Về “R” (Kim Nhật)- Phần III

4- TỪ I-2 GỞI ĐẾN

Với các tỉnh Bến Tre, Mỹ Tho, Tân An vấn đề tuyển dụng tân binh đưa về “R” họ làm việc có quy củ hơn, theo hệ thống từ dưới lên trên, không phải là vấn đề tình cảm cá nhân mà là vấn đề kế hoạch, có chính sách, có tiêu chuẩn hẳn hòi.

Có hai loại tân binh được gởi đi. Loại chiến sĩ cũ và loại tuyển mộ. Loại chiến sĩ cũ là những du kích Xã, du kích Huyện hoặc cơ động Tỉnh. Lúc đầu, việc tuyển chọn gởi đi hãy còn lộn xộn, khi thì rút thẳng ở Xã đội hoặc Huyện đội, hay tại đơn vị tập trung của Tỉnh đội không cần báo trước. Khi thì thông báo cho các nơi, ai muốn về Miền thì ghi tên cho đơn vị đó biết, đơn vị lập danh sách tập trung, giới thiệu về Tỉnh đội để Tỉnh đội quyết định. Không cần phải chọn lựa thành phần, chọn lựa sức khỏe, trình độ chính trị, cấp bậc gì cả. Sau “R” thấy “phẩm chất” không đồng đều, không đạt yêu cầu mấy, gây nhiều khó khăn nên “R” đòi hỏi phải có sự chọn lựa kỹ dựa theo những tiêu chuẩn cần thiết.

Vì số chiến sĩ cũ phần thì ốm yếu bịnh hoạn, phần thì ba gai, trật búa, lý lịch bất hảo, thiếu tinh thần trách nhiệm, bất mãn v.v… nói chung ở các đơn vị địa phương thi hành chỉ thị cấp trên, buộc lòng phải chọn cán bộ chiến sĩ của đơn vị mình. Những người đã quen việc, thạo địa phương, quen môi trường chiến đấu, tất họ tiếc công đào tạo, nếu có phải đưa đi, họ chỉ lựa những người kém nhất. Như vậy, họ vừa thanh lọc được hàng ngũ, đỡ bực mình lại khỏi mang tiếng. Họ trút cái bực mình đó cho “R”, chả trách “R” tại sao phàn nàn, dảy nẩy làm như đĩa phải vôi.

Khi “R” đòi hỏi sự lựa chọn, nêu ra những tiêu chuẩn cần thiết thì từ đó mới thực là cay cho Tỉnh đội, Huyện đội, Xã đội. “R” chỉ thị rằng những chiến sĩ cũ từ Tỉnh gởi lên phải là những chiến sĩ khỏe, tinh thần công tác tốt, chiến đấu ngoan cường, có trình độ “chiến kỹ thuật” nhất định. Số chiến sĩ này, “R” dùng vào việc bổ sung quân số cho các đơn vị chủ lực “R” như Q-761, Q-762, Q-763 v.v… Mặt khác, “R” còn dùng để thành lập các Trung đoàn chủ lực mới, phục vụ cho nhu cầu chiến trường chung. Để chắc ý hơn, “R” còn nói thêm cho rõ : đó phải là những bộ phận chiến đấu như Trung đội, Đại đội trực thuộc Tiểu đoàn cơ động Tỉnh. Ví dụ : nếu “R” bảo cung cấp ngay cho “R” một Đại đội chiến đấu thì Tỉnh đội phải trích ra một Đại đội của Tiểu đoàn cơ động Tỉnh, đầy đủ cả trang bị, lẫn cả những cán Bộ Chỉ huy của Đại đội đó.

Ở Tiểu đoàn cơ động Tỉnh, sau mỗi trận đánh, vấn đề bổ sung quân số thay cho đám bị thương vong đã là vất vả, giờ “R” chơi rút ngang như vậy quả thực là xót xa vô ngàn. Là cấp dưới chỉ biết thi hành lệnh cấp trên. Tỉnh đội cứ tha hồ xót xa, miễn chấp hành mệnh lệnh một cách nghiêm túc là được.

Trò đời, người ta thường nói hễ dùi đánh đục thì đục đánh săng. Tỉnh bị “R” đánh thì Tỉnh “nẻ đầu” lại Huyện. Để bổ sung quân số cho cơ động Tỉnh, mỗi Huyện đội phải chịu khó truất ra một vài Tiểu đội trong Đại đội du kích thoát ly của huyện gởi về nộp cho Tỉnh đội. Chưa nói, ông Tỉnh mà thấy huyện nào chiến đấu khá nhất, ổng thương, ổng chiếu cố nguyên cả Trung đội, hoặc chia đôi mỗi bên một nửa thì Huyện đội đành phải khóc ngay.

Qua cơn đau xót, tiếc của, tiếc công, để bù vào quân số thiếu hụt, ông Huyện bèn trả thù lại ông Xã đội. Là cấp chỉ huy trực tiếp, theo dõi kiểm tra thường xuyên nên xã nào có bao nhiêu xạ thủ, bao nhiêu tay gan lì nổi danh thiện chiến, ông Huyện lập danh sách, ký quyết định gởi về xã rút các “tay” đó về Huyện đội. Đến lượt ông Xã đội khóc lóc vì mất của. Xã đội phản đối, phàn nàn rằng du kích Xã cần phải có những tay xạ thủ chuyên bắn “chim sẻ”, cần những tay gan lì, thiện chiến mới có thể chơi được với đồn bót, với dân vệ hàng ngày. Huyện rút đi như vậy khác gì giết du kích Xã. Nói gì thì nói, ông Huyện chỉ cười :

– Lo gì! Các đồng chí ở địa phương, khối gì thanh niên, nhân tài. Các đồng chí chịu khó đào tạo ít hôm, lâu lắc chi đâu.

“Rốt cuộc, ông “R” làm, ông Xã “lãnh đủ”, nhưng có trách có giận chỉ biết giận ông Huyện chứ còn biết níu lưng ai.

Tình trạng đó vẫn kéo dài cho đến năm 1966. Từ đầu năm 1967, tình hình chiến trường Miền Nam khốc liệt hơn, quân lực VNCH và Đồng Minh mở nhiều cuộc hành quân liên tiếp. Những vùng rừng rậm, hoang vu nhất, trước giờ được xem là bất khả xâm phạm, cũng có gót chân của quân lực Mỹ- Việt đặt chân đến. Mặt khác, mực độ quân đội miền Bắc đưa quân vào Nam cũng lên đến đỉnh cao nhất. Bất kỳ ven rừng nào, ngọn suối nào, trên những lối mòn ở khu A, khu B, khu C, tấp nập những lính nghĩa vụ miền Bắc nên việc bổ sung quân só, hoặc thành lập những đơn vị chiến đấu mới, các Tỉnh ủy được “R” ra lệnh ngưng gởi lính về “R”. Lính nghĩa vụ miền Bắc sẽ thay chân hoàn toàn để chiến đấu trong cuộc “Cách mạng Miền Nam”.

Chủ trương của “R” về chiến thuật cũng thay đổi hẳn như Trung đoàn 3 tức Q-762 thuộc công trường 9 (Sư đoàn 9) trước kia do I-3 phối hợp với I-2 gởi lính lên tạo thành. Nay “R” cho gởi trả lại I-2 để chiến đấu ở đồng bằng, thay vào đó là quân số của lính nghĩa vụ miền Bắc. Cả số cán bộ của các I, Tỉnh, “R” cũng cho trả về “nguyên quán”. Ngày nay, phía sau “R” là cả một quân đội miền Bắc được gởi vào liên tục qua con đường Hồ chí Minh.

Trở lại vấn đề, về các tân binh do I-2 tuyển mộ gởi đến “R”, thì công việc tiến hành theo tuần tự như sau. Ở tại xã, mỗi ấp có nhiệm vụ tuyên truyền vận động thường xuyên hết ngày này sang ngày khác nhằm vào đối tượng từ 30 trở xuống 14 tuổi, bất luận gái trai. Người ta khoác cho nó cái tên “tòng quân chống Mỹ cứu nước” và “thoát ly”.

Cái tên “tòng quân chống Mỹ cứu nước” được áp dụng cho đối tượng con nít 15-17 và thanh niên chưa vợ. Còn ” thoát ly” dành cho thanh niên có vợ con rồi, ngoài cái tuổi “đoàn viên thanh niên lao động “

Tình hình địa phương bất kỳ ở vùng nào, tỉnh nào, bất kỳ ở tình trạng “giải phóng” hay “xôi đậu” đều có những nét căn bản giống nhau :

Vùng “giải phóng” là vùng không có chính quyền và quân đội Quốc Gia kiểm soát, bắt đầu từ 15 tuổi trở lên, mỗi người đều có “bổn phận” phải đi dân công ba tháng. Đám18, 19 tuổi phải thi hành “nghĩa vụ quân sự”. Những đợt “đào kinh”, “cuốc lộ”,”công tác đặc biệt” chiếm mất một số ngày nữa. Rồi nay học tập, mai hội họp.. Làm ruộng, làm vườn mỗi năm phải đóng thuế đảm phụ ít ra là 15 phần trăm đến 30 phần trăm dựa vào số huê lợi thu hoạch do Đảng “bình nghị”. Chưa kể chuyện có thể chết bất kỳ lúc nào vì phi cơ oanh tạc, pháo 105 ly, pháo 155 ly bắn tới ngày đêm. Những ai lăm le định “di cư” ra vùng an ninh của Quốc Gia thì bị “mời đi học tập” , bị để ý theo dõi ráo riết. Những giấy tờ cần thiết như thẻ căn cước, tờ khai gia đình .. bị xé đốt từ lâu. Thường ngày “người ta” còn hăm doạ”

– Mấy người đi như vậy là nối dáo cho giặc, là phản động. Đi thì đi luôn đừng bao giờ trở về đây nữa. Đất đai vườn tược, trâu bò của cải của mấy người sẽ trở thành tài sản của nhân dân. Mặt Trận không biết tới.

Do đó, đi không nỡ, ở không xong. Tình trạng đó có thể tóm tắt là đói rách, cực khổ, nguy hiểm tính mạng và bất mãn liên tục.

Vùng “xôi đậu” tức vùng tranh chấp, gần đồn bót nhưng cả tháng lính dân vệ, bảo an mới léo hánh tới một đôi giờ rồi kéo về đồn. Ban ngày thì Quốc Gia kiểm soát, tối lại “bà ba đen” kiểm soát. Dân chúng ở vùng này vẫn phải bị đóng thuế, vẫn phải đi “cuốc lộ”,”đào kinh”, vẫn phải đi dân công khi cần. Đặc điểm nhất là nguy hiểm. Không bị nạn pháo, nạn phi cơ thì bị nạn lựu đạn gài, bom bi gài, mìn gài của du kích. Cứ ít hôm, năm ba chú du kích đón đường “Quốc Gia” bắn lộn, báo hại cứ nhè dân hai bên bắn tưới. Kết quả, dân vệ bị thương, du kích sứt tay gãy gọng và dân thì vào hòm. Khổ nhất là lựu đạn gài, bom bi gài. Tưởng đem gài ở đâu, ai ngờ đem gài ở cửa ngõ, gài ở sau hè nhà dân, gài ngoài đống rác. Khi thì báo cho chủ nhà biết, khi thì bất cần, sáng ra chủ nhà đẩy cửa ngõ : đổ ruột, lòi óc! Tối lại, ra sau hè tiểu tiện : gãy giò, bể ngực ! Dân chúng kêu rêu, lại đổ thừa là dân vệ. Ai xót ruột, đau đớn đâm ra nổi nóng, chửi ỏm tỏi lên thì tối lại bị chặt đầu hoặc “đi học tập”.

Đặc điểm của tình hình địa phương như vậy đó.

Dù “xôi đậu” hay “giải phóng” cũng đều là : đói rách, khổ sở, nguy hiểm tính mạng và uất ức.

Cho nên khi cán bộ ở ấp vận động, tuyên truyền là tình nguyện đi ngay. Có nhiều trường hợp còn năn nỉ xin cán bộ đưa đi, không đưa đi thì khóc lóc. Hỏi ra, tưởng “tinh thần cách mạng” cao hay “căm thù đế quốc sâu sắc”, ai ngờ phải đi cho được vì “người ta ngăn cấm” vào vùng Quốc Gia , ở nhà thì trái tai, gai mắt không chịu nổi, nếu không chết vì bom đạn, lựu đạn gài thì có ngày cũng chết vì bị chặt cổ, vì uất ức, nói cho hả hơi. Chỉ có “tòng quân” hay “thoát ly” là tránh được cái khổ, cái uất ức câm họng đó. Không thấy nó nữa là xong. Ngày mai có sao cũng được, miễn trước mắt tránh được những phiền muộn đeo đuổi từ nhiều năm tháng.

Còn có một kiểu “vận động” ở địa phương nữa, thịnh hành nhất và những năm 1961, 1962, 1963, 1964. Như trường hợp ở Tân Nhựt (Long An) nửa đêm xông vào ấp chiến lược, bảo thanh niên tập trung lại tuyên truyền giải thích. Đến khi tập trung lại, trừ những người trên 35 tuổi, còn bao nhiêu lùa đi hết.

Trước họng súng và lời hứa “các anh đến vùng an toàn chúng tôi nói chuyện xong sẽ đưa mấy anh về nhà ngay”, người ta răm rắp đi theo. Nhưng đi mãi, hết ngày này sang ngay khác, cuối cùng đến lúc người ta nói chuyện thì :

– Xin báo cáo cho các anh em rõ, đây là Phòng Tuyển Mộ Tân Binh. Các anh em vì giác ngộ quyền lợi giai cấp công nông, vì lòng căm thù không đội trời chung với Mỹ – Diệm nên các anh em tình nguyện tòng quân giết giặc cứu nước, cứu nhà. Hành động đó Mặt Trận hết sức hoan nghinh và ca ngợi. Nhưng anh em cũng rõ tuy đây là căn cứ của ta, nhưng chưa phải là nơi an toàn, bất khả xâm phạm. Xung quanh ta đồn bót giặc rất nhiều. Do đó, để bảo vệ an ninh và giữ được bí mật, yêu cầu anh em mấy việc :

1) Không được nói chuyện lớn tiếng, không cười giỡn và ban đêm không đươc đốt đèn.

2) Không được đi quá phạm vi mười thước, vì chung quanh đây, toàn là hầm chông và lựu đạn gài vây chặt. Hệ thống phòng vệ này rất hữu hiệu.

3) Các anh em kể từ nay là tân binh của quân đội giải phóng. Các anh em phải chứng tỏ mình là người chiến sĩ gương mẫu của một quân đội tiền tiến, của hàng ngũ công nông. Những anh em vô kỷ luật, có ý định vượt ra khỏi căn cứ này, có thể bị Trung đội cảnh vệ đi cảnh giới bên ngoài hay du kích địa phương hiểu lầm nổ súng, hoặc lọt hầm chông, vướng mìn, vướng lựu đạn, anh em phải tự gánh chịu hậu quả đó.

………………..

Có tiếng khóc òa lên thật to. Thì ra có một anh nông dân tuổi ngoài 30, mặc chiếc áo bà ba mốc cời, dính đầy bùn, rách vá nhiều lỗ. Quần cụt. Đầu cổ chôm bôm. Hai tay đang vò nát chiếc khăn rằn thổ tả. Miệng méo xệch, khóc một cách ngon lành trông đến thảm. Tiếng xôn xao nổi lên. Có tiếng nói :

– Có gì thì đưa tay lên, xin phát biểu ý kiến đi!

Anh ta không đưa tay, cũng không biết xin phát biểu gì cả, chỉ biết quệt nước mắt và bệu bạo nói :

– Tui có tình nguyện, có tân binh gì đâu. Nhà tui ở trong ấp chiến lược xã Tân Nhựt. Khi không, nửa đêm mấy ông tới phá ấp chiến lược rồi tập trung bà con lại bảo tuyên truyền. Mấy ông chưa tuyên truyền gì hết thì lùa đám thanh niên tụi tui đi, bảo ra vùng an toàn nói chuyện rồi đưa về. Ai dè đâu mấy ông đưa đi năm bảy ngày trời, bận có một bộ đồ trong mình vầy nè, giờ mấy ông bảo là tình nguyện, bảo là tân binh đánh giặc. Tui có biết đánh giặc gì đâu. Vợ tui hiện giờ đương đẻ, nằm ở nhà bảo sanh Chợ Đệm. Vợ tui đau bụng, tui mượn xuồng đưa lẹ ra Chợ Đệm, rồi trở về sửa soạn đồ đạc, quần áo với dẫn con Mua, con gái lớn tui đó. Nó mới 8 tuổi, tới ở với má nó nhưng mới sửa soạn đi thì mấy ông tới. Trời ơi ! Mấy ông hại tui chi vậy. Mấy ngày nay, vợ tui đẻ hổng biết ra sao, còn 6 đứa nhỏ ở nhà chỉ còn có 2 lít gạo. Nó làm sao sống nè trời !

Rồi anh bưng mặt khóc hu hu. Hai tay đấm ngực nghe thình thình. Lúc đầu, trong đám đông có tiếng cười thút thít vì giọng nói ngây ngô của anh ta, nhưng cuối cùng, ai cũng im phăng phắc, thở dài. Có người rươm rướm nước mắt.

Người đứng ra nói chuyện là cán bộ, lưng đeo súng ngắn, khăn vằn quấn cổ, xoa xoa hai tay, mỉm cười :

– Chuyện đó là chuyện riêng của nnh, đâu phải chuyện của cách mạng. Tại sao dọc đường anh không trình bày cho địa phương họ nghe. Bây giờ, ở đây là phòng tuyển mộ, tôi không biết chuyện đó. Nhiệm vụ của tôi là đón nhận tân binh, tôi yêu cầu các anh em chấp hành tốt những điều trong nội quy kỷ luật mà tôi vừa nêu.

Anh nông dân la lên :

– Tui nói cả chục lần chớ không nói ! Nhưng mà tui nói có ai thèm nghe đâu. Mở miệng ra nói, họ bảo tui im, vùng nầy nguy hiểm không được nói chuyện. Tức quá ngang qua một bưng tràm tôi càn vào, chạy ngược trở lại thì bốn năm người vác súng rượt, bắt tui đòi bắn, đòi trói tui. Từ đó, họ theo canh tui hoài. Tui nói gì cũng bảo chờ lịnh trên, họ hổng biết. Bây giờ… bây giờ mấy ông cho tui về hông ? Hổng cho, bắn tui chết tui cũng về.

– Ê! Ê! Đừng loạn chớ anh ! Ở đây đâu phải ai muốn tới là tới, muốn về là về, tự do như đi chợ được đâu. Còn có kỷ luật, còn phải giữ bí mật chớ. Anh về rồi anh đi đầu giặc làm sao đây ? Còn chuyện gia đình anh, anh vắng mặt thì địa phương người ta lo, người ta săn sóc, địa phương có bỏ đâu mà anh lo.

– Địa phương nào ? Có bà con cô bác tui thì có chớ địa phương nào ? Mà bà con ai cũng nghèo, cơm đâu con tui nó ăn, ai giữ nó ?

– Bà con của anh là địa phương đó ! Thôi anh im đi, chuyện đó để tôi báo cáo lên trên, giải quyết sau. Bây giờ yêu cầu anh đừng có làm om sòm, lộn xộn nữa. Anh lôi thôi có biện pháp cụ thể đó. Báo cho anh biết trước !

Cuộc nói chuyện, sinh hoạt của cán bộ nọ đâm ra mất hứng, giải tán ngang xương. Và anh nông dân cứ ngồi khóc rấm rức. Mấy người khác bu quanh.

Trên đây là một trong những cách đặc biệt về việc vận động, tuyên truyền của địa phương mộ tân binh ở… ấp chiến lược. Cái kiểu mộ tân binh đó, được địa phương giải thích như sau :

– Họ chưa biết cách mạng là gì, địa phương phải giáo dục cho họ biết. Vì chưa giác ngộ cách mạng. chưa giác ngộ quyền lợi giai cấp nên họ còn nặng tình cảm gia đình, cầu an hưởng lạc. Nhưng khi giác ngộ, họ sẽ tự xấu hổ và cảm ơn cách mạng.

***

Trở lại vấn đề vận động, mộ tân binh ở những vùng “giải phóng” hoặc xôi đậu, từ 1963 trở về trước họ chỉ nhận thanh niên từ 18 trở lên, 25 trở xuống. Nhưng từ 1964 trở về sau, nhận cả phụ nữ – những phụ nữ chưa chồng-, những thanh niên râu bất kể hạng tuổi nào, cả những đứa con nít 15, 16 tuổi. Đến 1965 xem như thanh niên họ vét sạch hết rồi. Bấy giờ người ta không lấy làm lạ tại sao tân binh từ I-2 gởi về “R” sao chỉ toàn thanh nữ và con nít. Mỗi đoàn ít lắm cũng cả trăm.

Tại ấp, họ đưa tân binh đến tập trung ở xã để làm 2 bản lý lịch và giấy giới thiệu. Từ xã, khăn gói đưa lên huyện. Huyện đưa thẳng đến phòng tuyển mộ của tỉnh. Tùy theo tình hình mỗi tỉnh mà trạm tiếp nhận của Phòng tuyển mộ đặt ở trong rừng hay ngoài nhà đồng bào. Trong rừng như Tây Ninh, Gia Định, Bình Dương v.v… và ở lộn với nhà đồng bào như Bến Tre, Mỹ Tho, Tân An v.v…

Tại trạm, họ được y sĩ tới khám toàn bộ sức khỏe, bệnh tật, ghi vào một sổ riêng. Chỉ có thanh thiếu nữ là họ cho miễn khoản nầy. Ngoại trừ một vài người mà họ biết thuộc về giới “ăn chơi”, tình nghi có bệnh lậu hoặc giang mai, họ mới cho một nữ y tá khám riêng và báo cáo kết quả cuộc khám nghiệm đó. Còn đàn ông, con trai, ai cũng phải khám tim phổi, tai mắt mũi họng, thử phản xạ gối, trật quần ra xem hạ bộ.

Dựa vào lý lịch với sức khỏe của từng người, họ cho đưa vào “cơ động Tỉnh” bổ sung du kích Huyện, cho đi chủ lực của khu (I) hay gởi thẳng về “R”, hoặc trả về địa phương vì thiếu sức khỏe. Chuyện trả về địa phương chỉ xảy ra từ 1963 về trước chứ từ 1963 về sau thì coi như không còn nữa. “R” đang cần người để bổ sung cho chủ lực, bổ sung cho các cơ quan hậu cần, bổ sung cho T-6 (khu 6). Khỏe làm việc nặng, yếu việc nhẹ. Bịnh thì điều trị cho khỏi rồi làm việc. Không làm việc này thì làm việc khác. Chỉ trừ tỷ lệ tật nguyền cao hoặc mang những bệnh nguy hiểm như lao, cùi hay liệt nhược, họ mới phải chê.

Ngay như “R”, lúc đầu đòi hỏi tân binh phải khỏe mạnh, thành phần tốt, biết cơ bản quân sự v.v… Sau cùng phải bỏ hết những tiêu chuẩn đã nêu vì thiếu hụt quân số trầm trọng.

Thông thường, tân binh được huấn luyện một tháng ít lắm cũng hai tuần tại địa phương rồi mới phân phối đi các nơi khác. Riêng đám tân binh gởi về “R” dù có được huấn luyện hay không, dù được trang bị vũ khí hay không, tùy theo tính chất của đoàn đó, được tổ chức thành đội ngũ hẳn hòi, theo đúng quy chế chính quy miền Bắc. Nghĩa là một Tiểu đội chỉ có 10 người. Trừ Tiểu đội trưởng, hay A trưởng, 9 người còn lại chia ra 3 tổ tam tam. A phó sẽ kiêm nhiệm một trong ba tổ trưởng. Ba Tiểu đội ghép thành một Trung đội. Trung đội có Ban chỉ huy : 1 B trưởng, 1 B phó và 1 Chính trị. Ba Trung đội ghép thành một Đại đội v.v..

Mỗi đoàn tân binh, họ cử theo một tổ quân y gồm một y tá và vài cứu thương, với một số thuốc thông thường, một ít thuốc cứu cấp. Trước khi được đưa tới trạm đường dây, cả đoàn được lệnh tập họp lại “sinh hoạt”, phổ biến tình hình chung về ăn uống, về đường đi nước bước, về mọi trở ngại có thể xảy ra, cùng các hướng giải quyết chung.

Đến ngày giờ đã định, đoàn tân binh theo đường dây, chịu sự hướng dẫn chung và các nội quy kỷ luật của đường dây. Đoàn được đưa thẳng về trạm B-40 của “R” hoặc T-13, hay T-12, T-11, tức các trạm tiếp đón tân binh ở vùng Trảng Dài và Đồng Rùm thuộc khu B, Tây Ninh.

Tại đó, tùy Cục Tham mưu, sẽ phân phối đi về các đơn vị của “R” : khu A, khu B, khu C, khu E, khu H hoặc về T6.

—> Trong lòng đô thị
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s