Về “R” (Kim Nhật)- Phần III

5- TRONG LÒNG ĐÔ THỊ

Ngược thời gian trở lại những ngày sau đình chiến 1954, vấn đề xây dựng cơ sở ở đô thị Sàigòn-Chợ Lớn-Gia Định được Trung Ương Cục Miền Nam quan tâm đặc biệt.

Dù biết rằng trong những năm kháng chiến chống Pháp, Thành ủy Sàigòn- Chợ Lớn cũng như Ủy ban Kháng Chiến Hành Chánh đặc khu Sàigon-Chợ Lớn-Gia Định đã có sẵn nhiều cơ sở tại đô thị quan trọng bậc nhất của Miền Nam này, Trung Ương Cục vẫn tập trung mọi nỗ lực lớn nhằm vào Sàigòn. Bởi một lẽ giản dị, dễ hiểu, vì Sàigòn là thủ đô của chính quyền Miền Nam với tất cả các cơ quan đầu não, trung tâm của các hoạt động chánh trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, quân sự. Dân số Sàigon-Chợ Lớn-Gia Định dạo ấy khoảng 2 triệu người. Như vậy nó chiếm 1/6 trong 12 triệu của nhân dân Miền Nam, theo con số mà Trung Ương Cục tiên liệu được.

Năm 1954, Khu ủy Phân Liên khu miền Đông, Khu ủy Đặc khu Sàigon-Chợ Lớn-Gia Định cũng như Thành ủy Sàigon-Chợ Lớn đều được lịnh của Trung Ương Cục Miền Nam phải cấp tốc cử đại biểu về U Minh họp khẩn cấp để nhận chỉ thị hành động. Lệnh đó do Lê Duẫn, Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam ký tên. Đặc biệt, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, chủ tịch Ủy ban Kháng Chiến Hành Chánh đặc khu Sàigon-Chợ Lớn-Gia Định cũng nhận được lệnh mời riêng.

Riêng Lê Đức Thọ, trong thời gian từ tháng 8-54 đến tháng 11-54 như con thoi xuyên đi xuyên lại, từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam để mang những báo cáo, quyết nghị, chỉ thị khẩn cấp của Trung Ương Đảng miền Bắc tập trung vào công tác chính yếu : củng cố và phát triển cơ sở đấu tranh chính trị ở Miền Nam.

Hai ủy viên Trung Ương Cục cũng là ủy viên Trung Ương Đảng là Ung văn Khiêm và Hà Huy Giáp được giao nhiệm vụ tổ chức các lớp chính trị ngắn hạn về phía Đảng cũng như về phía chính quyền, huấn luyện công tác cơ sở cho một số cán bộ trung cấp, sơ cấp được chỉ định ở lại để kịp thời bố trí cho nhập Sàigòn đợt 1 (cuối tháng 8-54) rồi đợt 2, đợt 3…

Mặt khác, Trung Ương Cục cũng tổ chức song song các phong trào học tập ý nghĩa của Hiệp định Genève, học tập về phương châm, sách lược đấu tranh chính trị ở các cơ qưan từ cấp Nam bộ, Khu, Tỉnh, Huyện cho đến Xã và nhân dân.

Có thể nói, công tác đấu tranh chính trị là một công tác khẩn cấp, hối hả, trong không khí rộn rịp. tranh thủ với thời gian. Sở Tuyên-Văn-Giáo (Tuyên truyền, Văn hóa, Giáo dục) Nam bộ mà Lưu Quý Kỳ là Giám đốc Sở được xem là lực lượng chủ chốt, đáng kể nhất tung vào chiến dịch này.

Cho nên, ta không lấy làm lạ và hiểu tại sao những Huỳnh văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Ngọc Bạch, Khánh Vân, Xuân Oanh, Quốc Hương tổ chức những cuộc mời mọc, đón tiếp, nói chuyện với các nghệ sĩ và những người làm văn nghệ ở Sàigòn, tại Cà Mau. Rồi những nhà trí thức, những giới khác cũng được mời đến nói chuyện và thăm “kháng chiến” ở Cà Mau như nhiều nơi khác.

Những tiến sĩ Hoàng Xuân Nhị, luật sư Phạm Ngọc Thuần, Đốc phủ sứ Phan văn Chương, bác sĩ Nguyễn văn Hưởng, kỹ sư Kha Vạng Cân v.v… thay mặt cho giới trí thức kháng chiến trao đổi quan điểm trong những cuộc nói chuyện đó.

Đó là một công tác, một chiến dịch mà Trung Ương Cục cho là “sẽ đạt đến nhiều kết quả vô cùng quan trọng”.

Nói chung, trong “đại công tác” củng cố, xây dựng và phát triển cơ sở được chia làm 2 loại :

– Loại chiến lược
– Loại chiến thuật

Loại chiến lược, được một số người gọi đùa là “trường kỳ mai phục”, nhằm vào mục tiêu lâu dài. Loại này chỉ hoạt động khi có lệnh báo, còn bình thường vẫn bất động, sống như bất cứ một công dân lương thiện nào khác, tha hồ ăn tục nói phét. Chẳng những không tuyên truyền ai mà còn bị cấm tuyên truyền. Càng tố Cộng, chửi Cộng càng dữ chừng nào càng tốt chừng đó, không tội vạ gì cả..

Loại chiến thuật là chỉ nhằm phục vụ mục tiêu trước mắt, có tính cách giai đoạn.

Với loại chiến lược, số cán bộ này được hoàn toàn giữ bí mật, đích thân Phạm Hùng (Ủy viên Trung Ương Cục, Ủy viên Trung Ương Đảng, kiêm Giám Đốc Sở Công an Nam bộ) hoặc Nguyễn Trấn (Ủy viên Trung Ương Cục, Ủy viên Trung Ương Đảng, Chính ủy Phân Liên khu Miền Tây) hay một vài cá nhân cán bộ cao cấp được chỉ định tùy theo giới và tính chất công tác giao nhiệm vụ. Nói như vậy, không có nghĩa tất cả “hạt nhân” chiến lược được “cấy” ở Sàigòn đều phải qua tay những nhân vật trên. Thành ủy Sàigòn-Chợ Lớn hoặc Khu ủy đặc khu Sàigon-Chợ Lớn-Gia Định vẫn tiến hành công tác “cơ sở” của mình theo hệ thống địa phương. Trung Ương Cục tiến hành theo hệ thống của Trung Ương Cục. Mỗi hệ thống đều có tính cách độc lập, phục vụ những công tác khác nhau. Dĩ nhiên, loại này – loại công tác chiến lược- là loại ra công khai, hoặc là dân sự, hoặc là công chức, hoặc là quân nhân, tùy theo vị trí mà Trung Ương Cục chọn sẵn.

Ở loại chiến lược này, bất cứ với giá nào, tốn kém bao nhiêu, bất cứ phải dùng hình chức nào, Trung Ương Cục cững cung cấp đầy đủ, miễn sao “cấy” được vào những vị trí đã chọn.

Chính Văn Tiến Dũng đã mang chỉ thị của Trung Ương Đảng từ Bắc vào Nam, trong những ngày đầu sau đình chiến, qua con đường Ủy hội Quốc tế, để Trung Ương Cục phải hoàn thành cho được công tác này. Bởi Trung Ương Đảng đã nhận định trước rằng “Tổng tuyển cử toàn quốc” rất ít có hy vọng thực hiện được.

Hy vọng đó chỉ chiếm 5 phần trăm là cùng. Trong tài liệu học tập cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, Trung Ương Cục đã có một đoạn nói về vấn đề này :”Muốn có Tổng tuyển cử phải đấu tranh, phải lấy áp lực của nhân dân để thực hiện. Có Tổng tuyển cử hay không, tùy thuộc vào tình hình thế giới. tùy thuộc vào việc vận động do nhân dân làm áp lực v.v…”

Với loại công tác “chiến thuật” có tính cách giai đoạn, nhằm vào trọng tâm phục vụ cho yêu cầu “Tổng tuyển cử” vào tháng 7 năm 1956, nặng về tính cách tuyên truyền gây ảnh hưởng rộng rãi, cho nên số cán bộ được tung vào làm công tác này không đòi hỏi một sự chọn lựa khắt khe, ai cũng được. Đảng viên càng tốt, không đảng viên cũng chả sao. Vì cơ sở dù có bí mật, nhưng không phải là thứ bí mật tuyệt đối đến độ không ai “biết đến mình”, như vậy thì làm sao tuyên truyền ?

Vào những ngày sau đình chiến, người ta thấy một số “đối tượng” được mời đến Cà Mau theo kế hoạch “tranh thủ” của Trung Ương Cục đề ra. Về giới trí thức, văn nghệ đã kể ở đoạn trước, đã có luật sư Phạm Ngọc Thuần, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng Chiến Hành Chánh Nam bộ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch Ủy ban Kháng Chiến Hành Chánh đặc khu Sàigon-Chợ Lớn-Gia Định, tiến sĩ triết học Hoàng Xuân Nhị, cựu giám đốc Viện Văn hóa Kháng chiến Nam Bộ, Đốc phủ sứ Phan văn Chương rồi nào Huỳnh văn Tiểng, Nguyễn Ngọc Bạch, ca sĩ Khánh Vân, ca sĩ Xuân Mai, Quốc Hương v.v…

Mục đích của Trung Ương Cục cho “trưng bày” những nhân vật đó ra là để tuyên truyền, tranh thủ trí thức, văn nghệ sĩ có cảm tình với kháng chiến. Thành thực công bình nhận xét thì “tác động” này, Trung Ương Cục đã gặt hái được ít nhiều thành công. Nhưng ngược lại, chính những người trực tiếp hy sinh xương máu, tham gia kháng chiến 9 năm trời thì một phần không nhỏ lại chán nản, oán ghét, tách mình ra khỏi cái guồng máy đó. Họ cho rằng nhiệm vụ kháng chiến chống Pháp giành độc lập cho dân tộc đến đó là chấm dứt. Họ hãnh điện và tự hào về công lao mà họ đóng góp. Đảng Lao động đã cướp công của họ, cướp công của nhân dân làm công của Đảng. Đảng cũng đã phản bội lại họ, phản bội lại nhân dân trong việc chia đôi đất nước cùng cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn dân để đưa đất nước vào một cuộc thảm sát mới theo chế độ vô sản chuyên chính của Karl Marx, tiến sâu vào con đường Cộng sản chủ nghĩa.

Phải dài dòng văn tự nhắc lại những sự kiện từ sau Hiệp định Genève 1954, để dẫn chứng một kế hoạch “chiến tranh” có sắp đặt trước, nhằm nhuộm đỏ Miền Nam thân yêu này, để chúng ta biết rõ do đâu và vì sao lại có chuyện những lính “R” được đưa từ trong lòng đô thị Sàigòn đến chiến khu của “R”. Mặt khác, chúng tôi muốn nêu lên những bằng chứng cụ thể của sự cố tình, nguyên cớ của cuộc chiến tranh đau thương, “nồi da xáo thịt” một cách tàn bạo, nhẫn tâm hôm nay. Và qua những dữ kiện đó, nó chứng minh một cách rõ ràng rằng chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Pháp mà toàn dân tham gia trước đây, đã chấm dứt kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1954. Chính nghĩa đó nhất định hoàn toàn vô giá trị, trở thành phi nghĩa bất kỳ cho hành động nào nhằm chống lại Miền Nam khi bọn thực dân Pháp đã bị đuổi cổ sạch sành sanh về Pháp. Chiến tranh ngày nay ở Miền Nam là một cuộc chiến tranh đã được chuẩn bị từ 1954. Miền Bắc phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lịch sử. Cuộc chiến tranh phát xuất bởi ý thức hệ Cộng sản chủ nghĩa của miền Bắc, chứ không phải là một cuộc nội chiến đột khởi từ Miền Nam..

Trở lại vấn đề, nhờ những cơ sở được củng cố và phát triển từ sau đình chiến, nằm trong lòng đô thị Sài gòn, nên từ 1959 trở đi, để phát triển lực lượng cho “R”, ngoài số tân binh của I-1, I-2 còn có tân binh của I-4. I-4 tức đặc khu Sàigon-Chợ Lớn-Gia Định.

Cách thức tuyển mộ tân binh ở đô thị Sàigon-Chợ Lớn nó khác biệt rất nhiều đối với các địa phương khác.

Về tổ chức, I-4 đặt ra nhiều tổ vận động, nằm rãi rác trong các khu vực Sàigòn và Gia Định. Mỗi tổ ít nhất từ 3 đến 5 người. Để che mắt Cảnh sát và Tình báo, Khu ủy I-4 cấp cho mỗi tổ một số tiền, tạo cơ sở làm ăn hợp pháp như : tiệm sửa xe gắn máy, một lớp học nghề, một vựa than, một vựa củi, một nhà nấu cơm trọ v.v… do một đảng viên cốt cán làm tổ trưởng. Có khi những tổ viên thường trực là những người lao công làm việc ăn ở tại đó, có khi chỉ làm việc tại đó, đêm về nhà riêng. Nhưng bất kỳ ở trường hợp nào, những người giúp việc hàng ngày cho cơ sở bao giờ cũng phải là những tổ viên của họ, không thể có một nhân vật nào khác chen vào được. Ngoài tổ trưởng và số tổ viên thường trực, còn có những tổ viên “nằm vùng” rãi rác trong các khu, xóm, đường phố, số lượng ít hay nhiều tùy theo khả năng hoạt động của những tổ viên thường trực tổ chức. Những tổ viên “nằm vùng ” là những “quần chúng tốt” đủ mọi thành phần cyclo, học sinh, giáo sư, làm công, thợ thuyền v.v… Những tay “nằm vùng” chỉ biết mặt tổ viên thường trực nào liên hệ tổ chức kết nạp mình, không hề biết ai khác hơn nữa. Nếu có sự biết mặt các tổ viên thường trực khác, hay biết chỗ ở chẳng hạn, chỉ do “rủi ro nghề nghiệp” hoặc tình cờ ngoài ý muốn mà thôi.

Tổ viên “nằm vùng” để ý xung quanh nhà mình, hoặc những thanh niên bạn bè quen biết của mình, điều tra về lý lịch những thanh niên đó, thấy tư tưởng họ chống đối với chính quyền, thích phiêu lưu mạo hiểm hay thích kháng chiến, họ liền “đặt vấn đề”, giáo dục, tranh thủ tình cảm, tư tưởng, rủ họ vào “khu giải phóng”. Khi có người nhận lời, me xừ “nằm vùng” báo cho me xừ “thường trực” biết. Me xừ “thường trực” về báo lại “sơ lược lý lịch” của đương sự cho tổ trưởng hay. Tổ trưởng “nghiên cứu” lại thấy không có gì trở ngại, mới cho thông báo ngày giờ, nơi hẹn để gặp gỡ đưa đi Người dẫn đường có khi là tổ trưởng, có khi là tổ viên thường trực hoặc có khi là một giao liên đặc biệt. Về hệ thống tổ chức, 3 hay 4 tổ được ghép vào một B. Ban Chỉ huy B và cơ sở của B bao giờ cũng ở “vùng giải phóng”, cách xa Sàigòn như Đức Hòa, Củ Chi, Phú Hòa đông v.v… nơi thuộc họ kiểm soát. Khi vận động được một người, tổ viên thường trực đến gặp đương sự cho biết :

– Bây giờ anh phải chuẩn bị sẵn sàng để khi cho hay thì có thể trong 5 phút anh khởi hành ngay. Anh đừng mang theo quần áo hay đồ gì cồng kềnh, dễ bị lộ lắm. Vài bộ đồ thường, ít vật dụng, nếu có thể được thì anh mua 2 thước rưởi nylon, loại nylon may áo dài đàn bà để vào trong đó may võng… Nếu thấy khó thì thôi. Trong đó, người ta sẽ cấp phát đủ thứ cho.

Vậy là “đương sự” chuẩn bị sẵn sàng. Một tối, anh ta đến cho hay: sửa soạn đi ngay bây giờ. Đương sự vào nhà trong, hoặc công khai với gia đình, hoặc bí mật ra đường theo tổ viên nọ đến ngủ ở một nhà nào đó. Nếu hỏi tại sao chưa đi ngay thì sẽ được trả lời là trễ chuyến xe đến đón hoặc trở ngại bất ngờ v.v… Thực sự, người ta đề phòng kỹ lưỡng đó thôi.

Sáng lại hai chư vị kéo nhau đi ăn sáng xong, anh tổ viên báo :

– Mình đi anh !

Thế là đến bến xe đò. Kẻ ngồi băng trước. Người ngồi băng sau, tưởng như hai người lạ không quen biết. Xe chạy đến nơi thuận tiện, chỗ con đường mòn quen thuộc, bảo tài xế ngừng lại, anh tổ viên xuống trước, anh tân binh xuống sau, theo nhau rẽ đường mòn đi sâu vào xóm. Vậy là thoát. Hai chư vị cứ đi quanh qua lộn lại, qua vườn, qua rẫy, qua đồng, đi mãi nhiều giờ liền mới đến Ban Chỉ huy B. Tại đây, anh tân binh phải tự viết hai bản lý lịch theo mẫu có sẵn. Ban chỉ huy B giữ lấy ghi nhận xét, rồi từ đó gởi anh tân binh đi theo thơ giới thiệu và bản lý lịch đến trạm đưòng dây địa phương. Cuối cùng sau mấy ngày lội bộ theo giao liên, anh tân binh được đưa đến Phòng tuyển mộ tân binh I-4, đóng tại ấp Lộc Thuận, xã Lộc Hưng, quận Trảng Bàng, Tây Ninh.

Tại Lộc Thuận, các “tân binh đô thị” này gặp một lô hàng ba bốn chục thanh niên nam nữ. Trạm “tiếp nhận tân binh Gia Định” hay nói cách khác là I-4 được đặt trong rừng, cách bìa xóm chừng vài trăm thước. Trạm không có nhà cửa gì cả, ở ngoài trời, lấy tàn cây vòm lá làm màn che nắng. Trạm cũng chẳng có gì khác hơn là cây rừng.

Những tân binh mới tới, được phát ngay cho một cái võng nylon, một chiếc mùng, một tấm đắp bằng coton dệt nĩ giả, một tấm nylon choàng, một tấm nylon nóc, một dĩa nhôm, một muỗng thiếc, một khăn tắm. Trang bị đợt đầu cho một tân binh là vậy. Phát đồ xong, người cán bộ thay mặt cho trạm vỗ tay đôm đốp :

– Mấy anh em mới tới đâu, xin mời lại đây sinh hoạt một chút coi !

Anh em tề tựu lại đủ. Anh ta đảo mắt một vòng đếm lại quân số, mở đầu cuộc sinh hoạt bằng câu :

– Yêu cầu anh chị em nộp cho chúng tôi thẻ căn cước và tất cả các giấy tờ mà chính quyền Mỹ-Diệm đã cấp cho cá nhân các anh chị. Chúng ta bước chân vào cách mạng thì chúng ta không thể chấp nhận những gì của Mỹ-Diệm cấp cho chúng ta. Những giấy tờ đó vô giá trị.

Dù muốn hay không, mọi người phải lục ví lấy căn cước ra nộp lại cho anh ta. Việc tịch thu giấy căn cước, ý nghĩa của nó không đơn giản như lời giải thích đó. Nó còn có những lý do cụ thể hơn, có tác dụng thiết thực hơn nhiều. Trước mắt, mất thẻ căn cước chủ nhân của nó không thể lộn trở về vùng Quốc Gia kiểm soát hay trở về quê quán được. Không có giấy tờ tức người gian, sẽ bị bắt ngay.

Kế đến, có giấy căn cước biết đâu khi đối chiếu lý lịch người ta sẽ tìm thấy sự khác biệt, hoặc khám phá được vài chi tiết cần ích nào đó về đương sự. Sau đó, người ta có thể “nghiên cứu” để xử dụng các căn cước được tịch thu trong những lúc cần. Và đứng về mặt tâm lý, gây ý thức cho “đương sự” một sự chối bỏ, từ giã nếp sống cũ trở thành một nếp sống mới trong một hoàn cảnh khác biệt với quá khứ.

Khi tịch thu căn cước xong, anh cán bộ bắt đầu cho biết thêm xung quanh toàn hầm chông và những lựu đạn gài, các anh em không nên đi xa ra chung quanh. Lựu đạn, hầm chông tuy bố trí quanh nhưng không phải với mục đích bao vây giữ chặt anh em (!) mà phòng vệ đối với kẻ thù. Xin anh em đừng có mặc cảm ! Nhưng nếu anh em có ý muốn trốn khỏi nơi đây thì nó sẽ giữ các anh em lại một cách hữu hiệu. Ở đây gần đồng bào, cũng gần đồn bót địch, yêu cầu anh em không được cười giỡn lớn tiếng, gây tiếng động ồn ào. Có cần mua sắm gì cứ cho biết để thu xếp mua hộ. Tuyệt nhiên đường đi ra xóm anh em không nên bén mảng đén, vì ban ngày không sao, bất quá anh em bị cản lại đuổi vào rừng nhưng ban đêm thì anh em cảnh vệ canh gác có thể hiểu lầm nổ súng, xảy ra điều đáng tiếc.

Sinh hoạt khi mới đến trạm này sơ sơ chừng ấy thôi.

Anh tân binh hoàn toàn bỡ ngỡ với khung cảnh mới mẻ, đầy xa lạ này. Điều mà khi còn ở thành phố anh ta chưa biết, chưa tưởng tượng ra được.

Cơm được nấu từ ngoài xóm khiêng đến bìa rừng.

Anh em tân binh từ trong “trạm”, mỗi ngày một tiểu đội, ba buổi sáng, trưa, chiều luân phiên ra khiêng vào chỗ đóng quân để tất cả cùng ăn. Mấy thúng cơm gạo đỏ, một son mắm ruốc kho, nổi lều bều, lác đác vài miếng cà tím, lỏng bỏng những nước. Bữa ăn thường ngày chỉ có thế. Ai phàn nàn thì sẽ được trả lời : “đảng còn nghèo nên khẩu phần mỗi người chỉ có hai đồng cho ba bữa ăn. Nên cố gắng, chịu kham khổ cho quen”. Đó là thời gian từ 1964 trở về trước. Từ 1965 trở về sau tiền khẩu phần tăng lên 3 đồng, 5 đồng.

Anh tân binh mới đến, ăn cơm xong thấy ngỡ ngàng hết sức. Nhờ những anh em đến trước chỉ cho cách giăng võng, căng nylon nóc, làm kệ để đồ. Anh ta nhìn chung quanh. Các tân binh đến đây đều được ghép thành từng tiểu đội. Mỗi tiểu đội giăng võng nằm gần nhau thành một chòm trong cái vuông rừng chồi thưa, cây lon con, rác rến được dọn sạch để làm chỗ đóng quân này.

Thả một vòng qua các tiểu đội, anh ta bắt gặp những nét mặt ngơ ngác, buồn thiu ngự trị trong cái thế giới nhỏ bé. Từng nhóm nhỏ nằm hoặc ngồi tán chuyện với nhau, anh ta mới vỡ lẽ rằng những người ở đây không giống như hoàn cảnh của anh ta, nghĩa là “tự nguyện tự giác” theo Cách mạng, nghĩa là từ đô thành được đưa đến. Họ ở khắp nơi. Người ở xã này, người ở quận kia, người thì trốn quân dịch, người thì ở ấp chiến lược đang đêm bị lùa đến đây, kẻ khác bị truy nã lùng bắt về tội cướp giật, giết người,v.v… đủ cả. Thực là buồn. Niềm tin của anh ta bị suy giảm quá nhiều và tự ái của anh ta bị thương tổn khá đau.

Trong những câu chuyện của họ, anh nghe người thì than vãn, nhớ vợ, nhớ con. Người thì lo lắng không biết ở nhà vợ con đã hay tin chưa và sinh sống ra sao. Người thì cáu cải thằng cha cán bộ làm phách. Người thì băn khoăn không hiểu những ngày tới đây còn những gì xảy đến. Người cho là mình không khác tù nhân bị giam giữ. Kẻ lại lo lắng không biết pháo có bắn đến đây không, vì chung quanh pháo nổ suốt đêm nghe đến chát tai, nghe rõ tiếng hú của đạn bay trên trời. Đủ mọi thứ chuyện!

Ấy thế mà, ở góc đàng xa kia, anh nghe có tiếng cười khúc khích. Thì ra có một đôi thanh niên nam nữ đang ngồi cạnh nhau trò chuyện, nắm tay nắm chân nhau, mùi tệ ! Vừa lúc ấy, một người lính mang súng đi thẳng đến cặp gái trai đó. Anh đi theo…

Anh lính của trạm lên tiếng hỏi :

– Hai anh chị là gì của nhau ?

Cô con gái mặt đỏ lên, mắc cở, đầu cúi gằm xuóng không trả lời. Anh con trai thì ngượng ngập lúng túng. Sau hết anh ta lên tiếng :

– Bạn ! Tụi tui… quen.

– Vậy tôi yêu cầu anh nên bỏ cái thái độ đó đi. Bạn bè gì nắm tay nắm chân ? Quen càng nên đứng đắn chớ. Tư cách đó không tốt. Đi làm cách mạng đâu phải trai gái cái kiểu đó, ảnh hưởng của chế độ cũ, mất đạo đức. Bạn bè đâu có ai cấm anh nói chuyện đàng hoàng. Còn thương nhau, yêu nhau đi nữa cũng phải để bụng, nên lịch sự trước mắt mọi người chớ.

Anh con trai đành câm họng, mặt mày nổi ốc trâu.

Cô con gái đầu đã cúi càng cúi xuống thấp hơn nữa. Hai tay vò nát chiếc khăn. Anh lính bỏ đi. Anh “tân binh đô thị” cũng mỉm cười quay về chỗ mình, nằm lên võng suy nghĩ bâng qươ. Võng kế bên, anh nông dân ở ấp chiến lược bị lùa đến đây, nằm khóc rưng rức, tỉ tê nghe não ruột làm sao !

Cái buổi chiều đầu tiên khi đến trạm tiếp nhận tân binh của Phòng Tuyển mộ I-4, anh “tân binh đô thị” kể trên mục kích cái thế giới nhỏ này như vậy đó.

Ngày hôm sau, rồi hôm sau nữa, mỗi ngày có nhiều toán người kéo đến. Họ trải nylon ra đất và dừng xung quanh, làm những cái buồng kín tạm để khám sức khỏe cho từng người. Thứ gì họ cũng khám, không chừa thứ gì cả. Kẻ thì khám, người thì hỏi tên họ, ghi vào giấy tờ, hỏi chuyện gia đình, chuyện thuộc về mỗi cá nhân. Anh “tân binh đô thị” cũng được khám. Quen theo nếp sống tự do, dạn dĩ, anh ta hỏi người khám bệnh cho mình :

– Ông là bác sĩ hả ?

– Không ! Y sĩ thôi !

– Cứ nằm đây hoài, chán quá ông !

Người tự nhận là y sĩ cười :

– Chán gì! Tôi ở xa đến nhận tân binh về cho đơn vị tôi đây. Trước khi nhận phải khám qua sức khỏe để chọn lựa. Anh chịu khó chờ !

Anh tân binh để ý thấy bản lý lịch tự mình viết trước đây sao lại nằm trong xấp hồ sơ của y sĩ này. Anh ta lấy làm lạ nhưng không tiện hỏi, nên thôi.

Sau khi được hai ba nhóm người khác nhau đến khám sức khỏe trong hai ba ngày liền, anh tân binh lấy làm lạ, đến hỏi anh cảnh vệ gác trước ngõ ra vào :

– Anh ơi! Làm gì mấy ngày nay hai ba tốp người cứ đến khám đi khám lại hoài vậy ?

Anh cảnh vệ nhìn anh ta một hồi, như muốn tìm hiểu tại sao anh ta hỏi như vậy. Anh cảnh vệ bao giờ cũng phải giữ “nguyên tắc cảnh giác cách mạng” :

-Tôi không rõ nữa!

– Họ là ai vậy ?

– Ai biết ! Có lẽ họ ở những đơn vị khác nhau đến lựa tân binh về đơn vị của mình.

Cầy cục hỏi mãi chẳng biết gì thêm. Đến chiều, một trong những tốp người trước đây lại đến cùng với anh cán bộ của trạm. Anh cán bộ vỗ tay đôm đốp :

– Anh em tân binh chú ý! Anh em lắng nghe tôi đọc tên. Nếu ai có tên thì cuốn võng, cuốn nylon, thu xếp đồ đạc của mình cho gọn ghẽ mang tới tập họp ở đây.

Thì ra đó là một trong những tốp đến lựa tân binh, giờ họ gọi đi đấy! Tại phòng tuyển mộ I-4, tân binh ở đô thành Sàigòn-Chợ Lớn hoặc ở địa phương của tỉnh Gia Định được tập trung đưa đến đây. Các đơn vị chủ lực của “R”, các khu vực Hậu cần “R”, cũng như các đơn vị của I-4 đến lựa và nhận về cho đơn vị mình. Những nơi đến nhận tân binh tại Phòng tuyển mộ I-4, người ta thấy có : Q-761, Q-762, U-60, U-50, U-80 và trường huấn luyện tân binh I-4. Những đơn vị trên là chủ lực của “R” và Hậu cần khu B, Hậu cần khu A, trường huấn luyện quân chính “R” và I-4. Mỗi đơn vị đều cử một đoàn cán bộ có một y sĩ, vài y tá đi theo đến ăn chực nằm chờ quanh Phòng tuyển mộ để chờ đến phiên mình thu nhận tân binh về cho đơn vị.

Cho nên, không lấy làm lạ khi anh “tân binh đô thị” thắc mắc, không hiểu tại sao lại có nhiều tốp người khác nhau đến khám sức khỏe, khám đi khám lại mãi cho anh ta. Các đơn vị chủ lực thì chọn người hoàn toàn khỏe mạnh, thành phần tốt, tuổi trẻ để bổ sung quân số cho đơn vị mình. I-4 thì chọn theo một tiêu chuẩn riêng, phát triển các cơ sở công tác có tính cách bí mật để hoạt động ra vào Sàigòn. Các đơn vị Hậu cần thì lượm tất, vét sạch những người mà các đơn vị kia chê, để lại. Tiêm la, hột xoài, lậu mủ cũng nhận, nhận về chữa trị cho hết bệnh thì công tác, có hề gì !

Anh “tân binh đô thị”, được một đơn vị “R” chọn gọi tên. Anh ta thu xếp đồ đạc tập trung với mấy người khác ở khoảng đường trống. Anh cán bộ của Trạm yêu cầu :

– Xin báo cho anh em rõ, anh em được một đơn vị bạn đến nhận các anh em về công tác. Anh em sửa soạn lên đường ngay bây giờ. Yêu cầu những anh em nào đã nhận những trang bị mà trạm cho mượn hôm mới đến, xin trả lại chúng tôi. Chốc nữa khi ra ngoài, anh em sẽ được trang bị, cấp phát lại đầy đủ hơn.

Nói xong, anh cán bộ lật sổ ra gọi tên từng người, đọc lên những món đã cho mượn tạm có ghi vào sổ. Anh ta thu nhận lại và xóa tên.

Khi ra đến ven rừng, quản lý của Phòng tuyển mộ I-4 đã cho người vác đến mấy bao quân trang gồm những thứ để cấp phát cho mỗi tân binh trước khi theo về đơn vị mới. Mỗi người được, cấp phát :

  • (1) cái ruột tượng đựng gạo.
  • (2) bộ quân phục may bằng vải ta nhuộm đen.
  • (1) thắt lưng Mỹ hoặc nội hóa.
  • (1) bidon đựng nước có cả ca và muỗng để ăn cơm.
  • (1) khăn tắm sọc vuông.
  • (1) chiếc mùng cá nhân.
  • (1) chiếc võng nylon nóc, kèm bộ dây dù để giăng.
  • (1) đôi dép râu.
  • (1) tấm nylon nóc 3 thước.
  • (1) tấm nylon choàng che mưa 2 thước.
  • (1) chiếc bao vải đựng bột mì để làm bồng mang đồ.

Chờ cho mọi người lãnh đồ xong, kiểm điểm quân số lại lần nữa, cán bộ của trạm và cán bộ của đoàn nhận lãnh tân binh, hai bên ký tên vào sổ bàn giao. Thế là đoàn tân binh được ra xóm nghỉ ngơi tắm rửa, cơm nước, ngủ lại đêm ở Lộc Thuận để sáng hôm sau theo về đơn vị mới, mà chính tân binh không biết đó là đơn vị tên gì, ở đâu ?

—> Việt kiều “Kăm pu chia”
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s