Về “R” (Kim Nhật)- Phần III

7- “ĐỒNG CHÍ BỚC SÉT”

Năm 1962, có một ký giả người Úc tên Burchett, từ Melbourne đến Sàigòn để săn tin và tìm hiểu về cuộc chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam . Burchett đến Sàigòn với giấy thông hành, chiếu khán của Úc.

Sau khi đến Sàigòn, Burchett cũng xin yết kiến, phỏng vấn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Cố vấn Ngô Đình Nhu, tiếp xúc với nhiều giới khác nữa. Burchett nhờ ” trụ sở liên lạc báo chí thế giới” ở đường Pasteur thuê hộ một chiếc xe du lịch để đi đó, đi đây trong những ngày ở Sàigòn.

Đứng về phương diện an ninh quốc gia, các cơ quan tình báo biết rõ Burchett hơn ai hết do những ngưồn tin từ Toà đại sứ VN tại Úc, do những cơ quan chuyên môn… Cho nên khi đến Sàigòn, mọi cuộc xê dịch di chuyển của Burchett đều được cơ quan an ninh Việt Nam theo dõi, giám sát. Burchett cũng biết thế nên tìm đủ mọi cách để đánh lạc hướng nhân viên tình báo Việt Nam, bằng những cuộc đi chơi bạt mạng bất kể giờ giấc ở ngoại ô Sàigòn, ở Đàlạt, Vũng Tàu, Mỹ Tho v.v… Cuối cùng Burchett mất tích. Tin đó chỉ có Bộ Ngoại giao biết, các cơ quan an ninh liên hệ, và một ít người khác biết mà thôi. Vì biết quá rõ lý lịch của Burchett nên không một ai nghĩ là Burchett bị VC bắt cóc bao giờ, dù thừa hiểu rằng lúc ấy Burchett đang có mặt tại chiến khu vùng biên giới Tây Ninh.

Đối với một ký giả săn tin quốc tế, chuyện xảy ra là một chuyện thông thường nên chẳng ai quan tâm đến cho lắm. Nhưng vài tháng sau, “đài phát thanh Giải phóng” loan tin Burchett đến thăm chiến khu và ca ngợi Burchett không tiếc lời. Burchett được phong là đại ký giả nổi danh thế giới, hàng ngũ báo chí thế giới xem Burchett như một đàn anh, uy tín trùm cả hai phe xã hội chủ nghĩa và đế quốc. Lúc đó, Burchett đang có mặt ở Hà-nội.

Thực sự, Burchett chỉ là một ký giả như bao nhiêu ký giả ngoại quốc khác đến Việt Nam. Nhưng tại sao Burchett được thổi phồng, được “người ta” hoan nghênh, đề cao lên tột đỉnh? Chỉ vì Burchett là một đảng viên Cộng sản, và là người ký giả đầu tiên “lăng xê” Mặt trận Giải phóng Miền Nam, cổ võ hết mình trên một tờ báo thiên Cộng ở lMelbourne và tờ báo của Đảng Cộng sản Ý xuất bản tại Milan. Vì “công trận” đó, Burchett đáng được ca ngợi, phong lên hàng đại ký giả của thế giới.

Từ năm 60, 61, nhất là sau vụ đảo chánh hụt Ngô Đình Diệm tháng 10, chiến cuộc VN bắt đầu lan rộng. Nhiều ký giả quốc tế đến Sàigòn, muốn tìm hiểu về MTGPMN, tổ chức, đời sống, sinh hoạt của họ ra sao.

Những ký giả gan lì thường dùng cách lái xe chạy phất phơ vào vùng được gọi là bất an ninh để du kích bắt đi, nhưng chẳng thấy ai chận xe, đón đường cả. Họ đành thất vọng trở về Sàigòn. Một vài tay ký giả trong số đó, bèn dùng cách đi sâu vào những làng nằm cặp theo quốc lộ số 1, hay quốc lộ số 4, nơi mà nhiều người điểm chỉ ở đó có nhiều VC. Nhưng cũng chẳng may cho họ là khi gặp du kích, bắt họ bịt mắt dẫn đi, xem họ là Mỹ, định làm thịt. Họ rụng rời tay chân. Vì ngôn ngữ bất đồng, ra đấu, ọ ẹ mãi chẳng ai hiểu ra sao, đến chừng mang máng hiểu được “không phải lính Mỹ” mà là ký giả thì du kích lại bịt mắt dẫn ra, nhờ đồng bào đưa lên lộ để đón xe về Sàigòn. Nghĩa là, suýt tí nữa thì mất đầu vì “người ta” không chấp nhận bất cứ người lạ nào, dù mũi cao hay mũi thấp vào vùng của họ, để ý dòm ngó việc họ làm. Rốt cục chẳng đi đến đâu.

Trường hợp đó là trường hợp nổi hứng bất ngờ của mấy ký giả muốn săn tin chiến tranh.

Với những ký giả quốc tế khác, biết chuyện hơn, muốn đi vào vùng chiến khu, muốn tiếp xúc trực tiếp với Nguyễn Hữu Thọ, với “Mặt Trận”, họ đều suy tính kỹ càng : gõ vào cánh cửa ngoại giao. Những ký giả đó nhờ những Tòa đai sứ ở Hà-nội, nhờ Ủy hội Quốc tế vận động thẳng với Bộ ngoại giao Hà-nội cho phép họ vào vùng “giải phóng” ở Miền Nam. Dĩ nhiên, Bộ Ngoại gìao Hà-nội lắc đầu nguầy nguậy, chối phăng :

– Việc đó chúng tôi không có thẩm quyền. Mặt Trận Dân tộc Giải phóng đâu có dính dáng gì đến chúng tôi. Chúng tôi không biết, không thể làm vừa ý các ông được.

Nếu là “bồ bịch” thuộc phe “xã hội chủ nghĩa” thì Bộ Ngoại Giao Hà-nội trả lời theo kiểu khác :

– Việc đó để chúng tôi thảo luận lại với “Mặt Trận”. Chúng tôi sẽ chuyển đến Mặt Trận lời yêu cầu của các đồng chí. Nhưng được hay không chúng tôi xin không hứa gì cả. Các đồng chí thông cảm cho.

Thấy vận động thẳng với Hà-nội không kết quả, họ mới sực nhớ ra rằng họ đã vô tình “chơi xấu”, đưa “Hà-nội” vào một thế khó xử bởi cái khuôn khổ của Hiệp định Genève và công pháp quốc tế. Số ký giả đó, bay thẳng sang Nam Vang. Chả là Nam Vang gần biên giới Tây Ninh, vùng được xem là căn cứ của Mặt Trận của Nguyễn Hữu Thọ và tại Nam Vang có trụ sở của phái đoàn Đại diện Thương mãi của Hà-nội do Ca văn Thinh là Trưởng đoàn. Trụ sở của phái đoàn Đại diện Thương mãi là cơ sở liên lạc thường trực giữa Mặt Trận, Trung Ương Cục Miền Nam và Trung Ương Đảng Miền Bắc.

Ký giả “phe Xã hội chủ nghĩa” thì hy vọng ở phái đoàn Đại điện Thương mãi, sẽ vận động xin “nhập cảnh” chiến khu giúp. Ký giả phe “đế quốc” thì đến Nam Vang o bế Sihanouk, hy vọng ở sự giúp đỡ của Sihanouk, vì tuy không nói ra nhưng các ký giả đều rõ rằng nếu không có sự làm lơ của Sihanouk, hoặc ủng hộ ngầm thì Sihanouk đã “la làng” chói lói khi “thiên hạ” lấy biên giới mình làm căn cứ. Nhiều lúc còn kéo sâu vào nội địa mình mà xây cất căn cứ nữa. Sihanouk vốn đã bẻm mồm bẻm mép, to tiếng có danh, chuyện gì một chút cũng có thể suýt ra to, tại sao “Mặt Trận” chiếm vùng biên giới, xử dụng đất Miên như đất nhà, Sihanouk biết quá rõ vẫn làm thinh ? Không chỉ làm thinh, còn bênh vực một cách rõ ràng khi Việt Nam Cộng hòa phản đối, phàn nàn việc trên, Sihanouk làm bộ mời ký giả ngoại quốc, quan sát viên ngoại quốc và Ủy hội quốc tế đi xem xét.

Nhưng xem xét, điều tra cái nỗi gì khi toàn rừng rậm, đường xe không có, cả cái đường mòn đặt chân được đôi giầy không bị gai mây ngăn cản , cũng không thì điều tra quan sát chỗ nào ? Đi xe đã không có đường. Đi bộ mạc veston, thắt “cà la oách” lội sình, càn rừng à ? Vô lý! Vậy chỉ có bay trên trời. Bay lên trời còn có thể thấy gì trong rừng rậm âm u ? Hòa cả làng.

Biết rõ như vậy, nếu được Sihanouk hứa giúp đỡ, hứa vận động dùm thì một lời nói của Sihanouk đáng giá 1000 ký lô. Đến Nam Vang, dù chả được ai giúp đỡ, chả được ai cho “nhập cảnh” đi nữa, việc săn tin, “đánh hơi” tin tức vẫn dễ đàng hơn bất cứ nơi nào khác. Ngoài việc tìm tòi nghe ngóng đánh hơi riêng, ký giả còn được các tình báo viên quốc tế cung cấp nữa .

Do đó, không ai lấy làm lạ khi thấy cái nước “Cam bô dia” bé tí xíu chả có việc gì đáng cho thế giới quan tâm mà ký giả quốc tế lại hàng đàn, hàng đống ở chật cả mấy Hotel, ăn chực nằm nhờ năm này đến tháng nọ, suốt mấy năm liền. Cho đến 1966 Sihanouk “làm eo, làm sách” lấy cớ có một số ký giả quốc tế lợi dụng Cam-bốt để mưu tính những chuyện ngoài ý muốn của Cam-bốt. Đã vậy còn “xuyên tạc” nói xấu Cam-bốt và Thái tử quốc trưởng, nên Cam-bốt chỉ cho phép một số ký giả “trong sạch”, một số ký gìả biết điều “nhập cảnh” vào Nam Vang thôi. Để chứng tỏ ta đây là vô tư, Sihanouk ra thông cáo công bố cho thế giới biết sự hạn chế đó, chọn lọc đó nhằm vào cả hai phe, ba phe, không phải chỉ riêng phe “đế quốc tư bản” mà thôi.

Kết quả của các cuộc chạy đua đến Nam Vang thế nào ? Hoàn toàn là con số không !Kể cũng buồn!

Trường hợp của Burchett đặc biệt hơn. Burchett vận động bằng một kiểu cách khác – kiểu cách của Đảng. Nghĩa là Burchett báo cáo với Đảng Cộng sản Úc về chương trình công tác của mình. Đảng Cộng sản Úc liền viết thư giới thiệu đến Trung Ương Đảng Lao Động ở Hà-nội, xin chấp thuận cho phép Burchett vào thăm và tham quan cuộc “kháng chiến chống Mỹ Diệm” tại chiến khu ở Miền Nam. Trung Ương Đảng, Bộ chính trị Đảng Hà-nội cứu xét, chấp thuận lời yêu cầu trên liền thông báo và ra lệnh cho Trung Ương Cục Miền Nam, chuẩn bị cuộc tiếp đón. Mặt khác, viết thư trả lời cho Đảng Cộng sản Úc, hướng dẫn cách đến Miền Nam cũng như kế hoạch tiếp xúc mà Hà-nội đã trù tính.

Burchett không đến Hà-nội, cũng không cần đến Nam Vang trước khi vào chiến khu. Vì như vậy, sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong chuyến đi. Thủ tục “nhập cảnh” vào giang sơn của “R”, đối với Burchett là thủ tục thông thường của hệ thống Đảng.

Điều cần nên nói thêm, không phải bất cứ ký giả nào thuộc “12 nước phe Xã Hội Chủ Nghĩa” được Ban Chấp hành Trung Ương Đảng của nước mình giới thiệu đến Trung Ương Đảng Hà-nội là đều được chấp nhận. Trước cũng như sau Burchett, có hàng chục trường hợp tương tự của những ký giả báo “IZ VESTIA”, ·PRAVDA” (Nga) rồi của các ký giả Cộng sản Ý, Hung, Tiệp, Ba lan v.v… Những ký giả trên không được chấp nhận. Lý do được viện dẫn trả lời là “an ninh không được bảo đảm” hoặc “tình hình chưa cho phép”. Thực sự chỉ vì khuynh hướng của các Đảng Cộng sản Châu Âu không tán thành mấy đường lối đấu tranh vũ trang trong “cuộc cách mạng Miền Nam” khi Việt Nam đang ở tình trạng phân đôi Nam Bắc, có sự ràng buộc về pháp lý bởi hiệp định Genève, nhất là đường lối đấu tranh bằng vũ lực trong tình hình thế giới hiện tại, có thể đưa đến chiến tranh cục bộ như chiến tranh Triều Tiên. Hậu quả có thể vượt quá phạm vi cục bộ trở thành chiến tranh thế giới thứ ba! Và riêng những cá nhân ký giả được giới thiệu, tư tưởng, lập trường qua những bài báo đã viết không phù hợp với tư tương, lập trường của Hà-nội.

Đối với Đảng Cộng sản Úc, là một đảng Cộng sản nhỏ đang trong giai đoạn phát triển và đấu tranh với các đảng phái khác đang cầm quyền tại Úc, dầu sao, khi chưa cầm quyền được cũng phải đấu tranh tích cực hơn. Và Burchett qua những bài báo đã viết, hoàn toàn ủng hộ, tán thành lập trường của Hà-nội. Hà-nội rất cần những ký giả như Burcherre để lên tiếng thay cho mình trên thế giới, tạo ảnh hưởng rất lớn trong việc trình diện tổ chức “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam”, tuyên truyền cho nó, gây tiếng vang cho nó, mục đích làm cho thế giới chấp nhận sự hiện hữu ít ra là trên phương diện ngoại giao quốc tế. ‘

Theo kế hoạch đã định, Burchett đến thẳng Sàigon bằng con đường công khai, hợp pháp như các kỷ giả quốc tế khác. Tại đây sẽ có người đến liên lạc, tiếp xúc với Burchett và đón Burchett vào chiến khu.

Có lẽ các cơ quan an ninh Sàigòn dạo đó chưa có đủ nguồn tin để xác nhận mục đích của Burchett đến Sàigòn, chỉ biết đó là một ký giả cộng sản đến Việt Nam nên chưa theo dõi đúng mức, lạc mất dấu Burchett ở ngoại ô Sàigòn vào một buổi sáng. Sau đó, Burchett được một thiếu phụ đóng vai “bồ bịch” cùng ngồi xe đưa đi trên con đường Tây Ninh, đổ bộ xuống một đồn điền cao su nhỏ ở Trảng Bàng. Một tiểu đội cảnh vệ đặc biệt của I-4 nằm chờ sẵn, đưa về Hố Bò ngay trong đêm. Chỉ huy tiểu đội cảnh vệ là một đại đội trưởng, cán bộ mùa thu, nói tiếng Pháp rất thạo. Ngoài viên đại đội trưởng còn có Khu ủy viên dự khuyết của Khu ủy I-4 – Ba Nghị. Ba Nghị giỏi tiếng Pháp còn thông thạo cả Anh và tiếng Trung Hoa.

Hành lý cua Burchett gồm có một vali nhỏ, một máy đánh chữ xách tay, và một máy chụp ảnh Minolta. Xuống xe, Ba Nghị bắt tay chào hỏi và giới thiệu các đồng chí của mình với Burchett xong, liền đưa cho Burchett một đôi dép râu để thay cho đôi giầy da bóng. Tiểu đội cảnh vệ chia nhau mang hành lý cho Burchett. Sau đó, cả đoàn đưa nhau lên xe đạp chạy một mạch.

Mười hai giờ đêm, Burchett về đến Xóm Chùa thuộc khu vực Hố Bò. Burchett nhìn thấy các đồng chí Cộng sản Việt Nam của mình mặc đồ bà ba đen, giống như những nông dân địa phương mà Burchett gặp trên đường đi nên đề nghị với Ba Nghị xin một bộ đồ bà ba đen. Như đã cho may sẵn từ trước, Burchett thỏa mãn yêu cầu ngay với bộ đồ bà ba ngoại khổ, hợp với tầm vóc của Burchett bằng vải popeline đen.

Ba Nghị đưa Burchett đi tắm sau giếng, thay đồ bà ba, vào nhà thì bữa ăn tối đã được dọn xong. Đèn Hoa kỳ đốt sáng choang. Người ta thấy trên bàn nào là gà rôti, bò bít tết, cải xà lách Đàlạt, cà chua, bánh mì v.v..Nói chung là một bữa ăn Tây hoàn toàn, rất ngon, có cả rượu Mạc-ten, nước đá. Sửa lại cặp kính gọng vàng trên sóng mũi, Burchett cười toét miệng đến mang tai, ngạc nhiên hết sức về cái bữa ăn đầu tiên ở “vùng giải phóng” này. Burchett không ngớt lời cảm ơn. Qua câu chuyện trao đổi với Ba Nghị, Burchett phát biểu ý kiến rằng khi còn ở Úc cũng như lúc đến Sàigòn, Burchett quan niệm chiến tranh du kích ở đây, phải trốn chui, trốn nhủi, trong rừng sâu, trong bụi rậm, thiếu thốn, đói khát, gian khổ làm gì có được một bữa cơm ngon. Bây giờ, thực không ngờ! Burchett phục lắm.

Căn nhà được Khu ủy l4 mượn để đón Burchett là một căn nhà ngói kiểu xưa, nền gạch, vách ván bổ kho, mái thấp. Trước sân có trồng mấy chậu kiểng. Giữa nhà, để một cái tủ thờ, lư hương chân đèn bằng đồng chùi bóng. Trên có treo liễn, hoành phi, làm Burchett thấy lạ mắt, cứ nhìn mãi. Nhà đó là nhà của một cán bộ ở xã. Burchett nói với Ba Nghị muốn được chào chủ nhà và cảm ơn. Lúc đó vợ chồng chủ nhà đã thức và mấy cô con gái đang nép sau cửa buồng, ngơ ngác nhìn “ông Tây” ký giả không chớp mắt, thỉnh thoảng bình phẩm vài câu thích thú, buồn cười cái bộ bà ba đen đang mặc trên người ông ta.

Gia đình bà chủ nhà chưa hề được biết trước về nhân vật mũi cao này. Mãi cho đến khi chiều, thấy “các đồng chí” đóng ở nhà mình đi mua chở về nào gà, nào thịt bò, rau cải, bánh mì, đồ nấu, rượu v.v… rồi ai nấy lăng xăng, không khí coi bộ nhộn lên giống nhà có giỗ, hỏi đồng chí “anh nuôi” mới từ đâu đưa lại :

– Nè chú ! Chiều nay mấy chú làm gì coi bộ lăng xăng quá vậy ? Bộ tổ chức liên hoan hả ?

– Không phải, bác ! Mình sửa soạn đón một nhà báo ngoại quốc!

– Người nước nào vậy?

– Tôi cũng không rõ, chắc Tây U gì đây! Tôi chỉ được cấp trên phổ biến là chuẩn bị một bữa ăn Tây để phục vụ cho một nhà báo ngoại quốc. Ngoài ra chưa biết gì thêm.

Bây giờ, khi Ba Nghị đưa Burchett về đến thì ông chủ nhà đi họp ở xã cũng vừa về, vào buồng thay đồ đánh thức vợ đậy để coi ông Tây, hỏi vợ xem thằng ngoại quốc nào, ở đâu đến, vì suốt ngày ông ta không có mặt ở nhà nên không biết. Mấy cô con gái lớn đang ngủ nghe ồn ào, biết nhà báo ngoại quốc đã đến cũng lóp ngóp bò dậy nhìn xem mặt mũi ra sao.

Nghe Burchett muốn chào chủ nhà, Ba Nghị mỉm cười gật đầu, đảo mắt nhìn quanh và gọi :

– Chú Tư ơi ! Mời chú Tư ra chơi, chú Tư.

Ông chủ nhà ngỡ ngàng, cài nút áo cổ, bước ra.

Burchett đưa tay bắt, cười và nói một hơi. Ba Nghị dịch lại cho biết Burchett có lời chào cảm ơn sự tiếp đón của gia đình. Ba Nghị cũng nới thêm :

– Đây là đồng chí “Bớc Sét” của ta, một đảng viên của đảng Cộng sản Úc đại lợi, là một ký gìả ngoại quốc nổi tiếng đến thăm và tham quan cuộc “kháng chiến chống Mỹ – Diệm” của chúng ta để viết bài giới thiệu và cổ võ cho chúng ta trên báo chí thế giới.

Bỗng nhiên có tiếng vỗ tay hàng loạt của mọi người đứng chung quanh. “Bớc Sét ” cười toét miệng, cũng vỗ tay theo.

Bảy giờ sáng hôm sau, “R” nhận được điện của I-4 báo là “đồng chí Bớc Sét đã đến” và xin chỉ thị của Trung Ương Cục. I-4 cho biết là “Bớc Sét” yêu cầu được ở lại các xã vùng đồng bằng quanh Sàigòn để theo các đội du kích quay một cưốn phim, quan sát sinh hoạt, đời sống của “Nhân dân vùng giải phóng”. “R” lập tức trả lời là không chấp thuận, phải đưa Burchett về “R” ngay. Hạn chế sự tiếp xúc với nhân dân, với các tổ chức khác, hạn chế đến tối đa tầm mắt cũng như việc đi lại của Burchett. Khi “R” tiếp xúc trực tiếp Burchett, điều nghiên kỹ càng mới quyết định sau. Vậy là Burchett được nghe trả lời : “Vì là lệnh của “Cấp trên” nên chúng tôi không dám tự chuyên. Xin mời đồng chí hãy đến gặp Trung Ương Cục và Mặt Trận. Trung Ương Cục sẽ giúp đồng chí toại nguyện”.

Điều đó có nghĩa : tuy Burchett là đảng viên Cộng sản, quan điểm cá nhân xuyên qua báo chí có phù hợp đường lối Hà-nội phần nào nhưng toàn bộ tư tưởng của Burchett, Trung Ương Cục Miền Nam chưa được rõ. Mặt khác, về nguyên tắc làm việc, phương châm của Đảng bao giờ cũng là “chuẩn bị tốt” ! Chưa “điều nghiên”, chưa chuẩn bị chu đáo, chưa có kế hoạch, chưa làm! Những hình ảnh Burchett thu vào ống kính là những hình ảnh tuyên truyền. Những lời nói, những con người, những sự kiện trong thiên phóng sự của Burchett sau này là những yếu tố hết sức quan trọng, nó có tính cách “điển hình cho khí thế cách mạng”. Vậy tất cả những thứ đó cần phải được chuẩn bị trước, “dàn cảnh” cho chu đáo. Phải tập tành, phải học tập cho thuần thục. Rồi còn vấn đề bảo vệ an ninh, vấn đề phòng gian bảo mật v.v… Đủ thứ chuyện.

Từ Hố Bò, Burchett được một tiểu đội hộ tống lên Lộc Thuận, qua Cầu Xe, xuyên rừng Bời Lời đến suối Ông Hùng, vượt sông Bà Hão về thẳng căn cứ Trung Ương Cục ở biên giới Tây Ninh Căm-bốt. Burchett đang còn trên con đường đi về căn cứ Trung Ương Cục thì suốt mấy ngày liền, Thường vụ Trung Ương Cục bận tíu tít lo chuyện tiếp đón. Nào là họp Thường vụ bàn kế hoạch, chương trình, phân công người phụ trách theo dõi, nào cho dọn dẹp nhà cửa, trang trí, nào là thảo kế hoạch chi tiết để chỉ thị cho những nơi mà Burchett sẽ được Trung Ương Cục cho phép đến.

Theo chương trình cưộc hoạch định đó, Burchett sẽ đến thăm các nơi như Bộ Chỉ huy “R”, Văn phòng Mặt Trận của Nguyễn Hữu Thọ, thăm Đài Phát thanh Giải phóng, gặp các giới, các thành phần của Mặt Trận, đi thăm các cơ sở Hậu cần “R”, khu B, đi thăm Q-761 và du kích I-4. Thời dụng biểu cho cuộc tiếp xúc của Burchett được Trung Ương Cục tính chi ly từng ngày. Ngày nào Burchett đến Bộ Chỉ huy “R”, ngày nào gặp Nguyễn Hữu Thọ, ngày nào đến đơn vị hậu cần khu B, ngày nào đến Công trường của B-1, ngày nào đến bệnh viện 320, ngày nào đến Q-761, ngày nào trở lại I-4 v.v… Tất cả đều sắp xếp trước, chỉ thị về mục đích yêu cầu, cách tiếp đón ra sao, ăn uống sinh hoạt thế nào v.v… đủ cả. Bộ phận điện đài của của B-1, cứ “tic tít ta ta” suốt ngày cho các đơn vị xa. Các đơn vị gần thì giao liên, cần vụ mang thư,mang chỉ thị chạy vắt giò lên cổ. Khổ nhất có lẽ là mấy anh em tiếp phẩm, bộ phận quản lý của các nơi mà Burchett sẽ đến. Khổ vì phải chạy chọt, khiêng vác những thứ thực phẩm đặc biệt mua tận đồng bằng hoặc ở Thị xã Tây Ninh hay tận Sàigòn. Thịt cá, gà vịt, rượu trà, rau cải đồ nấu v.v… Phải chi chỉ có một mình Burchett ăn cũng không đến nỗi gì lắm. Một mình Burchett, ăn nhậư có là bao, và dù có cực khổ để chiều khách cũng thấy vui. Đàng này, không phải chỉ mỗi Bưrchett mà còn có “cấp trên”, các cán bộ cao cấp đi theo, còn có Ban chỉ huy đơn vị “tham gia hưởng thụ” nữa. Cái đám cán bộ tẹp nhẹp và chiến sĩ quèn thì đừng hòng. Ngay những anh chị em tiếp phẩm là những người nai lưng ra cõng, vác, khiêng, lội bộ rã giò hàng mấy ngày đường những thứ thực phẩm đó còn chẳng được chấm mút miếng nào thì nói chi ai.

Nếu Burchett biết trước rằng cái chuyện mình đi làm phóng sự, quảng cáo cho cái gọi là “cuộc cách mạng thần thánh chống Mỹ-Diệm” gây nên không biết bao nhiêu điều vất vả cho các “đồng chí công nông” của. mình, chắc Burchett đã từ bỏ ý định này. Giá trị thực sự những điều tai nghe mắt thấy trong chuyến đi đều là những màn dàn cảnh được tập dượt chu đáo nhiều ngày của một vở kịch lớn có nhiều đạo diễn thiện nghệ, chứ không phải những hình ảnh bất chợt, những sinh hoạt bình thường, hoặc một hiện trạng được phơi bày rõ nét. Biết thêm được điều này nữa, Burchett còn buồn biết bao nhiêu.

Nhưng tại sao Trung Ương Cục quan trọng hóa chuyến đi thăm của một ký giả quèn như Burchett đến như vậy ? Điều đó quá rõ ràng, không ai không hiểu. Quan trọng vì những điều Burchett nghe thấy ở đây, Burchett sẽ ghi lại bằng lời, bằng hình ảnh đăng trên báo chí ngoại quốc để giới thiệu Mặt Trận. Về mặt tâm lý, việc tiếp đon Burchett có chu đáo, có biểu hiện sự “nồng hậu”, “thân thiết nhất” nó mới gây hứng thú, mới thuyết phục dược tình cảm và lập trường, tư tưởng Burchett đi theo chiều hướng vận động của cộng sản Việt Nam. Dù cùng phe, dù là “đảng anh em”, Burchett vẫn là con người thích người khác đề cao, kính trọng, quan trọng hóa mình.

Để tạo nên những sự kiện, những hình ảnh nổi bật điển hình, đúng theo ý muốn của mình, Trung Ương Cục Miền Nam cần phải dựng vở, cần phải tập dượt, đạo diễn kỹ càng các màn được thực hiện. Đảng bảo rằng “Tuyên truyền là phân nửa lực lượng kháng chiến “, có Burchett đóng góp vào một tay, điều đó quả hết sức cần. Cho đến nay, Tổng thư ký LHQ, U-Thant, còn bảo rằng Mặt Trận là một tổ chức quần chúng không dính dáng gì đến Cộng sản Miền Bắc, rồi nếu còn có một số lớn các nhân vật tên tuổi trên thế giới cũng hiểu như U-Thant, nếu còn có nhiều quốc gia mù tịt chưa hiểu rõ về cuộc chiến tranh này thì cái “‘phân nửa lực lượng kháng chiến” đó biết đâu chẳng là có sự đóng góp một phần của Burchett.

Đi sâu vào cụ thể, ta thấy việc chuẩn bị được nghiên cứu rất chi li. Burchett không biết tiếng Việt, đó là một lợi điểm về mặt lý luận. Nghĩa là khi phỏng vấn bất thần một vài chiến sĩ, cán bộ nào đó, Burchett không có thông dịch viên do Đảng cung cấp thì đành cưa tay, không làm sao thực hiện được. Ngôn ngữ bất đồng, cứ bi bô, ra dấu thì có cũng thành không, làm sao diễn tả được lý luận ? Còn qua tay thông dịch viên là tay có lý luận thao thao bất tuyệt, đã được học tập trước, phổ biến trước hướng căn bản cần phải trả lời thì người bị phỏng vấn có nói bậy, thông dịch viên lại dịch đúng, Burchett “Tết” mới khám phá được.

Với những người biết tiếng Pháp hay tiếng Anh, Trung Ương Cục chỉ thu xếp cho gặp những người của họ, được Trung Ương Cục tin cậy hoàn toàn về lập trường, về lý luận Mác Lê. Mặt khác, hướng trả lời đã được “đả thông” trước, không được tùy tiện trả lời theo ý nghĩ cá nhân mình.

Cho nên khi Burchett chưa về tới “R”, Trung Ương Cục đã cho mời Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Tấn Phát, Trần Bạch Đằng và Nguyễn văn Hiếu bên Mặt Trận, (những nhân vật đó đều là đảng viên kỳ cựu, toàn là Ủy viên Trung Ương Cục) về Trung Ương Cục để họp thảo luận về cách tiếp đón, về vấn đề tham quan, về sự chọn lựa người tiếp xúc và nhất là “mớm” trước cho Nguyễn Hữu Thọ những câu trả lời, trình bày quan điểm phù hợp với đường lối của Đảng.

Hậu cần “R”, Hậu cần khu B cũng đã nhận được chỉ thị về việc “Bớc Sét” để đến tham quan “tinh thần cách mạng qua sự gian khổ, chịu đựng, thiếu thốn để hoàn thành những công tác khó khăn” v.v…

Những đơn vị được chỉ định tiếp Burchett, hết cấp ủy họp thì chính quyền họp, đoàn thanh niên lao động họp. Ban ngày lo việc sửa sang doanh trại, sửa hố, sửa hầm, quét dọn đường đi, bày biện, thực hiện trật tự nội vụ. Ban đêm tập họp toàn đơn vị để học tập cách đi đứng, ăn nói, cách làm việc và động viên chính trị.

Ở Hậu cần khu B, như trong một màn quan sát việc chuyển gạo qua sông, và thồ thực phẩm đường rừng, họ đã giả vờ thả lỏng cho Burchett đạp xe đi một mình, không cho thông dịch viên theo nên Burchett tha hồ chụp hình, tha hồ nhìn thấy sự chịu đựng gian khổ quá độ, nhưng Buchett muốn nói chuyện, muốn biết ý kiến, tâm tình của chiến sĩ, Burchett thực lúng túng không biết phải làm sao, Burchett cứ khoa chân, múa tay, miệng thì ư e, có gắng làm cho người đối thoại hiểu mình muốn nói gì, mấy anh lính hậu cần cứ trơ mắt ếch rồi cười rũ ra. “Gian khổ mà vẫn vui cười” đó là yêu cầu đã được trình diễn dưới mắt của Burchett trong cuộc tiếp xúc một mình này.

Nói chung tất cả các nơi mà Burchett đến, công thức chuẩn bị đều y như nhau.

Đối với I-4, Trung Ương Cục cho rằng sinh hoạt của “nhân dân chống Mỹ – Diệm” mới là hình ảnh sống động nhất, giới thiệu cho Burchett những nét độc đáo về du kích chiến tranh. Vì vậy, để việc chuẩn bị cho thật chu đáo, không có sơ hở, lỗi lầm về kỹ thuật, lúc mới đến Hố Bò, “R” điện cho I-4 gởi gấp Burchett về “R”, hạn chế tiếp xúc, hạn chế tầm mắt của Burchett lại.

Khi Burchett về “R” rồi, chừng đó “R” mới chỉ thị cho I-4 chọn thí điểm, chọn điển hình, chuẩn bị sẵn một khung cảnh thích hợp để cho Burchett trở lại I-4 lần sau, trước khi rời khỏi Hố Bò đến chiến khu. I-4 tập trung nhân lực, đưa nhiều đoàn cán bộ đi nghiên cứu các địa phương. Sau cùng, vùng được chọn là Củ Chi, lấy xã Trung Lập làm tiêu điểm và điển hình là đội nữ du kích.

Nhưng đội nữ du kích chưa có thì làm thế nào? Chưa có thì tạo cho nó có. I-4, chỉ thị các địa phương, mỗi địa phương chọn một số thanh nữ đoàn viên dạn dĩ, gan lì nếu sẵn là nữ du kích hiện đang hoạt động càng tốt. Những thanh nữ đó được gởi ngay đến Hố Bò để chọn lấy một tiểu đội cho học gấp rút về cơ bản quân sự và động tác cơ bản thao diễn như nghỉ, nghiêm, đi đều, quay trái, quay phải, đứng bắn, nằm bắn, yếu lĩnh xạ kích, lăn, bò, chạy v.v…

Cô em Nguyễn thị Gừng, hơ hớ 18 xuân xanh ở Trung Lập được chọn làm tiểu đội trưởng. Trong khi các cô em đi học quân sự, thì ở nhà, du kích các nơi được tập trung đưa đến xây dựng lại hệ thống phòng thủ, làng chiến đấu, và hệ thống địa đạo. .Thực là một vở kịch lớn, quá đông đảo diễn viên.

Hơn tháng sau, mọi công việc chuẩn bị đã xong.

Tiểu đội nữ du kích cũng đã khá thành thạo, liền trang bị cho mỗi chư vị một súng Carbine và 5 gấp đạn, nón vải xanh đội đầu, thắt lưng Mỹ cài đầy lựu đạn, bình ton, dép râu, bồng bị v.v… đủ cả. Cô em nào đuôi tóc cũng đài, quất qua quất lại sau lưng. Mặc đồ bà ba đen quần cột ống, thắt lưng ngoài áo, trông cũng “co ” ra phết. Các cô em được đưa về Trung Lập dượt lại vài hôm thì Burchett xuống đến Hố Bò. Tiểu đội nữ du kích được đưa đến trình diện. “Người ta” giới thiệu rằng đó là tiểu đội nữ du kích của một xã đã từng tác chiến cừ ra phết, lập được nhiều chiến công cho nên tiều đội này được chỉ định làm tiểu đội chiến đấu, theo bảo vệ cho Burchett trong thời gian ở I-4. Tiểu đội này cũng sẽ đưa Burchett về xã mình chơi, xem các cô đánh giặc, vì xã của mấy cô đó là một “vùng yếu “, có đồn bót địch và trục lộ giao thông. Không riêng gì xã mấy cô này, những xã khác, xã nào cũng đều có đội nữ du kích, vì phụ nữ Việt Nam ngày nay tiến bộ vô cùng, nhất định không chịu thua nam giới bất cứ phương diện nào, giác ngộ cách mạng lại cao. Được giới thiệu, các cô cũng tập họp một hàng dọc, so hàng điểm số, cũng quay phải, quay trái, báo cáo, chào súng. Tiểu đội trưởng Nguyễn thị Gừng cũng mang súng lục đưa tay ngang mày chào như ai.

Burchett nghe trình bày, tường thuật, đứng đờ người ra. Hình anh trước mắt đã rõ ràng quá, không tin sao được. Burchett đưa máy ảnh lên bấm lia. Dĩ nhiên là Burchett phục sát đất, phục lăn ra tưởng chừng như mình đứng trước đội nữ binh Do Thái.

Sau đó, Burchett tháp từng theo đội nữ du kích này về Trung Lập phục kích đánh giặc, sống với họ hai ngày dưới chiến hào và luồn qua những địa đạo. Cũng may, hai ngày sống với đội nữ đu kích này, không gặp trận đụng độ nào. Nếu có, chẳng biết tình hình lúc đó sẽ ra sao ? Và Burchett có còn sống được để mà viết phóng sự không ? Nhờ không đụng trận nào nên Burchett được nghe người ta giải thích rằng vì uy danh và thành tích anh dũng ngoan cường, tài thiện chiến của đội nữ anh hùng du kích, giặc sợ hãi, chôn chân ở đồn bót không dám đi đâu cả. Du kích giữ làng hữu hiệu như vậy đó. Rồi quan sát hệ thống phòng ngự với những hệ thống mìn, đạp lôi, lựu đạn gài, hầm chông chằng chịt, Burchett lại càng tin hơn nữa.

Quả là một vở kich diễn khéo, đạt yêu cầu hết sức. Có lẽ, cho đến ngày nay, Burchett ngủ vẫn còn nằm mơ hình ảnh đội nữ đu kích Cộng Sản Việt Nam. Sau lần đó, Burchett lại được đội nữ du kích hộ tống trả trở về “R”, sang Nam Vang rồi ra Hà-nội. Để tuyên truyền, quảng cáo, làm hậu thuẫn cho Burchett, đài Phát thanh Hà-nội, đài Giải phóng, báo chí mở ra một chiến dịch nói về Burchett và chuyến đi của ông ta.

Làm như vậy để Burchett càng hài lòng, viết bài ca tụng mạnh hơn, ủng hộ mạnh hơn cái gọi là chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích ở Miền Nam Việt Nam nhất định thắng đế quốc Mỹ.

Hai năm sau, 1964, quen mùi, thấy làm ăn khá, Burchett trở lại khu B bằng ngõ Nam Vang một lần nữa. Cùng đi với Burchett có một nữ đồng chí Cộng sản Pháp, vợ của Nguyễn Đình Thi (Tổng thư ký Hội Nhà Văn Miền Bắc), làm được vài câu thơ nên người ta cũng lại quảng cáo ầm lên rằng nữ thi sĩ nổi danh đất Pháp, Madeleine Riffaud, đến tham quan cuộc chiến tranh du kích Miền Nam. Người ta bảo rằng Madeleine là một thi sĩ tài ba và cũng là một nhà báo đáng nể. Riêng Burchett có một giá trị lớn lao, ông ta viết mỗi chữ về cuộc chiến tranh Miền Nam, báo chí thế giới phải trả đến ba bốn đôla. “Đồng chí Bớc Sét” lẫy lừng như thế đấy!

—> “Đồng chí Tốp”
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s