất Lào lần nữa, đổ xuống Kontum, qua Bình Định, lội ngọn sông Ba vào Cao nguyên, núi rừng khu 6, đoàn nào cũng rơi rớt dần. Cho đến khi qua sông Đồng Nai, đặt chân lên đất khu A thì đoàn nào còn nhiều lắm là phân nửa quân số buổi ban đầu. Có khi chỉ còn lại 1 phần 10. Và buồn cười nhất, chính cái ông chính trị viên bao giờ cũng động viên người khác, hô hào tiến lên, xung phong lên, lại lạc đâu mất biệt không thấy tăm dạng. Có đoàn, cả Ban chỉ huy về đến khu A sau rốt, sau những anh em đoàn viên cuối cùng đến hai tháng sau. Vậy mà, giống như một công thức chung, trong những ngày đầu lúc khởi hành, Ban chỉ huy đoàn nào cũng “đặt vấn đề” với anh em đoàn viên, phần lớn những “rắc rối” đều xảy ra ở đoạn đường đầu đó.

Những diễn biến trên đường đi của các đoàn cán bộ mùa thu, mỗi đoàn có những trạng huống khác nhau, những sự kiện khác nhau, thiên hình vạn trạng. Duy chỉ có những điểm như : đói, bệnh tật, kiệt sức, mâu thuẩn giữa Ban chỉ huy và đoàn viên là giống nhau đến một cách lạ lùng.

Từ 1964 về trước, nhiều đoàn phải chịu đói hàng tháng trời, đào củ chụp, củ năng, ăn lá bép, đọt kè, khoai mì để thay cơm. Củ chụp, củ năng đâu phải nơi nào cũng có, ngày nào đào cũng được ? Lá bép, đọt kè cũng vậy. Còn khoai mì, khi về đến khu 6 và khu A mới có thể, may ra..

Nhìn vào một đoàn cán bộ mùa thu đi trên đường dây, thực là một bức tranh trông vào đến buồn cười. Một đoàn người mà, ăn mặc quân phục chẳng ra quân phục, dân sự chẳng ra dân sự, bà ba chẳng ra bà ba. Quần dài, cái xắn ống quá gối, cái thì cột túm lại trên mắt cá. Chỉ có ba-lô là giống nhau, nhưng người thì mang, kẻ lại vác. Súng ngắn mang ở thắt lưng chẳng nói gì, còn súng dài, có người gác trên ba-lô, có người mang một bên chúc mũi xuống. Người lại quàng qua cổ, treo tòn ten trước ngực, người lại xách tay. Rồi trên đầu một vài cây súng, còn treo lơ lửng vài nắm rau rừng hái được bất chợt dọc theo đường đi, hoặc treo cái nón vải, cái khăn đủ vắt cục cơm, lủng lẳng theo nhịp bước đong đưa. Có chư vị quá mỏi, cắc cớ rủ thêm một người khác tom góp hết “của cải” của hai người, kể cả son nhôm và hai cái “hăng gô” đầy lọ (đồ nấu ăn của cá nhân mỗi người) treo hết vào một cây đòn dài, mỗi người một đầu, khiêng chạy lúp xúp giữa toán người đi.

Đoàn đi càng về chiều, càng trải dài ra thành từng toán, từng nhóm lẻ. Có người không theo kịp bạn đồng đội, lang thang chống gậy một mình, tít mãi phía sau hằng 2 cây số. Đến mỗi lối rẽ, mắt nhìn dáo dác tìm nắm lá tươi của những người đi trước để lại làm dấu, theo cho đúng đường.

Luật lệ đi đường của đường dây đặt ra, cứ đi được một giờ thì nghỉ mười phút xả hơi. Trong những lần nghỉ xả hơi từ lúc trưa xế về sáng, thông thường ai cũng ngã lưng xuống đất nằm lim dim, hoặc đấm bóp chân tay, xoa dầu, băng bó những vết trầy. Ít ai dám nghĩ đến việc “tranh thủ” tìm thêm thức ăn như xắn măng le, măng lồ ô, hái trái rừng. Nhưng từ xế đến chiều, nhất là khi được giao liên cho biết, lần này là lần nghỉ xả hơi cuối cùng, thì trăm người như một, ai cũng lo “tranh thủ” kiếm chác. Dù cơ thể đã rã rời, hơi thở dốc, bước đi không vững, đôi mắt thẫn thờ, thế mà cũng cố ngoảnh đi ngoảnh lại hai bên đường để xem có bắt gặp cái gì lạ không ? Cái gì lạ đó là măng le, măng lồ ô, rau rừng, nấm mỡ, nấm két, nấm mèo v.v… và đặc biệt là củi khô. Gặp nhánh to, nhánh nhỏ gì hễ thấy là chộp lấy, ôm trên tay.

Khi đến trạm, công việc trước nhất không phải tắm rửa, mà là nấu ăn, càng nấu sớm càng tốt. Buổi tối, có nhiều trạm cấm không cho nổi lửa, đốt đèn, vì như thế sẽ lộ bí mật, sẽ bị gián điệp phát giác. Không bị cấm nổi lửa, đốt đèn đi nữa cũng vậy, trời tối om đi tìm cho đủ củi khô để nấu bữa ăn tối, rồi cơm ăn cho buổi sáng mai, cơm dỡ cho trưa mai, nấu mấy “hăng gô” nước để châm đầy hai bình ton, và pha trà cử tối, sau lúc ăn cơm thì đâu phải dễ kiếm. Có nhiều trạm, vì khách qua lại hàng ngày, củi khô bị khách vét sạch chung quanh trạm một vùng rộng. Bây giờ trên đường đi dễ tìm, dễ lượm, không lo trước, đến trạm đã tối om, chừng ấy chỉ có nước thọc tay vào mà chụm thay củi, không thì đói là cái chắc.

Vì vậy, trước khi đến trạm, anh cán bộ mùa thu nào, bất kỳ mệt hay khỏe, đều có ôm một bó củi trên tay. Râu ria, chà chôm, nhánh lớn nhánh nhỏ đủ thứ. Đi trong đoàn, mỗi người đều được phát hai cái “hăng gô” cá nhân để tự nấu cơm, nấu nước, kho cá, nấu canh v.v ..Mỗi “hăng gô” chứa được 2 lít. Đến nơi, cơm ai nấy nấu, gạo ai nấy xử dụng, đâu ai có thể lo cho ai, nên mỗi người phải kiếm củi dọc đường là vậy. Đó là một thói quen cần thiết, lâu ngày trở thành một công việc bất buộc, thành một quy luật mà mỗi người phải tuân theo.

Những hôm nào trời mưa mới thực là khốn khổ. Phải lo lấy nylon trùm củi lại cho khô. Người có ướt, quần áo có ướt cũng chưa can hệ bằng củi. Đến trạm đã muộn, tối mò, mưa lại cứ đùng đùng không dứt. Nói là trạm chứ thực ra đó chỉ là một cái nhà con lạc lỏng giữa rừng sâu, không vách, lợp bằng tranh hay lá mây, lá trung quân, lá cây rừng khác, chỉ đủ để cho vài nhân viên của trạm ở. Đoàn cán bộ mùa thu thì ở ngoài trời, mỗi người phải dọn chỗ cho mình ở giữa 2 cây rừng cách nhau chừng 3 thước, làm chỗ giăng võng, che nylon phủ lên để tránh mưa. Nghĩa là, phải tự mình lo lấy chỗ nghỉ ngơi với tấm nylon nóc, dây thun nóc, võng, mùng v.v… đồ cá nhân của mình. Đến trạm giữa cơn mưa, việc đầu tiên là căng dây thun nóc cao quá đầu giữa hai thân cây. Kế đó lấy nylon nóc phủ lên, chia đôi hai mái cho đều, cột các dây góc cho thẳng, giống y như hai mái nhà, như vậy. “Cái nhà tạm ” coi như đã xong. Muốn có chỗ để ba-lô, đồ đạc khỏi ướt, chặt 3 cây con bằng dao găm mang theo, xốc tréo xuống đất ở một đầu của “căn nhà tạm”, vậy là có chỗ để. Để ba-lô, đồ đạc, súng ống lên đó, lấy võng ra giăng dây dù vào hai thân cây cho chắc, thì có mưa sáng đêm, có bão dữ đội cũng chưa chắc hề hấn, ướt át gì. Tha hồ ngủ, bất cần đời !

Chỉ có những đoàn đi đầu tiên mới phải làm chỗ nghỉ, chọn lựa mệt nhọc. Những đoàn đi sau, chỉ việc thừa hưởng những gì người trước để lại thôi.

Lo cái “nhà” xong, mưa quá, nước ngập lênh láng chảy tràn dưới chân, muốn làm cái bếp nấu ăn ngay, khó đấy! Nhưng không sao, lấy nylon choàng che mưa đi ôm đất cục, đá hoặc mấy gốc cây mục chất lại cho cao hơn mực nước, kéo một nhánh cây tươi bằng ngón chân cái quằn xuống chặt cụt ngọn, thế là xong. Lấy “hăng gô” ra trút gạo, đi vo dưới suối hay giếng, đổ nước mang đến, kéo cành cây cụt xỏ quai “hăng gô” vào, treo lơ lửng cách mặt bếp chừng một gang tay. Nếu cành cây yếu, lấy cây chống phụ. Nếu cành cây cứng lấy tay quằn xuống thêm.

Củi sẵn, bếp sẵn, chỉ cần lấy cao su quai dép mang theo (dành để nhóm bếp) cắt một đoạn, bật lửa đốt rồi chất củi vào. Như vậy, tuy có vất vả hơn bình thường, mưa gió vẫn có thể nấu được bữa ăn giữa rừng như thường.

Trên đây là một “pha” về cách nấu ăn của anh em cán bộ mùa thu ở giữa rừng đầy mưa do họ kể lại. Họ làm một cách thuần thục, nhanh nhẹn. Nếu là một bà nội trợ giỏi đứng trước cảnh đó phải chịu phép, lúng túng, không biết giải quyết ra sao. Với họ, kinh nghiệm và thói quen đã giúp họ để có thể sống được giữa vùng núi rừng hoang vắng trên suốt đường đi tháng này năm nọ.

Nói đến cái đói của họ trên đường đi, có thể nói không một ai tránh được cả, nhất là năm 1965 trở về trước. Càng trở về trước càng đói dữ, đói đến độ cái tư tưởng chết vì đói lúc nào cũng ám ảnh, gây lo âu, sợ hãi cho mỗi người.

Trước khi lên đường, tại Hà-nội họ đã được phổ biến một cách đầy đủ về tình hình mọi mặt ở dọc đường. Họ cũng được biết một cách rõ ràng về những khó khăn, những nguy cơ mà họ sẽ gặp. Như ăn uống dọc đường, vấn đề chính yếu là gạo và muối. Có gạo, có muối là không phải lo gì nữa. Nhưng biết thì biết vậy. Việc tổ chức một hệ thống cung cấp gạo, thực phẩm cho các đoàn trên “đường dây ông Cụ” một cách đầy đủ vẫn không sao thực hiện được vào thời đó.

– Lý do thứ nhất, tổ chức cơ sở của mỗi địa phương chưa có, chưa vững.
– Lý do thứ hai, phải giữ bí mật tuyệt đối, nên việc xây dựng hệ thống vận tải, cung cấp theo kiểu “đường mòn Hồ chí Minh” sau này, sẽ thành rùm beng, lớn chuyện, bí mật bị lộ ngay.
– Lý do thứ ba, là do trở ngại của thiên nhiên, rừng sâu, núi thẳm, đồi dốc chập chùng, xa đồng bằng, xa dân, thỉnh thoảng gần một vài buôn Thượng trên quãng đường mấy nghìn cây số, thì có nghĩa gì. Khó tổ chức việc mua bán, dự trữ tại địa phương.
– Lý do thứ tư – lý do chính yếu – là vấn đề nhân sự, không đủ người để làm công việc đó.

Ở chặng đầu tiên, từ Quảng Bình vượt biên giới sang Lào rồi rẽ vào Quảng Trị cho đến Thừa Thiên, đến chỗ tiếp tế gạo phải mất 20 ngày đường liên tục. Tính ra, 7 ngày trên đất Lào, 13 ngày trên đất Việt. Dọc đường toàn rừng núi hoang vu, không gần đồng bào Việt, Thượng hay Lào thì mỗi người phải tự mang theo 20 lít gạo để ăn. Đáng lẽ mỗi người có thể mang nhiều hơn đề phòng khi bệnh hoạn, nghỉ ngơi dọc đường, nhưng đồ đạc quá nặng, cồng kềnh, có gắng lắm, bắt buộc lắm mới phải mang 20 lít. Như vậy, những người phải dừng chân dọc đường vì tai nạn vì bệnh tật sẽ thiếu gạo ăn.

Bạn đồng hành mỗi người có sang sớt cho một nhúm cũng khó thể cung ứng đủ khi nằm lại nhiiều ngày. Chưa nói đến việc trên đường đi, vì vận động sức lực nhiều, nên khẩu phần một lít mỗi ngày ăn không đủ no. Gạo lại đựng trong cái ruột tượng, cứ đổ phỏng chừng, mỗi ngày nhiều hơn nửa lon thì có đi suông sẻ, không nghỉ ngày nào, cũng vẫn thiếu mất 3 – 4 ngày gạo. Để khỏi bị đói hoàn toàn, những ngày sau cùng bắt buộc phải ăn cháo thay cơm.

Và suốt trên đường về Nam, tại những nơi cấp gạo không nơi nào cấp quá tiêu chuẩn một lít mỗi ngày. Vấn đề thiếu gạo ăn là tình trạng phổ biến, đối với hầu hết mọi người.

Khi từ Thừa Thiên vòng qua đất Lào, rồi đổ vào rừng núi Kontum, bắt đầu từ đấy về đến Đồng Nai Thượng việc cấp phát gạo không còn là vấn đề tiêu chuẩn nữa. Gạo rất khó kiếm, anh em đường dây còn phải đào củ rừng ăn thay, thì cơm đâu, gạo đâu cấp cho cán bộ mùa thu ? Suốt cả tháng trường, khi thì củ chụp, lúc củ năng, củ ngãi rừng, có hôm chỉ có đọt kè, lá bép. Thế đã là may, có ngày không có gì cả, cũng phải chịu thất thểu từ trạm này bò sang trạm kế.

Dọc trên quãng đường đi, tùy theo sức khỏe chung của mỗi đoàn, và tình hình đông hay không đông mà về đến khu A sớm hay muộn. Sớm nhất cũng phải 6 tháng và muộn thì cả năm là thường!

Tại trạm đường dây Suối Đá, trạm này thuộc C-113 của khu A, được xem như trạm tiếp thu và cung cấp đầy đủ mọi nhu cầu nhất, sau khi lên đường về Nam. Gạo bao giờ cũng trữ sẵn một cách đầy đủ, lại còn có căng-tin do các tổ tiếp phẩm cung cấp nào trà, rượu, đường, sữa thuốc lá, lạp xưởng, cá mòi hộp, ca-cao, cà-phê v.v… Chỉ có năm 1964, từ tháng ba đến tháng mười, cơ sở thu mua của khu A bị Quốc Gia phá vỡ, chưa gầy dựng lại được, toàn khu A phải chịu đói, ăn mì, ăn củ chụp, củ năng, đọt kè thay gạo. Cán bộ mùa thu về đến đây mới phải chịu đói lây. Còn mọi lúc khác, hầu như cải cảnh ăn bù, “bội thực” là không ngày nào không xảy ra.

Mục đích của họ là về Nam, nên khi vượt qua sông Đồng Nai, đặt chân lên bờ Nam, được anh em giao liên cho biết : “Đây là đất Nam bộ rồi ! Sông này là sông Đồng Nai, bắt đầu từ đây thuộc khu A của “R”, trước kia là chiến khu D”, người nào người nấy mừng không kể xiết. Mừng đến cái độ mất bình tĩnh, nhẩy lên, la hét cười reo om sòm và nói không ngớt miệng.

Có tay “phấn khởi” quá, hứng lên, lôi ngay trong ba-lô ra một vài tặng vật để dành như bút máy Hồng Hà, dao Tiệp khắc, khăn lụa v.v… cho phăng ngay cô giao liên gọi là kỷ niệm. Anh ta thiếu điều chụp ngay cô giao liên thẩy bổng lên trời, hét cho to nó mới vừa với nỗi mừng vui, cảm xúc cao độ của anh ta. Thực có gì mừng bằng, sung sướng bằng cả chục năm trời xa cách quê hương, tưởng đâu không còn bao giờ được trở lại nữa, và trên đường đi có thể mất mạng như chơi, bao nhiêu u uẩn, nhớ thương, đợi chờ… bây giờ lại được bước chân lên mảnh đất đầu tiên Nam bộ, không hứng khởi, xúc cảm sao được ? Thực khó mà diễn tả được cảnh những anh cán bộ mùa thu đặt chân lên đất khu A.

Để tưởng thưởng, động viên tinh thần, tình cảm số cán bộ mùa thu, “R” chỉ thị cho khu A áp dụng một chính sách đặc biệt. Chính sách đặc biệt đó là, kể từ trạm Suối Đá, trạm đầu tiên của khu A cho đến khi về tới “R”, họ được ăn gạo tự do, không tiêu chuẩn ; muốn dừng chân nghỉ ngơi mấy ngày tùy ý; được phép tổ chức săn bắn để bồi dưỡng và căng-tin của trạm phải luôn luôn đầy đủ những thứ cần dùng bồi dưỡng kể trên, chia tự do không hạn chế.

Những anh chàng mùa thu kia đã làm gì ở trạm Suối Đá này ? Trước tiên, anh ta xách cái ruột tượng xẹp lép cả mấy tháng nay đến kho quản lý xúc gạo. Trước khi xúc gạo, anh ta cẩn thận hỏi lại quản lý lần nữa :

– Đồng chí! Từ đây về “R” trạm nào cũng có thể lãnh gạo được chứ, hả đồng chí ?

– Được ! Về đến đây thì mấy đồng chí đừng lo gạo. Vựa gạo mà! Muốn lãnh bao nhiêu người ta cũng cho.

Vậy là anh ta yên tâm, xúc chừng 5 lít thôi. Kế đó, anh ta đến căng-tin chia ngay một lúc hai gói trà Blao, vài hộp sữa, một kí đường, một hộp ca-cao, một kí lạp xưởng, vài hộp cá mòi, vài gói thuốc lá thơm. Coi như mới “hốt xổm” ba mớ, mới chia đợt đầu thôi đấy. Tiền nhà nước phát cho dọc đường có mua gì đâu, bây giờ mới bắt đầu xử dụng đến. “Bi nhiêu” thì “bi”, chả hề gì. “

Anh ta trả tiền cho căng-tin xong, khệ nệ bê hết bấy nhiêu thứ đó về trại khách. Anh ta nhìn mọi người cười hí hửng, vỗ bụng, phát biểu mấy câu với bạn bè đoạn đi tắm cái đã ! Xong xuôi, anh ta mới đổ vào “hăng gô” hơn 1 lít gạo. Không biết nghĩ sao, trù trừ một lúc, anh ta lại đổ thêm vào “hăng gô” kia chừng 1 lít nữa, bắc lên bếp. Anh ta nhìn chung quanh… À! Các bạn đồng hành của anh ta ai cũng giống thế cả.

Anh ta bắt đầu khui hộp cá mòi ra. Chừng anh ta thấy thiếu gì đó, chạy vội vàng đến căng-tin lần nữa. Lần này, anh ta bê về một chai nước mắm thượng hạng, mấy trái chanh, vài trái ớt, một nắm hủ tiếu khô và một lon mỡ nước. Vừa vặn cơm sôi, anh ta gạt lửa ra, xách dao găm rông xuống suối. Chả là anh ta vừa chợt thấy mấy mục măng 1e.

Nấu xong bữa ăn, anh ta lấy nylon trải ra đất, rồi dọn lên nào cá mòi hộp xốt cà với củ hành xào, nào lạp xưởng xào hủ tiếu và món canh măng nấu mỡ, bột ngọt. Mùi thơm phưng phức, bưng cả mũi. Anh ta còn làm nốt cái món nước mắm chanh.

Các bạn anh ta cũng bắt chước làm giống như anh ta, nên khi anh ta há miệng ra mời, thì người ta cũng mời lại. Rốt cục, tất cả các món ăn tập trung lại, nylon trải dài ra, từng nhóm xúm lại ăn.

Bữa cơm đó, xem như bữa cơm ngon nhất, “đã” nhất, lý thú nhất, phi thường nhất trong đời anh ta. Ăn xong, anh ta đứng dậy không muốn nổi. Trông mặt anh ta thật là rạng rỡ, thoải mái, thỏa mãn đến tột cùng. Anh ta cất tiếng phát biểu :

– Quá mạng mấy ông ! Thiệt là bữa cơm phát biểu cảm tưởng hổng nồi ! Trong đời mình, lần đầu tiên “quất ” ráo hai lít gạo trong một bữa ăn.

Đột nhiên, anh ta cao giong, quay một vòng như hát bộ :

– A !Khoái vô cùng “tổ cuốc” ta ơi!

Cái màn “ăn bù” đến đó đâu phải là hết. Anh ta xách “hăng gô” đi rửa, dọn dẹp xong là đến màn nấu nước uống trà. Dân thuộc loại ghiền trà, uống trà có bằng cấp, phải nhịn suốt 7, 8 tháng liền, bây giờ gặp trà Blao thì dù có no nứt bụng, uống xong ngã lăn đùng ra chết, cũng cứ uống. Anh ta xách một hộp sữa đi vào bếp của trạm lột sạch giấy, rửa sạch bụi, anh ta cười ngập ngừng :

– Xin phép đồng chí chị nuôi cho tôi gởi hộp sữa vào nồi nước để luộc. Cảm thông dùm nghe chị nuôi!

Sữa luộc vốn là món thích khẩu. Thịnh hành nhất cho những anh em tập kết ở Miền Bắc. Sữa bỏ vào nồi luộc chừng vài tiếng đồng hồ, để nguội khui ra, sữa đặc cứng như bánh đúc. Mầu sữa ngã vàng sậm. Lấy muỗng múc từ miếng, ăn uống trà đậm thực không có bánh nào ngon bằng. Hình như cũng chưa đủ, anh ta lại đến căng-tin, chia thêm mấy gói kẹo đậu phộng, một mớ kẹo sữa và bánh ngọt. Uống trà mà có “đồ cầm tay” thế này nó mới đủ bộ chứ !

Rồi tiệc trà, ngã ra, kéo dài chả biết đến lúc nào mãn. Bao nhiêu nỗi mệt nhọc đường xa đường như tiêu tán đâu mất hết. Bao nhiêu kỷ niệm cũ, bao nhiêu chuyện dọc đường được đem kể lại, cười ỏm tỏi cả lên. Trong những giờ phút đó họ chỉ là một con người, quên tất cả khung cảnh hiện tại, mọi sự phiền hà, mọi phức tạp của vùng đất chiến tranh.

Nói chung, những anh em cán bộ mùa thu về đến trạm Suối Đá người nào cũng mừng vô hạn. Họ xem như nguyện ước được trở về quê hương trước kia đã trọn vẹn rồi, dù rằng còn phải đi mười mấy ngày đường nữa mới về đến Trạm B-40, trạm cuối cùng trên “đường dây ông Cụ”. Trong cái vui mừng phấn khởi, qua mấy ngày nghỉ ngơi thỏa mãn tại Suối Đá, họ nhắc lại những chuyện vui buồn xảy ra trên đường đi, những chuyện của chính họ, đoàn họ mà còn cả những đoàn đi trước.

Có những chuyện mà đoàn nào khi về đến Suối Đá cũng được nghe nhắc lại, lâu ngày thành những giai thoại, những sự kiện điển hình khó quên.

Chuyện thứ nhất là chuyện cái chết thương tâm của một anh chàng trung sĩ trên con dốc nhỏ ở biên thùy Kontum – Attapeu. Vì chỉ là một trung sĩ quèn nên không ai còn nhớ đến anh ta tên gì nữa. Và cho đến bây giờ, không hiểu Phòng Cán bộ Cục Chính trị “R” có lưu ý mà gởi thư báo tin, cũng như những kỷ vật của kẻ bất hạnh về cho gia đình biết hay chưa ?

Đó là một ngày mưa, tháng 8 năm 1961. Đoàn anh ta cũng đi chỉ có hơn 50 người. Kể về cấp bậc thì anh ta thuộc loại “tép riu”, nhỏ nhất. Đáng lẽ thời kỳ đó, anh ta chưa được về đâu, nhưng vì nhớ nhà quá không chịu nổi. Một hôm anh ta đánh bạo đón đầu xe Com-măng-ca của Sư trưởng sư đoàn 338 (sư đoàn của anh ta) ở trước cổng doanh trại. Thiếu tướng Tô Ký, sư trưởng kiêm Chính ủy sư đoàn 338, đang lái xe thắng gấp, nhoài đầu ra ngoài :

– Mày cũng đi Hà-nội hả ? Leo lên! Leo lên !

Thì ra Tô Ký tưởng lính nó muốn quá giang đi Hà-nội. Bởi thường thường, mỗi khi thứ Bảy, Chủ nhật đi Hà-nội hoặc từ Hà-nội về, gặp lính mình đang đi bộ phất phơ ngoài đường là y như Tô Ký ngừng xe lại bắt lính leo lên để chở đi. Bao nhiêu cũng chở. Lính không lên cũng không được. Ông ta hét om sòm :

– Leo lên tụi bây! Xe nhà nước cấp để chở lính.. Bây gặp là cứ nhào lên.

Xe chở đến nỗi, đeo bít cả cản trước, cản sau, vè, hông chỗ nào cũng lúc nhúc những lính, không thấy đường để lái nữa. Chạy được một quãng, gặp tốp lính khác thì ông ta lại đuổi đám lính trên xe:

– Xuống ! Xuống! Xuống bây ! Bây đi nãy giờ rồi, xuống! Còn mấy thằng dưới đường leo lên ! Leo lên mau !

Tướng Tô Ký thì như vậy đó. Lính nó khoái ông ta ở cái chỗ bình dân, thương lính và chịu chơi đó! Lần này ông ta cũng tưởng lính nó muốn quá giang đi Hà-nội. Nhưng không !

– Báo cáo anh Ba, em không đi Hà-nội!

Là tướng nhưng Tô Ký không cho lính của mình gọi là tướng, cũng không cho gọi là Thủ trưởng, và tiếng đồng chí lại không ưa, chỉ thích lính gọi mình là anh Ba cho nó thân mật. Nghe anh kia trả lời, Tô Ký nổi nóng :

– Không đi sao dám đón đầu xe tao, dang ra!

– Thưa anh Ba, em muốn xin anh ba cho em về Nam!

– A !A! Cái thằng! Thôi được! Ê! Lính hổng có khóc mày! Đâu, lại đây coi. Ừ! Lên xe luôn tao chở đi Hà-nội. Vừa đi vừa nói chuyện cũng được.

– Thưa anh Ba, em chưa báo cáo xin phép Đại đội.

– Tao cho phép ! Tao hổng hơn thằng đại đội của mày à ? Leo lên!

Nhờ vào lần đó, anh ta được Tô Ký thu xếp cho về Nam. Anh ta ốm yếu, nhỏ con nhưng để cho mọi người thấy mình xung phong gương mẫu nên anh ta lãnh vác cây trung liên, ngoài những trang bị cá nhân bắt buộc khác. Nhờ dẻo dai, chịu đựng cực nhọc quen nên trên đường đi anh ta ráng chịu đựng được. Khi đến biên thùy Attapeu – Kontum, đoàn đi đã phải ăn cháo thay cơm hai ngày rồi. Từ sáng sớm, anh ta cất bước không muốn nổi, nghỉ lại trạm thì không được, mà đi thì… làm sao đây ? Anh em báo cáo với chính trị viên đoàn, nhờ giải quyết điều đình giao liên hay anh em khác mang hộ cây trung liên. Chính trị viên hỏi mọi người, ai cũng làm thinh. Động viên chính trị một hồi vẫn không kết quả. Chính trị viên bảo anh ta :

– Thôi thì ráng mà mang vậy. Ai cũng đuối hết cả rồi. Tại sao trước kia đồng chí không liệu sức mình, để bây giờ gây khó khăn cho người khác ? Thôi, mang đi, đừng kêu ca, thắc mắc gì hết !

Mưa bắt đầu từ khuya, kéo dài đến sáng không dứt hột. Đoàn lên đường trong cơn mưa. Thực không ai hiểu được tâm trạng cũng như những ý nghĩ của anh chàng Trung sĩ đó ra sao trong cái cảnh gần như tuyệt vọng. Đi thì không còn sức. Ở lại cũng không được. Cây trung liên nặng những mười mấy kí, giờ phút này đối với anh ta nó có giá trị hàng trăm kí là ít. Vũ khí là “người “, là sinh mạng. Chiến sĩ chỉ có thể rời vũ khí, mất vũ khí khi mình đã hy sinh.

Suốt 2 giờ khởi hành đầu tiên, trong tấm nylon choàng, che mưa phủ ngoài, anh ta vẫn thất thểu bước theo đoàn. Đường trơn, anh ta té mấy lần, đau lắm nhưng cũng gượng đứng đậy, tiếp tục hành trình. Giờ thứ ba, đến con dốc nhỏ, độ ngưỡng không cao gì lắm, lên gần đến đỉnh thì mọi người đột nhiên thấy anh ta rũ xuóng như một cái áo, bất động. Người đi sau gọi anh ta không trả lời. Hỏi có sao không, anh ta vẫn làm thinh. Tốc nylon che mưa ra thì thấy anh ta trong tư thế nằm nghiêng, chân co, chân duỗi. Đầu ngoẹo về một bên. Cây trung liên lật ngang, nằm trên ngực. Mặt anh ta nhăn nhó dường đau đớn lắm. Hai mắt nhắm nghiền, hai dòng nước mắt nóng hổi trào ra bên khóe. Miệng anh ta còn mấp máy như muốn nói điều gì. Sau này khi kể chuyện lại cho những người khác nghe ở trạm Suối Đá, một anh em trong đoàn đó ngậm ngùi bảo :

– Không biết do tưởng tượng hay do phản ứng của tiềm thức chủ quan mình, mình dường như nghe nói rõ ràng “Má ơi, con về đây ! “.

Thế là một cuộc cấp cứu, hô hấp nhân tạo diễn ra. Mấy anh em y sĩ đi trong đoàn tiêm ngay 2 phát solucamphre, xoa dầu nóng, áp dụng phương pháp Howard rồi “miệng miệng” vẫn không ăn thua, vội bộc lộ động mạch cổ tay áp dụng thủ thuật truyền máu ngược dòng có pha lẫn Ouabaine – thủ thuật được xem là tân tiến nhất.

Rốt cuộc, tim anh ta hoàn toàn ngưng đập. Ngưng đập ngay ở cái phút đầu tiên vừa ngã xuống.

Suốt ngày hôm đó và cả đến những ngày hôm sau nữa, cả đoàn lặng lẽ đi như những bóng ma không một tiếng nói chuyện, không một tiếng cười. Người ta sợ phải nhắc đến cái hình ảnh thương tâm đó. Đáng lẽ, thông thường theo nguyên tắc , phải có một cuộc ” kiểm thảo tử vong “, một cuộc họp chi bộ bất thường. Nhưng người ta sợ động đến người đã chết, sợ động đến những vấn đề phức tạp không có lợi nhiều mặt, nên thôi. Dù sao, có rút kinh nghiệm, có tự kiểm thảo, có gì đi nữa, bạn đồng đội cũng chết rồi.

Chuyện thứ hai, thường được nhắc đến là chuyện cái chết lãng nhách, đáng trách nhưng cũng đáng thương của một anh chàng dược sĩ. Anh chàng dược sĩ này chết vì ăn khoai mì sống. Suốt cả quãng đường dài từ Bắc vào Nam, đói lên, đói xuống, nặng nhọc vất vả, nguy hiểm dọc đường chả làm sao. Về đến khu 6, bên kia sông Đồng Nai, chỗ đồi trực nhằm gần bên một rẫy khoai mì của đồng bào Thượng, anh chàng dược sĩ đang tựa lưng vào gốc cây thở dốc, bỗng thấy có mấy đồng bào Thượng mang gùi khoai mì vừa đào lổn nhổn ở sau vai. Mắt anh ta sáng rỡ. Chả là anh ta bị đói mấy hôm nay, nên lên tiếng hỏi:

– Khoai mì đó đồng bào có bán không?-

Một người Thượng trả lời :

– Không ! Đồng bào không bán.

Quýnh quá, sợ người ta đi mất, anh ta cởi phăng chiếc nhẫn vàng trên tay ra :

– Thế đồng bào có đổi cái này không? Vàng nè, đổi không ?

Lại đến phiên ba đồng bào Thượng mắt sáng rỡ, nhìn chằm chằm vào chiếc nhẫn rồi nhìn nhau, trao đổi ý kiến ngầm. Ba chư vị không hẹn cùng dừng chân một lượt:

– Đổi! Thằng cán bộ nói thật không ?

– Ừ!

Một cuộc đổi chác rất nhanh. Ba chư vị Thượng hè nhau đổ hết ba gùi khoai mì xưống đường thành một đống, chớp chiếc nhẫn, dông mất. Dược sĩ nhà ta tươi rói, cười hỉ hả, gọi ngay các đồng đội tới để chia đống khoai mì, ăn một bữa cho đã. Phải chi anh ta là một anh dốt về khoa học, không thông hiểu dược tính thảo mộc, không biết khoai mì có những chất gì thì không nói, đàng này anh ta biết rất rõ, biết nhiều hơn ai hết. Khoai mì, nhất là trong vỏ khoai mì sống, mủ của nó là một chất a-xít rất độc. Vậy mà anh ta a thần phù cạp đại, chẳng cần nấu nướng gì cả. Miệng mồm dính đất tèm lem, ăn một cách rất ngon lành, vội vã, không băn khoăn chẳng cần suy tính. Anh ta ăn một lèo đến no nóc.

Đến chừng giao liên bàn giao đổi trực xong, bắt đầu lên đường anh ta đứng dậy mới thấy bụng âm ỉ đau, mắt lại hoa lên, chóng mặt một cách lạ thường. Cả đoàn phải đình bộ, cho gọi y sĩ phụ trách đoàn ở sau tới. Chừng đó anh ta mới sực nhớ đến độc tính của khoai mì sống, anh la lên :

– Chết cha rồi! Tôi bị ngộ độc khoai mì rồi !

Anh ta cho tay vào cổ họng chọc để nôn ra. Mặt khác, y sĩ tiêm thêm một ống thưốc “nôn” bằng chất Atropine, và một số thuốc cấp cứu khác, chẳng đi đến đâu cả. Chỉ vài phút sau, anh dược sĩ đang mạnh như thần, tươi soi sói, cười nhộn như quỷ phá nhà chay, toàn thân giật lên mấy cái, trợn ngược, rồi nhắm mắt buông xuôi về bên kia thế giới một cách vội vã, ngon lành, chả kịp từ giã, nói với ai một lời nào, chỉ vì mấy củ khoai mì sống.

Thật là một cái chết kỳ quặc và lãng nhách, lãng òm, phi lý nhất trong những cái chết lãng khác ở thế gian. Đó cũng là một trường hợp điển hình đáng suy gẫm cho những ai làm công tác y khoa và thích ăn khoai mì sống.

Có những cái chết được tuyên dương công trạng, được mọi người thương tiếc. Cũng có những cái chết mà, theo lý luận “Cách mạng” phải đào mồ cái thằng chết lên, dựng xác nó dậy để cảnh cáo, khai trừ xong mới cho phép nó chết, mới được chôn lại vĩnh viễn lần thứ hai. Bởi vì nó chết mà còn hại những thằng sống khác tức tối và nhất là cứ phải đem ra học tập đi, học tập lại về cái chết của nó.

Chuyện thứ ba là một chuyện “ba gai” ngoại khổ do những tay ít ra cũng thuộc loại thượng thừa trong làng biết chơi và dám chịu chơi. Số là, bất kỳ anh cán bộ mùa thu nào về đến trạm Suối Đá đều có quyền nghỉ xả hơi, lấy sức hoặc nếu có bệnh thì cứ đến nằm điều trị ăn vạ với mấy cô em y tá, cứu thương ở bệnh viện G2 hay G3 của khu A. Nhưng thông thường, ai cũng vậy, có nghỉ ngơi nhiều lắm thì cũng 5 -10 hôm là cùng. Rồi lên đường về “R”. Có nằm bệnh viện, khỏi bệnh, kha khá là ra viện để lên đường đi nốt chặng cuối.

Có nghỉ ngơi, có chơi gì ở khu A cũng chỉ là ở giữa rừng già, hứng thú gì !Từ Bắc về, trăm người như một đều ao ước được sống chung với đồng bào, được nhìn ngắm cái sinh hoạt của nhân dân trong thôn xóm với vườn cây ăn trái, với đồng ruộng mênh mông, với tất cả đặc điểm của miền quê Nam bộ. Rừng chỉ toàn cây hoang vu, buồn tênh, kham khổ thiếu thốn. Thêm nữa, ai cũng nóng ruột về đến “R”, xem “R” sẽ phân công làm công tác gì, ở đâu. Khoái nhất là được về các tỉnh miền Trung, miền Tây Nam bộ, được sống gần những cô em nổi tiếng là đẹp của đất Miền Nam, “đời nó mới tươi”. Càng về “R” sớm càng hy vọng kiếm chỗ tốt, cứ la cà mãi, mấy thằng về trước nó chiếm hết làm sao.

Điểm quan trọng nhất của chuyến về Nam là sẽ gặp lại gia đình, nếu nhận công tác sớm. Đã vậy “người ta” sẽ không ghi vào lý lịch mình là “thiếu tính tích cực cách mạng, còn tự do cá nhân, còn thích hưởng thụ, hưởng lạc, lập trường giai cấp yếu”. Bị nhận xét như thế, biết bao giờ mới ngóc đầu lên nổi.

Đại đa số cán bộ mùa thu đều nghĩ như thế. Nhưng năm 1962, có hai tay chịu chơi, cấp bậc đều thượng úy như nhau, lại là “bạn thân chí cốt” từ thời 9 năm chống Pháp, về đến Suối Đá, ở chơi ăn hút hơn một tuần cũng chưa đi. Một hôm, tình cờ gặp lại bạn bè cũ đang công tác ở khu A, vai vế cũng hàng lãnh đạo. Anh em tay bắt, mặt mừng, nhậu nhẹt với nhau một chầu mới phát biểu ý kiến:

– Hôm nay tụi này tuy được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cũng tương đối nhưng hãy còn thèm đủ thứ. Muốn được đã đời một bữa cho bõ cái thời gian đói khát, vất vả suốt mười tháng trời trên đường đi. Tại trạm này, lẩn quẩn cũng chỉ toàn sữa, lạp xưởng, cá mòi, chán quá ! Phải có chất tươi kìa! Tụi này mỗi đứa còn hơn ngàn bạc, muốn thủ tiêu hết cho rồi. Ông là thổ địa mà cũng là anh chị bự có uy quyền ở cái đất này, đâu ông tính giúp, ban phúc cho tụi này thỏa mãn một lần coi!

– Tưởng gì! Dễ thôi ! Này, mai theo mình về văn phòng ở chơi vài bữa rồi mình cho mấy thằng bảo vệ dẫn mấy ông qua sông Bé lên Đất Cuốc tha hồ tung hoành lục tặc.

Vậy là “hai ông chịu chơi” báo với Trưởng trạm, cho gởi một ít đồ đạc, đến U-50 thăm bạn, độ tuần lễ sẽ trở lại, theo đường dây về “R”. Trưởng trạm chỉ biết ừ chứ đâu có quyền gì. Hai ông đến U-50, rồi một cậu lính bảo vệ đưa qua Đất Cuốc. Dạo ấy tiền còn cao giá, nên với hơn hai nghìn bạc cũng là to, có thể “đớp hít” đã đời được.

Hai chư vị được anh bảo vệ dẫn đến một nhà của đồng bào ở cheo leo, cuối xóm Đất Cuốc, cạnh rừng nhờ chủ nhà thu xếp cho một bữa nhậu. Hỏi chó, chó không còn, hỏi gà, gà không có chưa biết tính sao. Sau cùng hai tay mới ” thống nhất” với nhau là không có gà thì heo, mà phải là heo quay, bánh hỏi, bánh bò, rau sống, lave, ba xi đế, đủ thứ mới được. Dò giá sinh hoạt địa phương biết heo ba ngàn một tạ, hai chư vị mới góp ý kiến với chủ nhà :

– Nhờ chị khuya nay quá giang xe bò ra chợ Bình Mỹ mua dùm tụi này chừng một trăm đồng bánh hỏi, chừng 50đ bánh bò, một chai rượu Anis, chừng chục chai bia, rồi rau sống, nói chung đủ lễ bộ của nó. Ngoài ra chị muốn thêm gì thì mua như cà phê, cà pháo, đường, sữa gì, tùy chị. Tụi này đưa sáu trăm. Còn anh, thì nhờ anh hỏi mua dùm một con heo lưa lứa 3, 4 chục kí. Nghĩa là đủ để nhâm nhi vài ngày.

– Chà ! Bộ mấy anh mua đồ ăn về đơn vị để về chúc liên hoan chắc ?

– Không ! Có liên hoan gì đâu ! Mình tổ chức nhậu ở đây chơi mà ? Nhậu tại nhà anh nè !

– Trời đất ! Có hai ba người mà ăn cái gì dữ thần vậy?

– Ậy! Lâu lâu một lần mà ! Anh chị cứ mua dùm tụi này đi, tém sạch cho coi.

Trong khi chị vợ đi chợ, anh chồng đi mua heo, thì ở nhà hai chư vị với anh bảo vệ hè nhau đi đào đất xây cái lò quay. Anh chồng đi kiếm heo về, thấy mấy thầy trò hè hụi đắp lò chỉ còn nước bò lăn mà cười và đâm “nể” thật sự. Anh ta cho biết không có heo nhỏ, chỉ có heo lớn cở 60 kí trở lên. Hai chư vị trả lời cứ mua nhưng khi xem lại tiền chỉ còn khoảng 1 ngàn rưỡi, không đủ. Hai chư vị nhìn nhau một hồi, bỗng một chư vị chạy vào nhà, xốc xổ ba-lô ra một tấm lắc vàng nửa lượng, đồ kỷ niệm của vợ chưa cưới cho lúc tập kết 1954.

– Nè, anh coi! Tôi cũng chơi hết mình! Tấm lắc này của vị hôn thê tặng làm kỷ niệm. Nửa lượng đó. Anh làm sao đổi được con heo thì làm. Anh trọn quyền.

Anh chủ nhà đứng chết trân. Rồi một con heo sáu chục kí định giá một ngàn tám trăm đồng, được khiêng về. Màn làm heo quay bắt đầu. Cả ba cởi trần hì hục mãi đến ba giờ chiều mới xong. Con heo chỗ thì cháy, chỗ thì nám, chỗ còn trắng tươi, chỗ ám khói mốc cời. Chị vợ đi chợ cũng vừa về tới.

Như vậy coi như hai chư vị hè nhau ăn một con heo cho nó thỏa mãn, cho nó đã đời để bù với những ngày đói khát, vừa sức với cái thèm thuồng và chịu chơi. Tất cả rượu thịt, lễ bộ bày ra chẳng khác một cái tiệc đủ để cho mấy chục người ăn. Nếu có thiếu cho mấy chục người ăn đó, chỉ thiếu rượu chứ không thiếu gì cả. Hai chư vị hả dạ về cái chịu chơi, tự phục mình không để vào đâu cho hết. Vừa ăn vừa nhậu, vừa rung đùi, phè phỡn hết sức.

Bữa tiệc đó kéo dài đến 5 giờ hơn, chỉ có 3 ngoe với 2 vợ chồng chủ nhà. Trông người nào cũng mèm, lè nhè vì say. Bất đồ có một trung đội biệt động quân xuất hiện chỗ ngõ quanh, cách nhà hơn trăm thước. Chị chủ nhà nói không ra tiếng. Đến chừng mấy chư vị ngoảnh ra thì… tá hỏa lên, mất hết cả lè nhè, ba chân bốn cẳng chụp đại ba-lô, thắt lưng, súng ống phóng đại ra rừng bỏ lại cả áo, nón và đôi dép râu lót đít ngồi nhậu. Anh em biệt động quân nhìn thấy liền xả súng bắn đuổi theo. Thực một phen thừa chết thiếu sống. Cũng may chả ai sao cả. Ba thầy trò càn rừng, trầy mình, trầy mẫy, gai đâm đầy chân, thất thểu lang thang lội qua sông Bé. Tưởng sao, lội qua sông rồi, lại cười om lên và cứ chép miệng tiếc mãi mấy miếng sườn heo vàng hực với chai Anis hãy còn đầy. Bây giờ, “tụi nó” tém sạch hết, còn mốc khô gì !

Câu chuyện vỡ lỡ ra, toàn khu vực “R” đều biết. Cục Chính trị được báo cáo, tức tốc đánh điện ra lịnh cho khu A “hộ tống” hai anh chàng về trình diện gấp tại “R”. Kết quả, năm đó toàn khu vực “R” được học tài liệu chỉnh huấn, trong những sự kiện điển hình về ba gai, vô kỷ luật, thiếu lập trường cách mạng, có sự kiện của 2 anh chàng mùa thu được Đảng cho đi vào “lịch sử”. Bất kỳ đoàn nào về khu A, y như được kể sốt dẽo, “điểm tâm” cho nghe chuyện này để học tập, để làm gương.

Chuyện thứ tư là chuyện anh Đặng văn Nhường, em của bác sĩ Đặng văn Chung. Đặng văn Chung là một bác sĩ chuyên về nội khoa, được giới y học miền Bắc kính nể, tôn lên hàng “sư tổ”, đứng đầu danh sách toàn miền Bắc về khoa nội. Có thể nói, ngoài việc đảm nhiệm những chức vụ điều khiển, huấn luyện, trong phạm vi điều trị về Nội khoa chỉ với hai tay và cái ống nghe, Đặng văn Chung có thể xác định đúng chứng bệnh, nơi bị bệnh và đánh giá đúng tình hình thương tổn của nó, những cái mà dùng quang tuyến X, dùng đủ mỗi cách hóa nghiệm, nhiều khi dùng cả phương pháp làm sinh thiết (Biopsie) cũng chỉ thế mà thôi.

Những sách của Đặng văn Chung viết ra được xem là tài liệu để huấn luyện cho các trường y khoa Trung – Cao cấp. Mỗi lần “tay tổ” Tôn thất Tùng ra tay mò những trường hợp khó nhất về tim hay gan là y như phải mời cho được Đặng văn Chung đến hội chẩn. Đặng văn Chung chưa đến là Tôn thất Tùng chưa chịu ra tay. Và tất cả những cuộc hội chẩn quan trọng dù ở bệnh viện Bạch Mai, Phủ Doãn, Việt Xô hay Việt Đức về phía Dân y, hoặc Bệnh viện 103 hay bệnh viện 108 về phía Quân y, Đặng văn Chung bao giờ cũng được mời đến và được xem là một trong những ý kiến tối hậu quyết định.

Phải nhắc đến Đặng văn Chung vì Đặng văn Nhường là em ruột Đặng văn Chung. Chính vì chỗ đó, người ta mới “đặt thành vấn đề”. Chung và Nhường là người sinh quán ở Sàigòn, trước kia hai anh em đều đi học ở Pháp. Chung học về y khoa, còn Nhường thì học về kinh tế học. Trong thời kháng chiến chống Pháp, Nhường cùng với Đốc phủ sứ Phan văn Chương đặc trách Ban Kinh tài của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Tập kết ra Bắc, Nhường được đưa đến công tác ở Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế Nhà Nước rồi là một cán bộ cao cấp của Vụ Ngoại thương, có nhiệm vụ đại diện cho Hà-nội đi nghiên cứu về ngoại thương cũng như kế hoạch xuất cảng ở 12 nước xã hội chủ nghĩa. Qua hết giai đoạn 1 của việc hồi kết cán bộ mùa Thu, Nhường xin mãi nhưng người ta không cho Nhường về. Đến gần cuối giai đoạn 2 tức đầu năm 1965 Nhường mới được lệnh trở về Nam.

Khi một Ủy viên Trung Ương Đảng loan báo quyết định này cho Nhường biết thì có nêu một đề nghị nước đôi:

– Trung ương đề nghị anh suy nghĩ kỹ và xét lại lần nữa trong việc trở về Nam công tác. Dĩ nhiên Trung Ương rất hoan hô tinh thần cách mạng tích cực của anh, công nhận nguyện vọng của anh là hợp tình hợp lý và rất chính đáng. Nhưng ở trường hợp anh, một là anh lớn tuổi, sức khỏe sợ không chịu đựng nổi cuộc hành trình đi bộ như những anh em khác. Trung Uơng cũng nghĩ đến những phương tiện đặc biệt nhưng nó nhiều trở ngại và thiếu bảo đảm nên nếu về Nam chắc anh phải đi bộ. Hai là khả năng và cương vị công tác của anh ở Vụ Ngoại thương là một sự cần thiết không thể chối cãi được. Như vậy, tùy anh, suy xét lại và quyết định.

Xuyên qua ý kiến đó, Nhường biết chẳng qua một sự “làm dáng”, một cung cách ngoại giao, một sự xoa dịu tự ái, một thủ đoạn về chính trị. Ngày trước, từ 1964 trở về trước, nếu được nghe ý kiến này, có lẽ Nhường thấy sung sướng và công nhận ngay vì sự có mặt của Nhường là một cần thiết thực. Bây giờ, đã có người khác thay chân rồi, người ta đẩy Nhường ra cái chức cố vấn hờ, có nghĩa gì. Dù sao, cũng được liệt vào hàng cán bộ cao cấp, chả lẽ để Nhường về Nam bằng cách lội bộ trong khi những cán bộ Trung cấp khác được hưởng những phương tiện đặc biệt. Không “mầu mè”, không một tiếng nói “lấy lòng” thì nó hóa ra tệ bạc làm sao?

Một tuần sau, Nhường vui vẻ trả lời là anh ta nhất định đi bộ để về Nam. Là một công chức cao cấp ngành Ngoại thương, lương của Nhường đã to ,lại có rất nhiều bạn ngoại quốc các tùy viên thương mại ỏ các sứ quán, cũng như những phái đoàn kinh tế các nước bạn. Nhường thạo 4 thứ tiếng ngoại ngữ. Được mời tiệc tùng, tiếp tân luôn. Nhường có một đời sống vật chất khá thoải mái, đầy đủ. Nhờ vậy, Nhường rất mập, bụng lại phệ, nặng chừng 76 ký, chứng tỏ Nhường có một sức khỏe đáng kể. Nhường không sợ một cuộc lội bộ, không sợ thua những cậu còn trai tráng dù Nhường đã ở tuổi năm mươi.

Những tưởng với sức khỏe ” nặng cân ” ấy, Nhường cũng chả đến nỗi nào, nhưng khi lội bộ vào đến Quảng Trị thì Nhường nằm mẹp tại đây có đến 10 hôm. Đoàn của Nhường đi mất tự bao giờ. Cả hai đoàn lên đường sau Nhường họ cũng đã đi qua. Tháp tùng vào đoàn sau đó, Nhường đi đến Kontum lại nằm mẹp lần nữa. Một cơn sốt rét dữ dội cho Nhường đo ván liệt giường kéo dài 20 hôm. Nhường chỉ còn da bọc xương, xanh ngắt như tàu lá. Người đã cao, giờ càng thấy cao hơn, lêu nghêu gầy gò như cây tre miểu. Thực là một sự trái ngược khi thấy Nhường mang cái đầu rất to, trán sói cao, tóc rụng gần hết được gắn trên cái cổ bé gầy, lắc lư như gắng gượng, không chịu nổi sức nặng của nó. Nhường bắt đầu liệng hết đồ đạc cồng kềnh, ngay cả súng ngắn của Nhường, Nhường cũng cho mấy cậu giao liên ở Trạm “xài chơi”. Nhường giữ lại mấy bộ đồ, cái ba-lô, một bình ton (bidon), cái “hăng gô” để nấu cơm và mùng, nylon nóc, nylon choàng, võng, tấm đắp là những thứ không thể bỏ được. Cũng may, thời kỳ Nhường về, vấn đề gạo ở đường đây được cải thiện khá nhiều, nên Nhường quyết định đi đến đâu xin gạo đến đấy chứ không lãnh, mang theo dự phòng như trước nữa.

Hôm lên đường, Nhường đến gặp Ban chỉ huy Đoàn vừa đến tối qua, tự giới thiệu và trình bày hoàn cảnh mình, mong được giúp đỡ. Cảm thương hoàn cảnh bệnh hoạn, già nua tuổi tác của Nhường, mấy anh em trẻ hứa sẽ mang hết đồ đạc cho, chỉ chừa lại cho Nhường cái bình ton để uống nước và cây gậy. Nhường lại lên đường, chỉ mang cái bình ton mà tưởng chừng như mang khối đất, loạng choạng, thở dốc chẳng ra hơi. Trạm kế đó, Nhường lại nghỉ, rồi lại đi. Cứ như thế, về đến Suối Đá, tính ra Nhường đã đi tám tháng trời. Và nhân xuống căng-tin mua thực phẩm, thấy có cân bàn, Nhường vào cân thử thì thấy mình chỉ còn năm mươi hai ký lô, nghĩa là đoạn đường Nam Bắc đã nuốt chửng của Nhường hết 24 ký thịt.

Cái chuyện ông già về Nam mất 24 ký thịt, chả mấy chốc loan truyền ra, mọi người đều biết. Người ta, ai cũng xem đó là một chuyện phi thường, một cố gắng chưa từng thấy. Nhưng người ta không biết người đó là ai, nhờ đâu mà còn về được đến Miền Nam và người đó đã nghĩ gì. Những cán bộ lớn tuổi từ 50 trở lên ; có lẽ Nhường là người đầu tiên đã theo đường bộ, về đến Suối Đá. Vì những cán bộ lớn tuổi thuộc loại lèm nhèm thì có ai được phép về đâu ? Sức yếu làm sao đi nổi ? Còn những người về được đều là hạng người tai to mặt lớn, mà tai to mặt lớn, Đảng bao giờ cũng chiếu cố cho họ đi bằng phương tiện đặc biệt : “cỡi sóng, cỡi gió hoặc cỡi ngựa”. Như vậy, ai cũng được hưởng, trừ Nhường.

Người ta, theo lối quen và cách “suy nghĩ đúng đường lối Đảng”, cho đó là nhờ tinh thần tích cực cách mạng, nhờ Đảng uốn nắn, có một lập trường giai cấp vững chắc, nhờ trung với Đảng hiếu với dân, nhờ lòng căm thù cao độ.

Qua bốn chuyện, bốn trường hợp khác nhau, 4 sự kiện được xem như là những giai thoại trong hàng chục giai thoại khác về cán bộ mùa thu, lưu truyền ở cửa miệng mọi người trong chiến khu. Gác sang bên khía cạnh gian khổ, khía cạnh chính trị, ta nhận thấy ngay rằng tình cảm và đạo lý của con người không một ai có thể chối bỏ được. Khi mà dòng máu còn luân chuyển theo nhịp đập của trái tim thì những ai muốn biến họ thành một vật khác cũng là khó vô cùng. Người ta có thể ngụy luận cho cái đẹp của những giai thoại trên xuất phát từ tình cảm cách mạng, không phải thứ tình cảm thiêng liêng của con người thì quả là ngược ngạo. Nhưng người ta có quyền, một thứ quyền lực tuyệt đối, bất khả xâm phạm, ai xâm phạm vào là chết thì cũng đành nhận là tình cảm cách mạng, biết sao!

***

Khi về đến “R”, tức trạm B-40 ở Trảng Dài, số phận của mỗi cán bộ, còn chờ Bộ Chỉ huy “R” quyết định. Trước tiên, trưởng trạm thông báo cho đoàn để đoàn phổ biến lại cho mọi người biết, đến đây là trạm cuối cùng, hãy lo tắm giặt, phơi phóng nghỉ ngơi vài hôm, chờ quyết định của Bộ Chỉ huy.

Trạm B-40 báo cáo về B-1, tức Cục Tham mưu danh sách hiện tại của đoàn vừa đến (số hiệu của đoàn cũng như số người). B-1 lại báo ngay cho Phòng Cán Bộ Cục Chính trị hay nói khác đi đại diện của Quan ủy Miền phụ trách về tiếp nhận cán bộ mùa thu, văn phòng ở gần đấy biết. Đại diện của Quân ủy Miền đặc phái 1 hoặc 2 cán bộ cỡi xe đạp đến B-40 ngay tức khắc để tiếp xúc với Ban Chỉ huy đoàn, hướng dẫn làm báo cáo, mọi thủ thục cần thiết khác như : danh sách đoàn có phân loại tổng quát, lý lịch của mỗi cá nhân, giấy giới thiệu của Trung ương, báo cáo nhận xét toàn bộ chuyến đi của đoàn. Kế đó, cán bộ này tham dự cuộc kiểm thảo toàn đoàn, ghi chép mọi vấn đề xảy ra trong nội bộ, trả lời những thắc mắc, đề nghị về sinh hoạt, ăn uống và phổ biến tình hình tổng quát. Cán bộ này về trình lại Quân ủy Miền tất cả hồ sơ trên để Quân ủy Miền nghiên cứu.

Hồ sơ của mỗi đoàn gồm có hai loại : Hồ sơ đoàn và Hồ sơ cá nhân. Hồ sơ đoàn có :

– một bản báo cáo chung về tình hình nội bộ của đoàn trên đường đi kèm theo nhận xét, phân tích và đề nghị của ban chỉ huy đoàn,
– một biên bản hội nghị toàn đoàn,
– một biên bản hội nghị chi bộ,
– một bản danh sách chung toàn đoàn lúc lên đường ở miền Bắc, có ghi rõ cấp bậc, chức vụ, tuổi tác, ngành chuyên môn, đoàn thể, tôn giáo, quê quán, thành phần giai cấp v.v…,
– một bản danh sách của những người có mặt và những người rơi rớt, vắng mặt còn ở phía sau có ghi rõ lý do.

Hồ sơ cá nhân thì chỉ có bản lý lịch và bản tự kiểm.

Bản lý lịch mang theo từ Miền Bắc có Ban chỉ huy đoàn duyệt lại, xác nhận và ghi nhận xét. Bản tự kiểm là bản tự kiểm thảo mình về những vấn đề căn bản như ·

1/Tư tưởng
2/Đoàn kết
3/Công tác
4/Kỷ luật
5/ Nguyện vọng.

Về tư tưởng, tự nêu lên những tư tưởng, ý nghĩ gì đã điễn biến trong thời gian đi đường : an tâm, phấn khởi hay chán nản, bi quan, ngại khó, ngại khổ, không an tâm, v.v…

Đoàn kết gồm đoàn kết nội bộ, đối với quần chúng và nhân đân. Trong thời gian qua có gây gổ hoặc làm “mất đoàn kết” vì cá tính, vì thái độ đối xử hoặc có thương yêu, giúp đỡ đồng đội không. các đồng chí chung quanh, quần chúng, nhân dân có thương mến có cảm tình với mình không, phải ghi tất cả những vấn đề đó vào mục này.

Về công tác, công tác chính trong thời gian này là đi đường. Kiểm điểm lại xem có cố gắng, xung phong gương mẫu, đảm nhận những việc khó khăn hay như thế nào, phải thành thật nêu lên.

Kỷ luật, đã có phạm khuyết điểm lớn nào hoặc bị cảnh cáo, cả “kỷ luật tính ” trong con người mình, có được tích cực bảo vệ hay tôn trọng triệt để không ?

Tất cả 4 điểm trên, tự mỗi người phải soát, phải kiểm điểm lại một cách đầy đủ, tự mình phân tích, nhận xét từng ưu khuyết điểm một.

Sau cùng là nguyện vọng. Nói đến nguyện vọng là đủ thứ ý muốn của mỗi người về vấn đề công tác ở nơi nào, xin liên lạc gia đình, xin thỏa mãn một vấn đề nào khác v.v… Cán bộ mùa thu nào khi về đến trạm B-40, có thể nhận công tác mới trong vòng nửa tháng thì không phải đi đâu cả, ở lại trạm B-40. Phòng cán bộ tiếp xúc từng cán bộ và làm giấy giới thiệu, đưa cán bộ đến tận đơn vị sẽ công tác.

Về mặt Đảng, Cục Chính trị cũng làm giấy giới thiệu “sinh hoạt Đảng” gởi cho Chi bộ mà cán bộ nọ sắp đến. Cán bộ mùa thu chỉ việc xách hết mớ giấy tờ : quyết định, giới thiệu chính quyền, giới thiệu sinh hoạt Đảng, bản tự kiểm và bản sao lý lịch đi theo đường dây đến đơn vị mới trình ra.

Trường hợp trên là trường hợp có công tác ngay.

Còn trường hợp chưa có công tác, đợi chờ Cục Chính trị nghiên cứu quyết định sau, thì số cán bộ này được đưa ngay về trạm T-14. Tuy mang tên là trạm T-14, thực ra đó chỉ là nơi tạm trú, bồi dưỡng, nghỉ ngơi cho cán bộ mùa thu trong khi chờ đợi nhận công tác mới. Nó có tính cách một trại tiếp nhận.

Những cán bộ đưa về đây ở trong cảnh nằm chờ, ăn rồi ngủ, rồi chơi, thỉnh thoảng ít hôm lại bồng bị lên vai kéo nhau đi tải gạo về ăn. Hết lại đi tải. Mỗi lần đi từ một đến hai ngày. Bình thường, sinh hoạt trong ngày của họ đều đều một nhịp điệu. Sáng ngủ dậy, súc miệng, đi ăn sáng. Ăn sáng xong thì túm năm, tụ ba, quây quần quanh mấy bình trà. Uống trà xong, kẻ đi nằm, người thì xúm lại đánh bài “Tu lơ khơ ” tay đôi, tay ba, tay tư – thông thường là tay tư. Có người không chơi, đi loanh quanh tới chỗ này, chỗ nọ la cà tán gẩu cho hết thì giờ, hoặc xuống bếp phá chị nuôi cho vui. Đến 11 giờ rưởi lại ăn cơm trưa. Ăn xong thì trà, rồi ngủ. Thức dậy, chương trình giống như buổi sáng. Năm giờ chiều, lại ăn cơm, lại uống trà, lại phất phơ đi chơi, lại v.v… Cứ như thế, hết ngày này sang ngày khác. Đợi chờ, cứ đợi chờ. Cục Chính trị hẹn thì cứ hẹn. Mười bữa, nửa tháng, “thực khách” viết thư giục hoặc “khóc lóc” xin được nhận công tác mới, xin được đi, Cục lại cho người đến giải thích, ủy lạo, công tác chính trị và… hẹn.

Có nhiều cán bộ phải nằm chờ đến bốn, năm tháng trời vì chưa được phân công. Đại đa số cán bộ này hầu hết thuộc loại đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ khả năng, sở trường của họ khó có công tác thích hợp trong hoàn cảnh du kích của Miền Nam, nhưng theo nhận định của Bộ Chỉ huy, sự có mặt của họ là cần, rất cần. Không phải họ không quan trọng, bị xem thường, bỏ rơi như họ đã nghĩ. Những cán bộ đó, họ là những phi công, là những chuyên viên hay kỹ sư cơ khí phi hành, chuyên viên Radar, khí tượng, là thuyền trưởng, phó thuyền trưởng, là những sĩ quan điều hành hải chiến, là những tay lái xe tăng, cơ khí thiết giáp, là chuyên viên hóa chất “phòng nguyên phòng hóa” (phòng nguyên tử, phòng hóa học) v.v… Chuyên môn của họ đặc biệt như vậy, nhất thời tìm công tác thích hợp cho họ khó vô cùng. Chả lẽ đưa họ ra chiến đấu ở bộ binh, chẳng những chẳng được tích sự gì lại tai hại thêm. Đưa làm những công tác văn phòng, công tác hậu cần cũng vậy, không thích hợp. Họ là những “vốn quí”, cán bộ đắt giá, phải triệt để giữ bí mật, đâu thể cho họ đi lung tung.

Dĩ nhiên, rồi họ cũng có công tác, vác ba-lô thoát khỏi trạm T-14, nhưng họ nhận công tác gì thì chỉ có Bộ Chỉ huy “R” mới biết.

Con đường về “R” của cán bộ mùa thu chấm dứt ở đó : hoặc B-40. hoặc T-14. Họ lần lượt được “R” phân công bổ sung vào những đơn vị mới mà họ là người chịu trách nhiệm khai phá, tạo lập. Tuyệt đại đa số cán bộ mùa thu khi về Nam, hầu hết đều ở vào cương vị cán Bộ Chỉ huy của những đơn vị từ thấp đến cao. Phải nói rằng, dưới mắt “R”, chính họ là những người góp công “tăng chất lượng” của công tác, khác hẳn chiến trường du kích “bê bối”, “lèm nhèm” như thời kháng chiến chống Pháp trước đây.

—> Lính “R”
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s