Về “R” (Kim Nhật)- Phần III

6- VIỆT KIỀU “KĂM-PU-CHIA

Từ sau Hiệp định Genève 1954, Hà-nội cử phái đoàn Đại diện Thương mãi do Ca văn Thỉnh làm Trưởng đoàn, đến đặt trụ sở thường trực tại Nam Vang. Trên danh nghĩa, chỉ là một phái đoàn Đại diện Thương mãi nhưng thực sự công tác chính của phái đoàn đó không nhằm vào thương mãi. Người nào dù ngây thơ mấy đi nữa cũng không thể tin một cách dễ dàng như vậy.

Về phương diện công khai, phái đoàn có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, nghiên cứu trao đổi hàng hóa, mua bán, mậu dịch. Nó còn là một hình thức liên lạc ngoại giao ở cấp thấp giữa Hà-nội và Nam Vang.

Năm 1955, tình hình ngoại giao giữa Sàigòn và Nam Vang chưa có vấn đề rắc rối nào xảy ra, còn trong tình trạng giao hảo bình thường, thân hữu, ở cấp bậc đại sứ. Cũng từ đó, chính quyền Nam Vang do Sihanouk lãnh đạo bắt đầu theo khuynh hướng trung lập. Đối với chính quyền Nam Vang, Sihanouk chọn con đường trung lập không phải Sihanouk muốn Nam Vang đứng ngoài cuộc tranh chấp giữa khối Tự do và Cộng sản, không bị lôi kéo, bị ảnh hưởng trực tiếp trong cưộc tranh chấp thế giới này. Thực ra, Sihanouk muốn trục lợi, muốn bắt cá hai tay. Theo bên này sẽ mất bên kia, theo bên kia sẽ mất bên này. Kẻ đứng đầu của hai khối là Nga và Mỹ, kẻ nào cũng giàu, cũng mạnh, cũng sẵn sàng viện trợ cho Nam Vang.

Theo bên này, bên kia cắt viện trợ, cho nên vì lợi lộc, Sihanouk dở cái thủ đoạn “ấm ớ hội tề” đi nước đôi. Sàigòn thuộc khối Tự do, đã có sẵn một nền bang giao lâu đời, có tòa đại sứ. Nhưng hiện tình Việt Nam chia làm đôi, ngoài Sàigòn còn có Hà-nội. Hà-nội thuộc khối Cộng sản. Theo khuynh hướng trung lập dĩ nhiên phải chấp nhận cả Sàigòn lẫn Hà-nội. Khó một điều là nền bang giao giữa Nam Vang – Hà-nội đang “vui vẻ”, Sihanouk chấp nhận thêm một tòa đại sứ Hà-nội ở Nam Vang thì Sàigòn phản kháng dữ dội, có thể cắt đứt ngoại giao.

Cho nên qua sự trung gian của Ibranov, Đại sứ Nga tại Nam Vang, Sihanouk chỉ có thể chấp nhận một cơ sở ngoại giao của Hà-nội dưới hình thức “phái đoàn Đại diện Thương mãi “.

Hình thức dù cần thiết mấy đi nữa cũng không quan trọng bằng nội dung. Vậy nội dung, “thực chất công tác” của phái đoàn Đại diện Thương mãi ở Nam Vang ra sao ? Trước khi đánh giá nội dung đó, ta hãy xét đến vai trò Ca văn Thỉnh trong nhiệm vụ Trưởng phái đoàn.

Ca văn Thỉnh sinh quán ở xã Tân Thành Bình, quận Mõ Cày, tỉnh Bến Tre. Thời Pháp thuộc là một giáo viên Tiểu học, sau đó vận động đi Hà-nội học Cao đẳng Sư phạm trở về làm đốc học tỉnh Bến Tre. Cho đến 1945, lúc cướp chính quyền, Ca văn Thỉnh gia nhập đảng Dân Chủ. Rồi trong cuộc bầu cử nghị sĩ quốc hội được tổ chức vào đầu năm 1946, Ca văn Thỉnh là nhân vật đứng hàng thứ năm trong bảng danh sách ứng cử viên, đứng trên bác sĩ Trần Quế Tử, do Mặt Trận Việt Minh đề cử.

Kết quả, Ca văn Thinh được bầu làm nghị sĩ của chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Pháp chiếm lại Bến Tre, Ca văn Thỉnh được đưa về Đồng Tháp Mười giữ chức vụ ủy viên trong Ủy ban Kháng Chiến Hành Chánh Nam bộ trong suốt cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp.

Những ngày ở Đồng Tháp, Ca văn Thỉnh được Lê Duẫn giáo dục, tuyên truyền, sau cùng được kết nạp vào Đảng Lao động cùng một lượt với Phạm văn Bạch, và Phạm Ngọc Thuần. Từ đó, ngoài nhiệm vụ chính quyền – Ủy viên Ủy ban Kháng Chiến Hành Chánh Nam bộ – Ca văn Thỉnh còn làm công tác Đảng, “nằm vùng” ở Đảng bộ Kỳ ủy Dân chủ Nam bộ do Nguyễn Việt Nam làm Bí Thư. .

Năm 1954 tập kết ra Bắc. Năm 1955 được cử làm Trưởng phái đoàn Đại diện Thương mãi của Hà-nội tại Nam Vang.

Như chúng ta đều biết, dù đưới hình thức phái đoàn Đại diện Thương mãi, phái đoàn đó vẫn là một phái đoàn ngoại giao cấp thấp. Theo chế độ miền Bắc, các trưởng nhiệm sở ngoại giao ở cấp cao hay cấp thấp, bao giờ cũng phải là một cán bộ cao cấp của Đảng, nhất định phải là một ủy viên Trung Ương Đảng chứ không thể là một Khu ủy viên, tỉnh ủy viên mà được. Muốn được đề cử làm ủy viên Trung Ương Đảng, tuổi đảng phải cao, phải gia nhập Đảng ít ra cũng từ 1940 đến 1944. Đàng này, Ca văn Thinh mới gia nhập Đảng sau này, thuộc loại xu hướng cách mạng thì trường hợp Ca văn Thỉnh là một trường hợp đặc biệt, ngoài những nguyên tắc thông thường.

Do đó, Hà-nội đưa Ca văn Thỉnh làm Trưởng phái đoàn Đại diện Thương mãi phải có một lý do quan trọng nào đó, dựa vào đặc điểm: người Nam bộ, được giới trí thức Sàigòn và Nam Vang biết tiếng, đã từng kháng chiến chống Pháp ở Miền Nam, “có vẻ” vô đảng phái.

Lý do vô đảng phái có lẽ phải được giải thích thêm :

Nam Vang có khuynh hướng trung lập, người không đảng phái được trấn ở đây quá nhiều đắc dụng, ít làm cho người ta chú ý hơn. Việc Ca văn Thỉnh được kết nạp vào Đảng là một việc trong phạm vi bí mật, nhỏ hẹp, chỉ có một số cán bộ cao cấp của Đảng mới biết việc này.

Chính nhờ vào những điểm trên, phái đoàn của Ca văn Thỉnh đã góp một phần không nhỏ trong việc chuẩn bị và tiến hành cuộc chiến tranh ngày nay ở Miền Nam. Gác qua một bên những nhiệm vụ liên lạc, giúp đỡ những cơ sở ở Miền Nam, chỉ việc gây dựng cơ sở hậu cần to lớn để cung ứng một phần nhân lực Việt kiều, từ Cam-bốt đưa đến biên giới Tây Ninh qua ngã Ba Chàm, Chà Phô về “R” cho “R” xử đụng cũng đã là một công tác lớn lao rồi.

Riêng việc vận động đưa thanh niên Việt kiều Cam-bốt về nước tham gia vào cuộc chiến tranh này, phái đoàn Đại diện Thương mãi của Ca văn Thỉnh đã thành công một cách dễ dàng. Hoạt động của phái đoàn Ca văn Thỉnh diễn ra trước mắt cơ quan tình báo Cam-bốt. Ta không dám chê tình báo Cam-bốt dở, nhưng ít ra họ cũng phải tự nhận là bất lực.

Từ 1965, nhan nhãn ở thành phố Nam Vang, tỉnh Swayrieng, Battambang, Kompongchnang, Kompongchpeu v.v… nơi nào cũng phát động một phong trào thể thao trong giới thanh niên Việt kiều. Người ta tung tiền ra để thành lập những đoàn lam cầu, bóng chuyền, bóng đá v.v… Những đoàn đó càng ngày càng phát triển mạnh. Họ biểu diễn tại địa phương, đấu với vài vùng lân cận, rồi đi xa hơn, đi đấu khắp nơi trên đất Miên, chỗ nào nào có Việt kiều cư ngụ đông.

Lúc đầu, những nhà dìu dắt, những huấn luyện viên, những nhà hảo tâm đỡ đầu, cung ứng tài chính. Người ta chỉ nói toàn chuyện thể thao, tinh thần thượng võ và kỹ thuật. Dần dần người ta nói đến tình đoàn kết giữa Việt kiều, nói đến tinh thần dân tộc. Kế đến nữa, người ta nói đến cuộc kháng chiến chống Pháp. Theo chiến thuật vết dầu loang, chiến thuật tầm ăn dâu, công tác tuyên truyền, vận động chính trị được đưa vào từng bước một. Cuối cùng những đội bóng chuyền, bóng tròn, bóng rổ trở thành những đội tuyên truyền và “công tác cách mạng” cho miền Bắc.

Sách vở miền Bắc, báo chí miền Bắc được cho du nhập vào Nam Vang đầy đủ, thừa thải như chính ở miền Bắc. Kịp đến 1959, 1960, chiến tranh bắt đầu với sự xuất hiện Mặt Trận Dân Tộc Giải phóng, nền bang giao giữa Sàigòn và Nam Vang bắt đầu lủng củng, công tác cơ sở Việt kiều cũng chuyển sang giai đoạn mới.

Việc tuyển mộ, đưa “tân binh Việt kiều Kampuchia về nước tham gia” kháng chiến chống Mỹ- Diệm bắt đầu khởi diễn.

Nếu ở trong nước, tân binh được tuyển mộ theo kiểu cách riêng của từng vùng, thì ở Cam-bốt có cái kiểu riêng biệt của “tân binh Kămpuchia”. Dù rằng, nhà cầm quyền Miên theo khuynh hướng trung lập, bắt đầu có cảm tình nhiều với Nga, nghiêng về khối Cộng, nhưng chính quyền họ vẫn bắt “Cộng” như thường, vẫn áp dụng mọi biện pháp mạnh đối với các hoạt động chính trị của miền Bắc trên đất Miên, vẫn bắt bớ giam giữ bất cứ Việt kiều nào mà họ cho là có những hành vi chính trị, hoạt động cho phe Sàigòn hay phe Hà-nội.

Ở vùng biên giới Tây Ninh, trên con đường lưu thông quốc lộ 1 Tây Ninh – Nam Vang, lính Miên cũng tăng cường kiểm soát, lưới công an bủa vây khá dầy đặc. Đó là một trở ngại, nhưng các cơ sở của Hà-nội vẫn lọt qua được để đưa tân binh về.

Tại các địa phương trên đất Miên, khi tuyển mộ được tân binh, họ cấp cho tân binh đó mỗi người một số tiền từ 300 đến 500 rịa (riels), có nơi cấp đến 1000 rịa (tiền Miên). Dạo đó, trên thị trường tự do tại biên giới người ta đổi 100 đồng tiền Việt lấy 80 rịa. Rồi 100 đồng tiền Việt đổi lấy 40 hoặc 35 rịa.

Tiền đó cấp cho tân binh mua sắm những thứ cần dùng cho cá nhân : ăn uống, xe pháo dọc đường. Mỗi cơ sở ở địa phương dù là Battambang, KompongChnang hay Nam Vang v.v… họ cũng có “đường dây” riêng, không theo kiểu hệ thống dây chuyền như tại Miền Nam. Nghĩa là không theo cái kiểu từ xã có đường đây lên quận, quận lên tỉnh, tỉnh lên khu, khu về Miền. Đằng này, mỗi tỉnh có một địa điểm liên lạc.”Địa điểm” đó liên lạc thẳng với Ban Công tác Việt kiều, đóng tại một trại cưa máy nằm dọc lộ Tây Ninh – Nam Vang, cách biên giới quãng 50 cây số.

Tại địa phương, mỗi khi vận động được một tân binh nam hoặc nữ, họ viết mấy chữ giới thiệu theo kiểu gởi lời thăm hỏi bà con (đã được quy ước sẵn). Đương sự không cần phải có ai dẫn đường, chỉ việc leo lên xe hoặc đi xe đạp, xe gắn máy đến địa chỉ mà cán bộ cơ sở căn dặn. Tìm được đúng địa chỉ, đương sự chỉ chìa thư ra. Ngày sau, hoặc ngày hôm sau nữa, đương sự được một bà già, hoặc ông già hay chị đàn bà có con nào đó, hướng dẫn ra xe đò và đi thẳng đến Ban Công tác Việt kiều. Tại đây, đương sự được đưa thẳng vào trong rừng, nơi làm trạm tiếp nhận, để làm lý lịch và hướng dẫn tất cả mọi điều cần thiết trên đường đi. Vì từ bây giờ về biên giới, về “R” phải đi trong rừng, băng qua ruộng rẫy của đồng bào Miên trong nhiều ngày, tùy theo tình hình “căng” hay không “căng” ở những nơi đi qua. Thông thường chỉ mất ba hôm, nhưng có khi phải sáu, bảy hôm không chừng. Đến trạm tại biên giới, chuyến giao liên hàng ngày đều có một bộ phận cảnh vệ theo bảo vệ và dọn đường, qua con rạch nhỏ vào giữa khuya. Thế là “đương sự” coi như đã được “yên ổn” để về B-40.

Có một số tân binh khác, không đi theo ngã “Trại cưa máy” mà được đưa đi thẳng đến gần biên giới bằng đường xe, rồi vào xóm. Khuya lại, có người dẫn họ đến “Trạm” và vượt biên ngay. Có sự khác biệt đó là vì tùy theo từng cá nhân, có những giấy tờ do chính quyền Miên cấp khác nhau. Người thì quốc tịch Miên, người lại quốc tịch Việt, người lại có giấy tờ mua bán v.v… hợp pháp, không sợ phải bị xét hỏi lôi thôi.

Những tân binh Việt kiều ở Cao Miên được người ta gọi là “Việt kiều Kămpuchia”. Kămpuchia là phiên âm của chữ Kampuchéa, mà chính phủ Cao Miên Sihanouk cho công bố và dùng trong các văn kiện trong thời gian gần đây, thay thế cho chữ Cambodge hay Cambodia. Trong khi thế giới chưa công nhận tên mới đó, “người ta” vẫn cứ dùng để lấy lòng Sihanouk và chính phủ “Kămpuchia”.

—> “Đồng chí Bớc Sét”
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s