Về “R” (Kim Nhật)- Phần IV

PHẦN IV

KHUNG TRỜI MỘT GÓC RIÊNG

1- MUỜI LĂM NGÀY PHÉP

Chế độ được nghỉ phép mỗi năm 15 ngày là chế độ công chức, quân nhân miền Bắc, theo nếp sống chính quy. Chiến trường du kích miền Nam này làm gì có chế độ đó. Nhưng, kể từ khi có phong trào hồi kết cán bộ mùa Thu, nó cũng được du nhập vào Nam. Trên giấy tờ, trên thông cáo chính thức, có qui định hẳn hòi của Cục Chính trị thì chưa, thực tế thì nếp sống chính quy đó được áp dụng ở nhiều nơi tại các đơn vị trực thuộc “R”.

Vấn đề nghỉ phép là vấn đề hết sức phức tạp, không đơn thuần như người ta tưởng. Phức tạp vì nó không là một chế độ bắt buộc theo nguyên tắc, vì nó còn tùy thuộc vào nhu cầu công tác, tùy thuộc vào tư tưởng lập của mỗi cá nhân. Nó tùy theo tình huống và tùy hứng của Ban Chỉ huy, nhất là Chính trị viên của đơn vị.

Ở nhiều đơn vị của “R”, cán bộ chiến sĩ luân phiên nhau nghỉ phép hàng năm, coi như đó là một quyền lợi đương nhiên phải được tôn trọng, công bằng và đồng đều. Trái lại nhiều nơi khác, cũng ở những đơn vi trực thuộc “R”, việc nghỉ phép lại được xem như một sự chiếu cố đặc biệt, một ân huệ, một hình thức tưởng thưởng công lao, một hình thức xác nhận sự trung thành với Đảng nhiều hay ít.

Có một số người am tường phần nhỏ nào về sinh hoạt và nếp sống của đối phương, không thấu đáo hết, không nắm vững được ý thức “chính quy hóa chiến trường du kích miền Nam” của đối phương nên sự am tường của họ ở hai thái cực khác nhau. Có người, khi nghe bảo ở trong Chiến khu, đối phương vẫn cho cán bộ chiến sĩ của họ được nghỉ phép thăm gia đình, hoặc liên lạc gia đình hàng năm thì họ không tin lại còn bảo :

– Láo! Việt Cộng làm gì có cái chuyện được nghỉ phép. Đừng có láo quá như thế.

Nhưng có người khi nghe bảo ở Chiến khu đối phương không cho nghỉ phép thì họ lại cười :

– Đừng láo ! Tôi biết rất rõ người nào cũng được mười lăm ngày phép mỗi năm. Đó là một nguyên tắc, một hình thức động viên tinh thần của họ.

Cả hai cách hiểu đều không được chính xác.

Như ở Khu A, giữa rừng sâu Phước Thành, bên kia bờ sông Bé, tức vùng đông bắc Chiến khu D cũ, Đảng ủy Khu A chủ trương không có chế độ nghỉ phép. Khu A được đề cao là khu gian khổ nhất trong các khu vực hậu cần “R”. Sự hy sinh vô điều kiện của toàn thể cán bộ, chiến sĩ là một đòi hỏi của Đảng. Họ tạo thành một định kiến cho mọi người, hễ ai muốn xin phép về thăm nhà, liên lạc gia đình là ý thức cách mạng kém, còn nặng tình cảm cá nhân. Muốn nghỉ phép phải làm đơn theo hệ thống, đưa ra tập thể nhận xét góp ý kiến,

Thủ trưởng đơn vị duyệt lại và phê phán thêm, sau đó gởi thẳng về Ban Chính trị Khu A để nghiên cứu rồi quyết định sau.

Đảng ủy Khu A quan niệm rằng, Khu A là khu gian khổ nhất, lại là ải địa đầu của Nam Bộ đón các cán bộ mùa Thu về Nam theo “đường dây Ông Cụ”. Cán bộ chiến sĩ Khu A biết nhiều thứ bí mật của Đảng. Cho họ đi phép, tức là cho họ về đồng bằng thăm nhà, hoặc nhờ người “móc” đến thăm. Khi cho họ đi phép, nghĩa là bằng lòng thả lỏng họ ra khỏi rừng sâu Khu A, đến vùng dây thun, vùng xôi đậu, an ninh không được bảo đảm. Từ Khu A về đồng bằng lại xa, phải đi hàng 5-7 ngày đường, nếu tình hình êm, còn động thì lâu hơn nữa.

Đường xa, khó khăn, đời sống Khu A khắc kkổ, biết đâu cán bộ chiến sĩ được nghỉ phép họ chán Khu A, không thèm trở lại ? Ấy là chưa nói những người có mâu thuẫn, “bất mãn” dám dông về Thành luôn, báo cho “địch” rõ tình hình sinh hoạt, bí mật căn cứ, bí mật công tác, nhất là bí mật quốc phòng có phải là nguy hiểm không ?

Do đó, áp dụng nguyên tắc cảnh giác cách mạng cao độ, không ai đi phép hết. Vậy là chắc ăn. Không kể đảng viên quần chúng gì cả, chỉ trừ khi nào có một lý do cần thiết hoặc đơn vị đề nghị tưởng thưởng bằng cách đó hay thương tình “đương sự” lâu năm không gặp vợ con v.v… Lý do rất hiếm hoi. Đảng ủy Khu A rất khe khắt khi xét việc đi phép còn hơn là điều tra nghiên cứu lý lịch để đề bạt cán bộ. Trầy vi tróc vẫy nghiên lên cứu xuống, thẩm tra, xác định tư tưởng, thực là phiền. Có lẽ vì cái chỗ phiền phức mà một phần chiến sĩ Khu A, được dịp về đồng bằng, hay đi công tác ở đồng bằng y như không thèm về Khu A nữa. Thà ở nhà cày ruộng ăn, hay xin gia nhập vào một đơn vị khác. Người ta ghét Khu A không phải vì gian khổ, mà vì chính sách khắc nghiệt, kỳ quái, không ngửi nổi cái lối đối xử lúc nào cũng nghi ngờ.

Khu B, Khu C lại khác. Cán bộ chiến sĩ đi phép như đi chợ. Đi phép hằng năm theo tiêu chuẩn đã đành, mà hễ có dịp đi công tác về đồng bằng, làm một nhiệm vụ gì đó mười bữa, nửa tháng là “kết hợp” thăm gia đình họặc “móc” gia đình. Đơn vị không cấm, không ngăn chuyện đó, nhưng phải báo cáo cho đơn vị biết, thế thôi. Và có thể nói, có lẽ vì khu B, Khu C ở gần Bộ Chỉ huy Ba Cục, với những ông tướng quen tác phong chính quy ở miền Bắc, lúc nào cũng nghi thức, bệ vệ, áp dụng lề lối, sinh hoạt của quân đội chính quy, điều lệnh này qui tắc nọ, nghi thức kia, nên các cán bộ cấp dưới, hầu hết là cán bộ mùa Thu, lại càng vững tin nơi “áp dụng nếp sống chính quy vào chiến trường du kích”, phải chính quy hóa giải phóng quân, nâng cao tính chất hiện đại, khoa học như quân đội miền Bắc.

Nhờ vậy, nhiều khi chiến sĩ trong đơn vị chưa thấy cần, chưa mở miệng xin đi phép, Chính trị viên hay Ban Chỉ huy đã hỏi :

– Sao cậu ? Bộ năm nay không đi phép à ? Coi hôm nào, công việc rảnh rỗi tắp đại về nhà chơi mấy hôm cho nó vui. Chà, bà xã cậu ở nhà coi bộ trông đứng trông ngồi rồi đó!

Nếu là những cán bộ chiến sĩ có gia đình ở Thành hoặc Tỉnh xa, câu nói được đổi khác đi :

– Sao, năm nay ông tính không liên lạc gia đình sao ? Tiêu chuẩn nhà nước dành cho mình, mình cứ hưởng chứ !Nếu thiếu phương tiện, cứ đến quản lý mượn trước năm ba trăm gì đó, nhờ người ta đi móc gia đình. Khi về trả lại, nhằm gì ! Nếu gia đình không tiếp tế thì đơn vị cho luôn, đừng ngại. Chừng nào ông đi, mình viết cho cái thư giới thiệu xuống Chi bộ Xã, họ lo cho.

Nhưng cũng có vài đơn vị gặp mấy tay Chính trị viên “ó đâm”, sợ cho cán bộ chiến sĩ đi phép hoài, công việc ngưng trệ phần nào, không giựt giải thi đua được nên kiếm chuyện để hạn chế việc đi phép. Chấp thuận cũng chấp thuận vậy, nhưng hẹn để khi công tác ít bị ối đọng. Khi công tác chẳng có gì là ối động thì lại bảo :

– Chà ! Chờ ít bữa xem coi ! Mình mới được báo cáo là lúc này tình hình đồng bằng hơi động. Chờ yên một tí rồi đi. Có gì, Ban Chỉ huy chịu trách nhiệm với cấp trên. Nói dại mà nghe, ông mà bị rủi ro dọc đường hay bị giặc nó “thịt” ở dưới đồng bằng, trên này tôi bị kiểm thảo sứt móng chứ phải chơi sao.

***

Riêng đối với các cán bộ mùa Thu từ Bắc hồi kết trở về Nam, Quân ủy Miền có nêu ra một nguyên tắc, một chính sách riêng biệt cho vấn đề nghỉ phép để thăm hoặc liên lạc gia đình. Lúc còn ở miền Bắc, các cán bộ mùa Thu họ đã quen theo nếp sống chính quy, mỗi năm đều được nghỉ mười lăm ngày có lương. Mười lăm ngày nghỉ đó, chỉ tính từ ngày về đến địa phương cho tới ngày rời khỏi địa phương, không tính thời gian hành trình trên đường đi và về. Ở miền Bắc, đại đa số không có gia đình, bà con thân thuộc. Từ Nam theo tập kết nên những ngày nghỉ phép của họ, thông thường là những cuộc đi chơi nhăng, về nghỉ ở nhà người yêu nếu có, hoặc những cha mẹ nuôi, đỡ đầu, hoặc nhà của bạn bè hay tại các công xá của các địa phương, các bãi biển.

Nguyện vọng thiết tha nhất, lớn nhất của cán bộ mùa Thu là khi về đến Nam bộ rồi, họ muốn gặp lại gia đình, gặp lại vợ con, cha mẹ, anh em sau nhiều năm xa cách. Do đó, Quân ủy Miền, nói cách khác là Cục Chính trị “R” phải giải quyết thỏa đáng để tránh những phiền phức, bất mãn, so bì giữa cán bộ với nhau. Điều hệ trọng là gia đình của cán bộ được yên lòng, phấn khởi, góp sức vào việc tuyên truyền vận động cho Mặt Trận ở hậu phương. Nhưng có những gia đình cán bộ lại là công chức, quân nhân của chính quyền Quốc Gia hoặc chán ghét Cộng sản tột độ, chống Cộng rất hăng. Đối với Cục Chính trị “R”, trong những trường hợp này, cán bộ của mình gặp lại gia đình hết sức nguy hiểm, có thể bị gia đình gây ảnh hưởng, lôi kéo, bỏ hàng ngũ trở về với gia đình, hoặc làm cho tư tưởng chiến đấu bị lung lay, đôi khi có thể “phản động”, theo đối phương.

Cục Chính trị “R” đã nêu thành một nguyên tắc : “Các cán bộ mùa Thu không được phép liên lạc gia đình khi chưa được các Chi bộ Đảng địa phương của gia đình, điều tra, xác nhận và bảo đảm là những gia đình tốt. TỐT có nghĩa không theo đối phương, không làm việc cho đối phương, không chống Cộng và có cảm tình với Mặt Trận, với Đảng. Việc quyết định cho đi phép đối với những gia đình “tốt” thì đảng ủy tiểu đoàn trở lên có quyền quyết định, thu xếp cho cán bộ đi phép. Đối với những gia đình lưng chừng, “không tốt”, theo chính quyền Quốc Gia, thì việc quyết định cho phép cán bộ được liên lạc hay không là do Cục Chính trị trực tiếp nghiên cứu và quyết định.

Các cán bộ mùa Thu, việc trước tiên khi về đến “R” là viết thư cho Chi bộ Xã, hoặc cấp Ủy đảng ở địa phương đó, yêu cầu điều tra và xác nhận gia đình mình, viết thư báo cho biết. Thư trả lời của địa phương phải nộp cho Chính trị viên của đơn vị, hoặc Đảng ủy của đơn vị đọc qua, để nắm được tình hình, có biện pháp giúp đỡ cán bộ và trả lời thuận hay không. Nếu cần, sẽ báo cáo về Cục Chính trị “R”. Có thể nói, cán bộ mùa Thu có được nghỉ phép liên lạc gia đình hay không đều do thư trả lời của cơ sở Đảng ở địa phương cho biết kết quả điều tra.

Như vậy, thủ tục xem như đã hoàn tất. Và khi được phép liên lạc gia đình lần đầu thì những lần sau trở thành việc đương nhiên như mọi người khác.

Đi nghỉ phép đối với hạng chiến sĩ hoặc cán bộ A, cán bộ B thì cứ việc khoác bồng lên vai, đến văn phòng của đơn vị lấy giấy đi đường và thư giới thiệu với Chi bộ Xã địa phương nhờ giúp đỡ. Chi bộ Xã địa phương ở đây có hai loại : Nếu gia đình của cán bộ, chiến sĩ thuộc vùng giải phóng, vùng kiểm soát của Mặt Trận thì Chi bộ Xã địa phương tức xã nhà. Còn đối với những cán bộ, chiến sĩ gia đình ở các tỉnh xa, ở Sàigòn Chợ lớn, ở vùng Quốc Gia kiểm soát thì địa phương có nghĩa là xã mà cán bộ chiến sĩ đó đến ăn chực nằm chờ, nhờ người đi xe đò đến gia đình báo tin và dẫn gia đình đến gặp, thăm viếng. Địa phương được chọn làm nơi để liên lạc tiếp xúc giữa cán bộ chiến sĩ và gia đình là những xã gần đường xe, đường tàu, sát vùng Quốc Gia kiểm soát.

Chiến sĩ, cán bộ A, cán bộ B đi nghỉ phép thì đi một mình, nhưng cán bộ từ cấp C, tức Đại đội trở lên đều có cận vệ viên vác súng theo bảo vệ. Cán bộ có cấp bậc càng cao, số cận vệ đi theo càng đông. Đi nghỉ phép liên lạc gia đình cũng được xem như là đi công tác.

Có thể nói, ở các khu vực “R”, chỉ có khu B và Khu C là hai khu mà cán bộ, chiến sĩ được nghỉ phép đều đều hằng năm. Còn Khu A, khu E, khu H là thiệt thòi hơn cả. Và, bên kia sông Đồng Nai, vùng Khu 6, miền Nam Trung bộ thì gần như không biết nghỉ phép là gì.

***

Vùng lý tưởng nhất cho các cán bộ chiến sĩ của Khu B, Khu C dùng làm địa phương đi phép từ năm 1966 trở về trước là các xã dọc theo quốc lộ số 1 như An Tịnh, Gia Lộc, Phước Chỉ, Lộc Hưng thuộc quận Trảng Bàng Tây Ninh và vùng ven sông Sàigòn từ Dầu Tiếng cho đến thị xã Phú Cường, tỉnh lỵ Bình Dương (Bến Củi, Suối ông Hùng, Thanh An, Thanh Tuyền, Bến Súc, Lộc Thuận, Hố Bò chạy dài xuống Phú Hòa Đông). Ở những vùng này, không ngày nào là không có gia đình của cán bộ chiến sĩ “R”, từ các nơi xa xôi như Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bến Tre, Mỹ Tho, Tân An, Sàigòn, Gia Định, tấp nập đến thăm. Những người đi ít bị để ý, dễ dàng nhất bao giờ cũng là những bà mẹ già, những người vợ trẻ và những đứa con. Cho nên nói đến liên lạc gia đình là người ta nghĩ ngay đến việc sẽ gặp vợ con, gặp mẹ, chị em gái của mình. Thỉnh thoảng cũng có những ông cha già nhưng rất hiếm.

Hằng ngày, trên những chuyến xe đò đường quốc lộ số 1,trên những chuyến đò máy, chuyến tàu xuất phát từ Sàigòn, từ tỉnh lỵ Bình Dương đi Tây Ninh, đi Dầu Tiếng không chuyến nào không có những người đi thăm. Những vùng “lý tưởng” này nảy sinh ra một nghề kiếm ăn mới : nghề đi liên lạc gia đình cho những cán bộ “R”. Xóm nào cũng có vài người. Xã nào cũng có hàng chục bà già hay phụ nữ lớn tuổi và vài ông già râu.Chân trời, góc bể nào họ cũng thông thuộc đường lối. Họ chưa hề từ chối bất kỳ một nơi khó khăn xa xôi nào, miễn rằng tiền nong, giá cả sòng phẳng, xứng đáng với công của họ thì thôi.

Trước tiên, khi đến địa phương, cán bộ tìm đến Chi bộ Xã trình thư giới thiệu. Chi bộ Xã xem qua liền thu xếp, mượn nhà đồng bào cho anh cán bộ đó ở, chỉ dẫn mọi cách thức di chuyển, trốn tránh khi có động và tóm tắt tình hình chung của địa phương cho anh cán bộ nọ biết. Kế đó, người ta dẫn anh cán bộ đến gặp một chị phụ nữ hoặc bà gìà, hay ông già nào đó nhờ đi liên lạc gia đình hộ.

Bất cứ người nào nhận việc này họ cũng bảo :

– Tui đi dùm cho anh (hay cậu hạy chú) thôi, chứ chuyện này hết sức nguy hiểm, khó khăn cho tui. Vì cách mạng mà ! Nếu tui vì tiền thì tui đi mua bán có phải sướng và mau giàu hay không, làm chi cái việc cực khổ, nguy hiểm này. Tui nể địa phương với tội nghiệp hoàn cảnh của anh, tui giúp đỡ dùm…

Nhưng khi đưa tiền xe pháo, ăn uống dọc đường để “làm dùm” coi bộ hơi ít thì bà ta lạnh lùng trả lời :

– Anh nghĩ coi, từ đây đến đó cũng hai ngày, vừa đi vừa về bốn ngày, tiền xe cũng hết bốn trăm, tiền ăn chưa tính thì… anh liệu sao vừa phải thì thôi.

Như từ Thanh An đi về Mỹ Tho chẳng hạn, vào những năm 1963 – 1964 phải đưa cho người đi rước dùm ít ra cũng phải từ 600 đồng trở lên họ mới nhận. Trong khi đó, vừa đi vừa về nhiều lắm là bốn ngày, tiền xe tàu hai lượt khoản hai trăm. Nhưng lượt về họ đâu phải trả tiền xe, tiền ăn uống. Đã vậy, khi đến gia đình, gia đình nào cũng phải cho thêm vài ba trăm và một ít quà đáng giá vài trăm nữa. Nghèo thì thế, chứ gia đình giàu thì họ cho thêm vài ngàn đâu có tiếc, khi có người mang tin mừng của gia đình đến cho họ. Tính chung, mỗi chuyến đi từ ba đến bốn ngày, mỗi người có thể kiếm ít ra cũng một ngàn đồng. Ấy là chưa nói những người chuyên môn làm cái nghề này, họ kết hợp mỗi chuyến đi, rước một lúc hai, ba gia đình. Tiền thu vô của họ vài ba ngàn như chơi. Một tháng, họ chỉ cần đi năm chuyến cũng đủ trong một năm cất được một căn nhà ngói.

Trong những năm 1965 trở về trước, mức độ phi pháo không đáng kể, nhưng từ 1966 trở lại đây, không có vùng nào được coi là an toàn nữa. Phi cơ một ngày không biết mấy lượt, ném bom, oanh kích. Pháo 105, 155 cả pháo cực nhanh 175 ly từ Lai Khê, từ Củ Chi bắn đến loạn xạ như trấu vãi, bất kể ngày đêm, bất kể giờ giấc nào.

Hầu hết đồng bào dọn nhà ra ấp chiến lược, tản cư đến các vùng an ninh, như đến các tỉnh lỵ, hoặc đến Sàigòn sinh sống cho nên các “vùng nghỉ phép” không được coi là lý tưởng nữa. Cả xóm không còn lấy một cái nhà. Nơi nào cũng có dấu vết của bom đạn. Những thân cây gãy gục, cành trụi lá cháy nám đen. Nền nhà trơ vơ, chỉ có tro và than. Cỏ dại vươn cao lấp kín phủ đầu. Đường đi của các vùng này vốn rộng thênh thang, xe đạp có thể sắp hàng đôi, hàng ba, chạy phom phom không hề vướng víu. Bây giờ thì đố ai có thể thấy dấu vết của một con đường làng, một cái lối mòn hay một bờ đắp trước kia. Tất cả như rừng hoang, vắng lặng, đìu hiu không có vết chân người, trông nó thê lương ảm đạm làm sao.

Do đó, từ 1966, vấn đề nghỉ 15 ngày phép để liên lạc gia đình của các cán bộ chiến sĩ “R” không còn là một vấn đề đòi hỏi nôn nao, hào hứng nữa. Cái thời đại hoàng kim, ung dung tự tại, sinh hoạt rộn rịp ồn ào, vui vẻ, sung túc, thịnh vượng của ngày xưa đã trở thành dĩ vãng, theo đồng bào đi về đô thị hết rồi.

Không có đồng bào thì ở với ai ? Không có đồng bào thì còn biết nhờ ai đi liên lạc, rước gia đình đến nữa? Có một vài nơi như An Tịnh, Gia Lộc, Phú Hòa Đông, tuy còn một số đồng bào vì tiếc của và vì “kế hoạch bám ruộng vườn”, du kích ngăn cấm không cho đồng bào tản cư, nhưng bom đạn ác liệt, nguy hiểm đe dọa, nên làm cho những tay nhát gan không còn dám nghĩ đến chuyện nghỉ phép gì nữa. Một số khác liều mạng hơn, không quan tâm mấy, nhưng nghĩ đến khó khăn, sợ hãi, nguy hiểm cho người thân, cho vợ con mỗi khi đến thăm mình thì xót xa, ngại ngùng nên cũng đành chép miệng thở dài, thông qua.

Tuy vậy, việc nghỉ phép để liên lạc gia đình không phải là không còn nữa. Đường sá xa xôi, khó khăn nguy hiểm chỉ làm bớt đi phần nào thôi. Những cán bộ chiến sĩ thuộc những đơn vị ở sâu vào rừng, thuộc các khu vực “R” thì họ ít đi, nhưng lính ở các đơn vị chiến đấu, chủ lực của “R”, họ quen với chiến trận, quen với chết chóc, nguy hiểm cao độ nên cứ vẫn tà tà đi phép, liên lạc gia đình như thường.

Thông thường, với lính chiến thuộc các đơn vị chủ lực “R” ở thời kỳ dưỡng quân giữa hai chiến dịch, hai đợt công tác là kỳ đi phép. Vào những lúc đó, vài tay cán bộ B “chịu chơi”, ba gai, không cần báo cáo, xin phép tắc ai cả, hè nhau kéo đi nguyên trung đội thuộc phạm vi chỉ huy của mình, với tất cả súng ống, đạn được, vũ khí của trung đội đến Phú Hòa Đông hay An Tịnh, Gia Lộc để tổ chức nghỉ phép, liên lạc gia đình cho toàn trung đội.

Ỷ có súng ống trong tay, có khả năng chiến đấu và bảo vệ cho mình, nên mấy tay này làm cho địa phương lên ruột với họ. Đến địa phương, kéo nguyên cả trung đội đến nghỉ đại ở nhà đồng bào, rồi tự động nhờ người tổ chức những chuyến liên lạc tập thể, rước gia đình vào hàng loạt, chả cần đếm xỉa đến ai. Du kích địa phương thấy vậy chạy đến báo với Chi bộ Xã, ở đây chỉ biết làm lơ chứ dám nói năng, bắt tròn bắt méo gì. Họ có súng trong tay, lại cả trung đội, đừng có dại đột bắt tròn, bắt méo, đem cái chuyện nguyên tắc, kỷ luật ra nói với họ vô ích, lại thêm phiền.

Địa phương có buồn, Chi bộ Xã có ức, bất quá viết thư về đơn vị họ báo cáo. Chứ dù có muốn nhờ đơn vị họ đến can thiệp ngay, đâu ai biết đơn vị họ đóng nơi nào, và dù có biết chăng nữa, liệu đơn vị họ có biện pháp nào khác hơn là cử người đến đòi họ về, họ không về cũng đành chịu ?

Những địa phương ở vùng “xôi đậu”, nửa bên này kiểm soát, nửa bên kia kiểm soát, Chi bộ Xã sợ nhất là vấn đề an ninh, vấn đề phòng gian bảo mật. Bất kỳ ai muốn làm công việc gì ở đây phải có thư giới thiệu, phải chịu sự sắp xếp, bố trí cũng như phải luôn luôn tuân theo nội quy sinh hoạt của địa phương. Chi bộ Xã sẽ ra lệnh cho xã đội sắp xếp, cắt đặt chỗ ăn, chỗ nghỉ, hướng dẫn sự đi lại cho khách để địa phương khỏi bị lộ, địa phương dễ kiểm soát.

Đằng này, mấy chư vị lính chủ lực “R” đến, thấy chỗ nào khoái là tấp vô ở đó. Rồi hàng ngày tổ chức ăn nhậu, cười giỡn oang oang, túa ra khắp xóm đi “quạt” mấy em thanh nữ, bất kể ngày đêm vác súng đi nghễu nghến, làm địa phương rối lên không biết đuờng đâu mà rờ. Đã vậy, gia đình vợ con của họ đi ra đi vào đông đảo, không còn làm sao phân biệt nữa, không làm sao điều tra được, trường hợp của mỗi gia đình, mỗi người như thế nào.

Cái họa bị Quốc Gia phát giác đến bao vây, càn quét, “pháo bầy” tập trung bắn vào hoặc những cưộc oanh kích, những cuộc đổ quân bất thần của phi cơ, làm địa phương sợ đến mất ăn mất ngủ. Nếu có gì xảy đến thì địa phương lãnh đủ, mấy chư vị lính “R” bất quá nổ súng “cắc bùm” vài phát rồi kéo nhau chạy mất có phải khổ cho địa phương không ?

Phải chi họ đến ở vài hôm rồi kéo về, đỡ biết mấy. Cái này họ ở hằng nửa tháng, hai mươi ngày, có khi cả tháng. Thế mới khổ. Và phải chi họ đến chỉ làm ồn ào, mất trật tự, liên lạc vợ con xong thì kéo đi, nó cũng còn đỡ vớt phần nào, chứ cái kiểu ở Gia Lộc, vào quãng cuối tháng ba năm 1966, thực là một phen dỡ khóc dỡ cười. Chi bộ Xã Gia Lộc, rồi Chi bộ Xã An Tịnh, cả huyện Trảng Bàng, tỉnh đội Tây Ninh và Ban Chỉ huy Q-763 thuộc công trường 9 nhăn nhó, nhốn nháo cả lên.

Nguyên vào tháng ba năm 1966, sau khi công trường 9 dốc toàn lực ba Trung đoàn Q-761, Q-762, Q-763 vào chiến dịch đường 13 ở Nhà Đỏ, Bông Trang, kéo về khu B và Khu C để bổ sung quân số, nghỉ ngơi, học tập rút kinh nghiệm v.v… y như thường lệ. Riêng Q-763 là một đơn vị phối hợp của I-2 và I-3 gửi tới. Vì là những đơn vị ở I-2, I-3 nên cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn này quen với nếp sống đồng bào, quen với lối tác chiến ở đồng bằng, khi về “R” hoạt động ở chiến trường rừng núi, xa đồng bào, ăn uống kham khổ, lại phải lội bộ quanh năm suốt tháng. Nhất là lối đánh đường rừng, theo kiểu chính quy hiện đại chưa quen, làm con số thương vong của Trung đoàn này tăng lên rất cao, so với những Trung đoàn khác.

Bởi các nguyên cớ đó lính Q-763 hầu hết đều bực bội, khó chịu, dù công tác chính trị bộ đội có cố gắng đến thế nào đi nữa cũng không làm lắng dịu xuống được. Anh lính nào cũng muốn trở về tỉnh mình, chiến trường đã quen thuộc của mình. Tình trạng đào ngũ trốn về I-3 vẫn xảy ra luôn, làm đơn vị phải rượt bắt, phải giải quyết không ngớt.

Lần đó, một chư vị B trưởng không hiểu thuyết phục thế nào, nói thế nào với lính mà cả Trung đội anh ta đều nhất loạt đồng ý, kéo nguyên Trung đội trở về I-3, tổ chức đi tự lực, không cần theo đường dây nữa. Trước khi về I-3 thì phải tổ chức đi liên lạc với gia đình, vợ con cho cả Trung đội để thỏa mãn tình cảm cũng như có tiền ăn uống dọc dường.

Cuối tháng ba, Trung đội này bỗng nhiên rời bỏ đơn vị kéo đến xã Gia Lộc, nằm trên Quốc lộ số 1, thuộc quận Trảng Bàng, Tây Ninh, nghỉ ngơi và liên lạc gia đình. Chả cần liên lạc địa phương, liên lạc với ai cả, cả bọn kéo đến nhà đồng bào hỏi rồi ở đại.

Sau đó quần trong xóm, nhờ những người sống chuyên về nghề “rước gia đình” bảo họ đi hàng loạt về các tỉnh Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu, rước gia đình dùm cho toàn Trung đội. Chi bộ Xã cử xã đội đến tiếp xúc, phàn nàn thì cả trung đội xách súng tới bao vây, nhao nhao lên làm xã đội xanh mặt, hoảng vía rút lui. Xã thấy không êm, họp chi ủy rồi báo lên huyện ủy. Huyện ủy cũng không biết giải quyết cách nào liền báo về tỉnh ủy. Tỉnh ủy lại báo thẳng về Bộ Chỉ huy “R”. Bộ Chỉ huy “R” giận quá, điện xuống đảng ủy Công trường 9 khiển trách. Công trường 9 cấp tốc chỉ thị cho Ban Chỉ huy Trung đoàn 763 đến thu xếp.

Trong thời gian đó, suốt cả tháng trường, gia đình của Trung đội này, từ miền Tây lên thăm con em họ đã về hết từ lâu, nhưng Trung đội này còn ở lỳ tại Gia Lộc ăn hút, nghễu nghến đi “quạt” thanh nữ ở địa phương, cà rà hết nhà này sang nhà khác.

Vài hôm lại còn tổ chức một chuyến chiều chiều vác súng lên lộ, đón xe đò và bắn mấy lô cốt phá chơi. Báo hại cả xóm ăn đạn 105 ly và 155 ly từ Trảng Bàng bắn lên, Gò Dầu bắn xuống và các giàn pháo của Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ đóng ở Củ Chi. Thấy găng quá, không ổn, Trung đội này liền di cư xuống xã An Tịnh, chơi theo mững cũ. Trung đội này chưa qua lộ số 1, còn cà rà ở đây, chẳng qua là nhằm lúc vùng bên kia lộ, tức trên đường về, quân đội Quốc Gia và Mỹ đang phối hợp hành quân. Phải chờ Quốc Gia hành quân xong mới về được.

Rời Gia Lộc được hai hôm thì Gia Lộc bị quân đội Quốc Gia phối hợp với Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ tổ chức đem trực thăng đến đổ quân xuống chụp bất ngờ, báo hại du kích xã, Chi bộ Xã và một số cán bộ về liên lạc gia đình ở đây, chạy bán mạng, rút xuống hầm bí mật chịu đói, ngâm nước cho một ngày. Kẹt trong vụ này còn có đoàn cán bộ Đại đội, Tiểu đoàn (cấp chỉ huy của Trung đội nọ) được Ban Chỉ huy Trung đoàn phái đến… Ai ai cũng biết hậu quả vụ này là do cái trung đội “thánh vật ” đó tạo ra.

Đoàn cán bộ của Q-763 đến Gia Lộc, không gặp liền theo dấu xuống An Tịnh, dùng quyền uy và kỷ luật của đơn vị ra lịnh cho chư vị Trung đội trưởng và toàn Trung đội trở về. Nhưng chả ai thèm nghe, còn dọa phản ứng ngược, tức bắn cán Bộ Chỉ huy của mình. Bí quá, không biết phải làm sao, đoàn cán bộ tức tốc trở về căn cứ kéo nguyên một Đại đội đến. Khi kéo Đại đội đến An Tịnh thì Trung đội đào ngũ đã qua lộ An Tịnh chiều hôm trước, lại phải tức tốc đuổi theo luôn. Nhờ cho trinh sát dò theo, biết Trung đội kia đang ngủ ở nhà đồng bào ấp An Phú nên cả Đại đội bất thần ập một lượt vào từng nhà, chộp súng tước hết, chĩa vũ khí vào hông mới đem toàn Trung đội trở về đơn vị nổi.

Không cần phải nói, Ban Chỉ huy Trung đội đào ngũ tập thể đó, coi như bế mạc cuộc đời rồi. Cả Trung đội lính sau này không biết đã ra sao ? Chỉ tội cho đồng bào Gia Lộc và An Tịnh chịu vất vả vì pháo và súng đạn của những cuộc hành quân bất thần, teo ruột, hồi hộp mất ăn mất ngủ một thời gian.

***

Theo nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, tư tưởng bao giờ cũng quan trọng đứng hàng đầu. Tư tưởng tốt hành động tốt. Tư tưởng xấu hành động xấu. Mà tư tưởng của con người luôn luôn diễn biến, không bao giờ nằm yên một chỗ. Tư tưởng chỉ huy hành động, nên hành động của con người luôn luôn biểu hiện một tính chất tư tưởng nào đó. Theo duy vật biện chứng, con người được cấu tạo bởi những mâu thuẫn, mang tính chất đấu tranh không ngừng. Cho nên công tác lãnh đạo từ tư tưởng cần phải nắm cho thật vững, mới quản lý cán bộ, chiến sĩ được chặt chẽ. Trong cách mạng, trong cuộc chiến đấu chống đối kẻ thù giai cấp, nếu công tác lãnh đạo tư tưởng chưa được tốt, chưa vững thì sẽ mang đến nhiều tai hại vô chừng do những tư tưởng phản cách mạng gây ra.

Muốn trấn áp phản cách mạng để bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng thì phải cảnh giác cao độ, phải quản lý, lãnh đạo chặt chẽ nội bộ. Nhất nhất mỗi tư tưởng, mỗi hành động của chiến sĩ, cán bộ, phải được theo dõi từng ly, từng tí.

Vì Đảng chưa thể chối bỏ, phủ nhận được sự liên hệ của tình cảm cá nhân, liên hệ của gia đình, cái mà Đảng gọi là nguồn gốc của tội lỗi, của tư tưởng phản động nên mới có việc nghỉ phép liên lạc gia đình. Tình cảm sẽ làm mất hết ý chí đấu tranh. Gia đình là động lực lôi kéo con người ra khỏi cách mạng, làm cho người ta nặng về cá nhân, tư hữu, làm cho người ta mâu thuẫn với quyền lợi chung, quyền lợi của Đảng. Đó là nguyên tắc. Những ai chối bỏ được tình cảm, chối bỏ được gia đình mới thật là làm cách mạng tốt, mới thật là hết lòng hết dạ theo Đảng.

Lý luận là như vậy, nhưng con người vẫn được cấu tạo bởi những mâu thuẫn, nhất thời không thể chối bỏ được tình cảm và gia đình nên càng phải theo dõi để kiểm soát, uốn nắn lại, trong khi buộc lòng cho họ liên lạc gia đình, vợ con..

Mặt khác, trong đấu tranh, kẻ thù thường lợi đụng gia đình để lung lạc tinh thần chiến đấu của chiến sĩ cán bộ. Rất có thể vì đó mà mầm mống phản động phát sinh. Kẻ thù ở đây không chỉ là người, mà còn là vật chất và tư tưởng. Đáng kể nhất là tư tưởng.

Vấn đề nghỉ phép liên lạc gia đình được Đảng quan niệm như thế. Đâu phải là một vấn đề giản dị, bình thường như cán bộ, chiến sĩ nghĩ đâu ? Mỗi khi có cán bộ, chiến sĩ nào được nghỉ phép liên lạc gia đình, thăm gia đình, dù rằng ở vài nơi, Ban Chỉ huy, Chính trị viên của đơn vị “đốc thúc cho người ta nghỉ phép”, “khuyến khích” cho người ta nghỉ phép, đâu phải là không có vấn đề theo dõi, điều tra, không có vấn đề “báo cáo thực thà” với Đảng ?

Tại đơn vị, những cá nhân nào được xem là bất mãn, là bị nghi ngờ về lòng trung thành với Đảng. đừng hòng được phép đi đâu. Những người được đi nghỉ phép đến vùng “xôi đậu” để liên lạc gia đình, Chính trị viên đơn vị viết giấy giới thiệu với Chi bộ địa phương nhờ “giúp đỡ”. Việc đó không chỉ có nghĩa “giúp đỡ” đơn thuần cho cá nhân chiến sĩ hay cán bộ. Ai nghĩ như vậy thực quá ngây thơ. Đành rằng, khi đến địa phương trình giấy, Chi bộ Xã liền đi mượn nhà, thu xếp chỗ ở dùm cho, dặn du kích và những nhà chung quanh “giúp đỡ”, “hướng dẫn” dùm cho, bảo vệ an ninh dùm cho, nhưng kỳ thực đó là một hình thức kiểm soát chặt chẽ. Vì sao ?

Vì đi mượn nhà, thu xếp chỗ ăn ở tức là Chi bộ Xã đã chọn những gia đình Đảng viên, hay có cảm tình đặc biệt với cách mạng để nhờ họ theo dõi hành vi của cán bộ , chiến sĩ, báo cáo cho Chi bộ Xã biết mọi việc để cho Chi bộ Xã nhận xét xem có gì khả nghi, có gì đáng chú ý, hoặc sau này báo cáo thẳng về cho cấp Ủy đảng của đơn vị, hoặc có biện pháp thích ứng tại chỗ.

Trong việc đi tìm người rước gia đình, Chi bộ Xã cũng lựa người đáng tin cậy, để sau này khi đưa gia đình của cán bộ, chiến sĩ đến, báo cáo cho Chi bộ Xã biết tình hình của gia đình đó nghèo, giàu thế nào, gặp những gì ở đó, gia đình đó đối với cách mạng ra sao, con cái, chồng vợ của họ ra sao ? Còn những nhà chung quanh hay du kích sẽ “giúp đỡ” không chỉ có nghĩa mỗi khi động, dẫn cán bộ chiến sĩ trốn chạy, đưa xuống hầm bí mật hay địa đạo, mà nếu thấy cán bộ chiến sĩ đó có gì khả nghi, có hành động gì chứng tỏ muốn thoát ra khỏi xã, lọt vào vùng giặc thì theo dõi triệt để và bắt giữ khi cần. Chẳng những vậy, khi gia đình của cán bộ chiến sĩ đó đến, phải tìm cách lân la nói chuyện, điều tra về hoạt động của gia đình v.v..

Đấy, bổn phận của Chi bộ Xã đối với việc nghỉ phép liên lạc gia đình của cán bộ chiến sĩ, dù ở cấp nào đi nữa cũng vậy. Đừng có ai “tưởng bở”, ngỡ rằng cái giấy giới thiệu của đơn vị chỉ có tính cách nhờ Chi bộ Xã giúp đỡ, được liên lạc gia đình dễ đàng. Nó là một cái giấy thông báo, cái giấy ủy quyền cho Chi bộ Xã trọn quyền hành động đấy.

Sau thời gian nghỉ phép, cán bộ chiến sĩ trở về đơn vị ít hôm thì cấp Ủy đơn vị thế nào cũng được nhận báo cáo của Chi bộ Xã về trường hợp nghỉ phép của cán bộ, chiến sĩ đó ở tại xã như thế nào, kèm với nhận xét của Chi bộ, nếu trường hợp đó có gì lạ và cần thiết, hệ trọng, còn không thì thôi. Khi về đến đơn vị, Chính trị viên giả bộ mừng rỡ, thăm hỏi gia đình mạnh giỏi, đời sống thế nào gia đình cho bao nhiêu tiền, gặp gỡ mấy ngày, tình hình vùng địch ra sao ? Không tinh ý cho đó là công tác động viên chính trị thông thường, nhưng để ý sẽ thấy đó là một cuộc điều tra. Song song với cuộc điều tra công khai, tiểu tổ đảng, Chi bộ, đảng viên còn điều tra qua tình cảm, qua những lúc tình cờ và sinh hoạt chung để biết thêm.

Cái chuyện gia đình sống thế nào, cho những gì, đặc biệt là cho bao nhiêu tiền hết sức được quan tâm. Người ta sẽ đánh giá tư tưởng, đánh giá tinh thần chịu đựng gian khổ, đánh giá lập trường giai cấp vững hay không, đánh giá mức tình cảm gia đình nặng nhẹ đến cỡ nào. Nói chung tất cả mọi thứ tìm hiểu, đánh giá cho thật đúng, nhận xét về lập trường tư tưởng và đạo đức. Được cất nhắc hay không, được vào đoàn, vào đảng hay không cũng bị ảnh hưởng ở vấn đề này một phần.

Như vậy, ra khỏi đơn vị đã có Chi bộ Xã kiểm soát, về đơn vị có Ban Chỉ huy, có Chi bộ và hệ thống Đảng kiểm soát. Nhiều vụ kiểm thảo, khiển trách, hay hoan hô, khen thưởng làm điển hình đưa ra học tập chung, sau khi liên lạc gia đình về đã từng xảy ra ở Chiến khu.

Được nghỉ phép liên lạc gia đình, ai cũng mừng, nhưng kèm bên cái mừng còn có cái lo. Cho nên, tay nào đi nghỉ phép liên lạc gia đình về cũng cố che giấu bớt những sự kiện xảy ra, dựng lên một tình huống sao cho có lợi về mặt chính trị của mình. Nghĩa là phải có thủ đoạn khôn ngoan, kín đáo và trình bày sao cho ăn khớp, tiền hậu bất nhất hoặc thật thà quá đỗi thì coi như “lỗ” to.

Trong những năm qua, ở “R” có biết bao nhiêu là giai thoại về chuyện liên lạc gia đình của chiến sĩ cán bộ, được nhắc đi nhắc lại ở cửa miệng của mọi người. Nào chuyện cán bộ mùa Thu tập kết về, liên lạc gia đình vợ con lần đầu tiên với cảnh con không nhìn cha, đuổi ra khỏi mùng. Nào chuyện gặp lại gia đình thì lòi đuôi thành phần. Nào chuyện nhận tiền nhiều ít, nào chuyện bị gia đình lôi cuốn bỏ cách mạng, hủ hóa v.v…

Nhắc những giai thoại đó để cười vui cũng có, để châm biếm mỉa mai cũng có, để chia sớt buồn thay cho người trong cảnh cũng có. Nói chung, đủ cả.

Có một anh chàng cán bộ mùa Thu, về “R” đầu năm 1963, công tác ở Cục Tham mưu. Gia đình anh ta ở tại Sàigòn, thuộc loại giàu có lớn, sản nghiệp chỉ có “sơ sơ” vài cửa hàng xuất nhập cảng, vài chục căn phố và ba, bốn cái villa cho thuê. Cũng chính vì chỗ gia đình thuộc loại thương mãi nên khi anh ta đề nghị xin phép thăm gia đình thì cấp trên cho ngay.

Theo đúng thủ tục, trước đây anh ta đã có gửi thư về cho Thành ủy Sàigòn, điều tra xem gia đình như thế nào, liên hệ về chính trị ra sao thì được trả lời cho biết chẳng đáng kể, thuộc loại tư sản thương mại, cầu an, cốt làm giàu chớ không có xu hướng chính trị gì đặc biệt.

Trước khi đi, Chính trị viên kiêm bí thư cấp Ủy đơn vị dặn riêng anh ta :

– Theo tinh thần chỉ thị của Đảng ủy Ba Cục thì tất cả cán bộ mùa Thu, khi liên lạc gia đình, thăm hỏi vui vẻ với gia đình vài hôm thôi. Nếu có vợ con đến thăm thì giải quyết “vấn đề tình cảm” chừng một tuần đã là nhiều. Không nên ở lâu bất lợi. Có điều cần nhớ mấy điểm thuộc về nguyên tắc là không tiết lộ cho mọi người biết mình là cán bộ mùa Thu, chỉ trừ riêng gia đình biết và yêu cầu gia đình, khi về Thành không được tiết lộ cho ai biết. Đó là nguyên tắc cảnh giác cách mạng của Đảng. Về vấn đề chính trị, khi gặp gia đình phải điều tra thêm tình hình gia đình, khuynh hướng chính trị, những ưu khuyết điểm của gia đình đối với ý thức đấu tranh cách mạng, để báo cáo thật thà cho Đảng ủy biết. Dù là đối với gia đình, công tác chính trị bao giờ cũng cần thiết. Riêng cá nhân đồng chí thì đó là gia đình, nhưng với tinh thần của một đảng viên thì đó là nhân dân quần chúng. Trong con người của đồng chí, có đủ hai yếu tố, nhưng cá nhân là phụ thuộc. Đảng mới là yếu tố chính. Do đó, trong gia đình, quan điểm đối xử, giao tiếp vẫn là quan điểm của Đảng, quan điểm của cách mạng, thể hiện lập trường giai cấp của công nông vững vàng. Bao giờ cũng đặt quyền lợi của Đảng, của cách mạng lên trên. Là đảng viên, là cán bộ, đồng chí phải thể hiện đầy đủ tính chất của người đảng viên trung kiên, phải biết đấu tranh, giáo dục lãnh đạo gia đình. Tôi nói thế đồng chí cũng hiểu rồi đấy! Riêng vấn đề giúp đỡ, liên hệ vật chất với gia đình cũng cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng. Về việc bảo vệ cán bộ, đơn vị sẽ giúp cho đồng chí một đồng chí cảnh vệ theo bảo vệ. Nhưng, nếu có thể được, đồng chí cũng nên giúp cho đồng chí bảo vệ liên lạc gia đình và kiểm soát anh ta. Thôi, đồng chí thu xếp rồi đi đi ..

Trong những điều Chính trị viên đơn vị dặn, có thể tóm tắt vào mấy việc là:

– hạn chế tình cảm,
– giữ nguyên tắc cảnh giác cách mạng,
– không được quên mình là người Đảng viên.

Thoáng qua các điểm đó, tưởng không có gì hệ trọng nhưng có đi sâu vào, phân tích kỹ thì thực hệ trọng vô cùng.

– Hạn chế tình cảm, có nghĩa là dù sau mười năm xa cách, được gặp lại cha mẹ, vợ con không được tỏ ra vui mừng quá độ, không được kể chuyện thương nhớ ra làm sao, nhiều đến mức nào. Làm như vậy tỏ ra nặng cá nhân, mọi người chung quanh, nhân dân quần chúng sẽ đánh giá tinh thần, lập trường của người cán bộ còn “yếu”. Gặp cha mẹ, chỉ giữ ở lại vài hôm là đủ, không được ở lâu. Nếu là vợ thì cái chuyện xa cách mười năm tuy lâu, nhưng gặp nhau “giải quyết tình cảm” năm bảy bữa là quá đủ. Cái chuyện ân ái, nhớ thương của riêng cá nhân phải gác sang một bên. Kéo dài những ngày ân ái chỉ làm bận rộn thêm, làm giảm sút nhuệ khí, dễ gây nên những hiện tượng xem nhẹ việc đấu tranh, chiến đấu yếu, tình cảm chi phối công tác.

– Giữ nguyên tắc cảnh giác cách mạng thì đó là một vấn đề lớn. Giữ bí mật công tác, đơn vị, tổ chức, lai lịch cán bộ là chuyện thường, ai cũng làm được. Nhưng phải cảnh giác với chính mình, mới là điều quan tâm đến nhất. Phải cảnh giác với chính mình, vì những yếu tố vật chất, tình cảm gia đình, bên ngoài nó là những kẻ thù đáng sợ của tư tưởng. Phải biết tránh sự cám dỗ của nó, đấu tranh tư tưởng “yếu” nó sẽ phá hủy công trình “giác ngộ” của Đảng hàng mấy mươi năm. Biết đâu, khi gặp gia đình, mẹ, vợ, con than vãn điều gì đó, rủ rê thoát ly cách mạng, đưa ra một đời sống vật chất quá ư đầy đủ, hấp dẫn, nhất là những chính kiến hay phiền muộn, đụng chạm gì đó đến quyền lợi của gia đình gây thiệt thòi, ức hiếp cho gia đình do những cán bộ Đảng ở địa phương gây ra v.v…

– Để bảo đảm mọi vấn đề được giải quyết đúng và dễ dàng thì không được quên mình là một đảng viên. Người đảng viên, suy nghĩ, giải quyết vấn đề bao giờ cũng theo nguyên tắc, đường lối của Đảng. Gia đình lớn của người đảng viên là Chi bộ Đảng, là toàn Đảng, là các đồng chí của mình. Gia đình riêng của người đảng viên phải đứng sau Đảng, theo Đảng. Nếu trái ngược lại quyền lợi Đảng, thì đó là kẻ thù của Đảng. Bởi vậy không được quên mình là một đảng viên thì “đảng tính”, “đảng kỷ” mới có thể được bảo toàn.

Chính trị viên còn sợ anh ta quên, nên nói thêm vấn đề liên hệ vật chất. Liên hệ vật chất tức là vấn đề tiền nong, vật dụng gia đình mang đến cho. Điều nhắc nhở đó muốn nói rằng :

– Anh không xin xỏ cái gì hết nghe chưa ? Gia đình có mang đến cho cái gì thì cũng phải liệu mà nhận đấy !

Ngoài ra, Chính trị viên cho biết có một bảo vệ viên đi theo, phải lo giúp đỡ và kiểm soát hành vi của cậu ta khi gặp gia đình. Điều đó cũng có nghĩa là cậu ta sẽ là “tai mắt” của đơn vị, của Đảng, sẽ ngầm kiểm soát ngược lại để về báo cáo cho Chính trị viên biết.

Hai thầy trò anh ta lên đường, mỗi người một chiếc xe đạp từ Khu B, vượt qua cầu sắt Bồ Túc, rồi theo đường kiểm băng qua ngả tư Sóc Xoài, qua suối Đôi, suối Chiếc, vượt sông Bà Hão đến nghỉ đêm ở suối ông Hùng. Sáng dậy, hai thầy trò đi một mạch, băng ngang rừng Bời Lời đến thẳng Hố Bò, đóng đô ở Bến Bò Cạp. Sau khi liên hệ địa phương, anh ta đưa cho bà già làm nghề “rước gia đình” một cái hình 4×6 chụp bán thân của anh ta. Kèm theo đó là một kỷ vật riêng của gia đình tặng lúc anh ta tập kết, để khi nhìn ảnh và kỷ vật sẽ tin ngay là con cái, là chồng của mình. Đồng thời, anh ta cho địa chỉ, cách thức tìm kiếm, tên tuổi, cũng như sơ lược về lý lịch của anh ta, phòng khi gia đình có từ chối, nghi ngờ thì nói thêm cho gia đình tin.

Lúc ở đơn vị, Chính trị viên có dặn dò nầy nọ, anh ta có bổn phận phải “dạ dạ” cho nó qua truông. Nhưng khi đến Hố Bò, qua cái sinh hoạt của đồng bào địa phương, qua cái sinh hoạt của những cán bộ khác đến liên lạc gia đình tại đây, phè phỡn, chè chén túi bụi tưng bừng, nên trong một phút nổi hứng, anh ta quên phéng đi. Có lẽ anh ta nghĩ :

– Gian khổ bao nhiêu năm rồi, xa cách gia đình bao nhiêu năm rồi, mình có hưởng thụ một tí thì cũng chả làm sao. Ở đây, xa đơn vị, đến Tết “thằng cha” đó mới biết. Vả lại, anh em khác đi liên lạc gia đình cũng chè chén phè phỡn, sắm món này, vật kia thấy có ai nói gì đâu. ” Thằng cha ” ấy bảo mình cân nhắc việc liên hệ vật chất gia đình, điều đó có nghĩa là vật nào cần thiết lắm mới xin xỏ, đừng đòi hỏi quá đáng, tốn kém cho gia đình, vậy thôi, chứ gì!

Anh ta liền lấy giấy, kê ra một lô vật dụng. Nào xin một cái radio Philip transistors, một cái đồng hồ loại đắt tiền, một cặp viết Parker, rồi các vật dụng lặt vặt cho đến những món anh ta thèm, trà, sữa, cà-phê, thuốc thơm v.v… Cái bảng kê khai của anh ta có đến vài chục món như cái toa bà hàng xén. Chả là anh ta biết gia đình anh ta giàu, lại được cưng chiều từ lúc bé thì bấy nhiêu món đây có kể gì, ăn nhằm gì! Cân nhắc việc liên hệ vật chất, thì mình đã cân nhắc quá rồi đấy chứ! Anh ta bảo chú bảo vệ : ·

– Mày chuẩn bị đánh răng, súc miệng và uống thuốc xổ cho trống cái dạ đày đi nhé ! Phen này tụi mình phải “đớp” đã đời cái miệng, bồi dưỡng triệt để, để có sức mà công tác cho Đảng!

Bà già đi sang Bưng Còng đón tàu đò từ Bến Súc đến để đi chợ Bình Dương. Rồi từ chợ Bình Dương đi xe đò thẳng đến Saigòn. Như vậy vừa đi vừa về chỉ mất hai ngày. Trể lắm là 10 giờ sáng ngày sau sẽ về đến. Anh cán bộ nhà ta mừng trong bụng, soát lại tiền trong túi cũng còn được vài trăm, móc hết đưa cho chú bảo vệ đi lùng mua gà, rượu, đồ nhắm về xơi cho kỳ hết trong ngày. Anh ta biết ngày hôm sau mẹ mình thể nào cũng đến, mang theo nhiều tiền để cho mình thì tội chi phải nhịn ăn nhịn uống.

Còn bà già đi rước dùm gia đình của anh ta, quãng 11 giờ hơn thì đến chợ Bình Dương. Lên bờ, bà ta đi thẳng đến bến xe đò Sàigòn, bước lên xe ngồi chờ. Mấy phút sau xe chạy. Hai giờ rưỡi chiều hôm đó, bà ta men theo địa chỉ đã ghi, đến trước một cái biệt thự, đi qua đi lại ngắm xem tình thế một hồi rồi nhận chuông. Mấy con chó chạy ùa ra, theo sau là một chị ở. Chị ở lên tiếng hỏi :

– Bà muốn kiếm ai ?

– Tôi là bà con với bà chủ ở nhà. Tôi muốn gặp bà chủ !

Nghe nói bà con của bà chủ, chị ở mở cổng. Bà già theo vào, gặp mẹ anh cán bộ đang đứng ở cửa nhìn ra. Mẹ anh ta thấy một bà già lạ hoắc, tỏ vẻ khó chịu, xếch đôi mắt lên. Chị ở thưa :

– Thưa bà! Bà này bả nói là bà con với bà, muốn gặp bà!

– Lạ, bà con sao tao không biết mặt cà ?

Đoạn quay mặt nhìn thẳng vào bà già dò xét, nghi ngờ :

– Bà ở đâu mà bà bảo là bà con của tôi ?

Nhờ anh cán bộ cho biết rõ quê quán, cách thức đối đáp nên bà già đi rước gia đình trả lời xuôi rót. Nhưng mẹ của anh cán bộ vẫn ngơ ngác không biết. Bà già đành phải nói thêm, nói nhỏ vừa đủ nghe :

– Tôi có quen với cậu Út !

Miệng nói tay cho vào túi, lấy tấm hình bán thân 4 x6 của anh cán bộ đưa ra. Mẹ anh ta vừa nhìn thấy, mắt chớp mấy cái, đón lấy ảnh, tay run run, lật phía sau lưng thấy đề mấy chữ ” kính tặng má” Nét vui mừng hiện rõ trên khuôn mặt rạng rỡ của bà. Biết có chuyện không thường nên bà quay lại bảo chị ở :

– Thôi mày ra nhà sau coi nổi bếp lên nấu cho tao ấm nước sôi coi!

Nước sôi nấu sẵn trong phích không thiếu gì, nhưng vì thấy chị ở còn chàng ràng phía sau, không lẽ đuổi vào. Không đuổi để nó nghe thì nó dám nghi lắm, đành kiếm công việc mà sai nó, cho nó khỏi nghi ngờ. Sau đó, bà dẫn người lạ đến thẳng phòng riêng của bà, đóng cửa lại. Cử chỉ đó tố cáo cho người mang tin đến biết là bà đã chấp nhận. Bà mừng lắm, nhưng bà cũng chưa chịu nhận ngay :

– Cậu này ở đâu mà bà bảo nó là con tôi ?

– Thưa bà ! Cậu Út đây ở xa về, nhờ tôi đến rước bà cho cậu ấy gặp mặt. Hiện giờ cậu ấy đang ở gần nhà tôi, tại Hố Bò, Bình Dương đó.

– Sao lạ vậy cà! Cái cậu này lạ thiệt! Khi không bảo là con tôi, lạ quá chớ! Tôi đâu có đứa con nào ở xa, mặt mũi lạ hoắc như vầy !

Đến chừng đó, bà già rước gia đình mới chìa ra một tấm lắc bằng vàng tây, có khắc tên anh cán bộ mà trước ngày tập kết bà đích thân đi mua làm kỷ vật tặng cho con. Vừa đưa tấm lắc, bà già vừa nói :

– Thưa bà, Cậu Út có nhờ tôi gởi đến bà vật này, bảo là kỷ vật bà cho cậu ấy để làm kỷ niệm. Tôi cũng thông cảm với bà là phải cẩn thận như vậy mới giữ được bí mật. Nếu không, ở tù chết còn gì, cho nên tôi mới phải đưa ra vật này. Và đây là miếng giấy cậu Út viết nhờ xin bà những món này.

Mẹ anh cán bộ giờ mới chịu tự nhận là mẹ. Khỏi phải nói, sau đó bà hỏi bà già đi rước gia đình hằng trăm thứ chuyện về con trai út của bà. Nó ốm, mập thế nào ? Nó khỏe mạnh ra sao ? Có buồn không ? v.v… đủ thứ. Bà tỏ ý nóng nảy, muốn đi ngay bây giờ để gặp con bà, nhưng bà già kia bảo để khuya mai đi sớm, giờ này đến Bình Dương không có tàu chạy, phải đợi đến sáng mai kia!

Chị ở chạy lên báo :

– Thưa bà ấm nước sôi ạ !

– Ừ! mày coi châm vô phích đầy đi !

– Dạ, đầy rồi !

– Ừ! Đầy rồi thì thôi vậy.

Bà sửa soạn thay đồ, gọi tài xế lái cho bà đi chợ Sàigòn mua đồ. Ngoài những món cậu đã ghi, bà còn mua thêm những món mà bà độ chừng con bà đang thiếu. Trong lúc đó, ở nhà, bà già đi rước gia đình đi tới lui quanh nhà, nhìn món này, ngắm món kia, lắng tai nghe ngóng có ai ở trong nhà, họ sinh hoạt ăn nói ra làm sao, để đánh giá, để đoán chừng về thân thế, về “ảnh hưởng” của gia đình này ra sao. Bà già quan sát rất kỹ, ghi nhớ vào lòng để về nhà báo cáo lại cho Chi bộ Xã biết.

Bà mẹ anh cán bộ đi chợ Sàigòn mua đồ chở cho một xe, đi suốt cả buổi chiêu. Khi về còn đi thông tin cho các con trai, con gái của bà đã có vợ có chồng ra riêng biết, có tin thằng Út. Buổi tối hôm đó, cả gia đình các con bà kéo tới, hỏi thăm đủ thứ chuyện, cười nói vui vẻ. Bà già đi rước gia đình trả lời không kịp thở. Người nào cũng chăm chú nghe. Họ hỏi đủ thứ, hết chuyện thằng em thì đến mấy ông giải phóng, mấy ông Việt Cộng sống ra làm sao, súng nhiều hay ít, họ có dữ, có hiền v.v… Bà già rước gia đình được một mẻ tuyên truyền lớn, tha hồ bà ca tụng cái hay, cái tốt theo sự suy diễn của bà. Để thưởng công chịu khó liên lạc dùm thằng con bà, bà móc túi cho bà già đi rước gia đình hai ngàn bạc.

Khuya lại, bà già rước gia đình phụ xách đồ đạc cùng với bà mẹ anh cán bộ, dẫn theo đứa cháu nội gái đi ra bến xe đò Bình Dương. Bà già kia dặn nhỏ :

– Ra xe, tôi ngồi riêng, bà ngòi riêng, đừng hỏi chuyện gì hết, làm như tôi với bà không quen biết gì. Khi xuống xe cũng vậy. Tôi xuống trước bà xuống sau, tôi đi đâu bà theo đó. Khi xuống dưới tàu cũng vậy. Dọc đường, công an, cảnh sát, lính tráng có hỏi bà, bảo là đi Dầu Tiếng, Bến Súc gì đó, đi thăm suôi gia, thăm cháu nội, cháu ngoại gì đó cũng được, bà nhé!

Rồi mọi việc xuôi chèo mát mái. Hơn mười giờ sáng hôm sau, tàu đò cập bến ở Bến Bò Cạp. Chưa đầy mười giờ, anh cán bộ nhà ta đã thấp thỏm đợi chờ, dẫn chú bảo vệ đi men ra bờ sông, ngóng tới ngóng lui xem giờ. Chừng nghe tiếng tàu xịch chạy đến, rồi cặp vào bờ anh ta với chú bảo vệ núp vào bụi tầm vông, sợ hành khách đưới tàu nhìn thấy. Rõ ràng là mẹ anh ta đến thực. Có cả cô con gái nhà ai đẹp quá chừng. Lạ ! Anh ta thắc mắc không biết cô con gái đó là ai, chắc cháu nội, con của mấy người anh mình thôi. Đứa nào cà ? Hồi lúc mình đi, tụi nó hãy là con nít lóc cóc cả, bây giờ chúng lớn thế đấy! Hai bà cháu ăn mặc thật sang, khác hẳn đời sống lam lũ của bà con nông dân ở đây.

Hình ảnh đó, trong một giây, gợi lại trong đầu anh ta nếp sống thành thị, lên xe xuống ngựa, xa hoa mà anh ta đã sống trước đây.

Mấy người húy hoáy, khệ nệ xách đồ đạc lên. Tàu đã tách bến chạy khuất, anh ta với chú bảo vệ hiện ra :

– Má, má! Má mạnh giỏi má!

Rồi tiếng khóc, tiếng sụt sịt mũi, và mọi hình ảnh cảm động y như bất cứ một cuộc gặp gỡ, đoàn tụ nào sau những năm tháng dài xa cách trên trái đất này.

Hai thầy trò xúm nhau phụ xách bớt đồ đạc, nào giỏ to, giỏ nhỏ, nào túi lớn, túi con. Liếc mắt nhìn qua anh ta thấy rất nhiều thực phẩm và vật dụng, biết chắc là phen này hy vọng của mình nhất định sẽ thỏa mãn hoàn toàn. Anh ta hí hửng, kể chuyện huyên thiên cho mẹ và cháu gái nghe. Từ chuyện tập kết, ra công tác ở miền Bắc rồi trở về miền Nam cho đến bay giờ, nhất nhất đều thuật lại không sót chi tiết nào.

Về đến nhà trọ, sau bữa ăn thịnh soạn nhờ những thực phẩm của mình mang theo, mẹ anh cán bộ tươi cười, mở cái xách tay, nói theo cái giọng bà chủ :

– Con cho người về rước thình lình quá má không kịp sửa soạn gì hết. Tháng này hàng họ thì lôi thôi, tiền bạc kẹt ráo. Mấy cái dãy phố cũng chưa thâu được tiền nên má đem theo nhắm mớ cho con xài đỡ.

Lôi trong xách tay ra một bó tiền toàn giấy 500, bà đưa cho con.

– Nè con! Con cất mà xài đỡ! Tại má kẹt tiền chớ hổng phải má tiếc gì với con đâu.

Từ bé đến lớn, từ lúc ra Bắc rồi trở về Nam, chưa bao giờ trong túi anh ta có đến hai nghìn bạc, giờ thấy một bó giấy năm trăm mẹ đưa cho mình, mắt anh ta hoa lên, xúc động đến tột độ. Anh ta lắp bắp :

-Trời đất!… Sao nhiều dữ vậy má ?

– Ơ! Đâu có trăm ngàn gì đó!

– Con ở trong rừng, có xài gì bao nhiêu mà má cho dữ thần vậy ? Vậy mà má còn bảo xài đỡ.

Mẹ anh phủi tay :

– Ủa, bộ chỗ bây ở không có thành phố, tiệm buôn mua bán gì sao ?

– Rừng mà thành phố gì! Mua đồ thì phải nhờ mấy anh em tiếp phẩm họ mua ở biên giới, hoặc ở đây do bọn con buôn mang từ Sàigòn hay Tây Ninh lên chớ trong rừng có tiệm buôn, hàng quán gì đâu má,

– Ờ, thì thôi! Cũng cất lấy, rồi cần gì thì nhờ anh em họ mua cho.

Mẹ anh với cô cháu gái ở chơi hai hôm rồi về Sàigòn. Còn hai thầy trò anh ta ở lại, ăn hút phè phỡn cho đến hơn tuần sau mới chịu trở về đơn vị.

Lúc đi, chiếc xe đạp của anh ta trống trơn, sau “bọt ba ga” chỉ trơ trọi chiếc ba lô xẹp lép, nhưng khi về thì chiếc xe đạp lớp máng, lớp đeo, lớp cột đùm đề, cái ba lô no cứng, chưa kể cái radio Philip anh ta mang trước ngực.

Về đến đơn vị trời đã tối. Anh ta tắm rửa, đi ăn cơm xong là tổ chức ngay một tiệc trà. Cà phê, ca cao, sữa, bánh trái anh ta lôi ra chất trên bàn. Anh em trong đơn vị thấy anh ta về, kéo tới hỏi thăm này nọ, cả Ban Chỉ huy của anh ta cũng có mặt. Mọi người đều cười nói vui vẻ, kể chuyện tào lao bát xế, chuyện Sàigòn, chuyện đồng bằng, chuyện đánh giặc, chuyện đời xưa đủ cả..

Thuốc Ruby, hết gói này bóc sang gói khác, khói nhả mịt mù, không khí thật vui vẻ. Anh cán bộ nhà ta thỏa mãn hết sức. Anh ta nghĩ thầm trong bụng:

– Phen này mình không khác gì trúng số, đãi đằng anh em phủ phê, quá “mức yêu cầu” thế này, có vậy nó mới vui. Chia sớt với nhau mà hưởng thụ, chẳng ai có thể nói năng gì mình được.

Nhưng sáng hôm sau, ăn sáng xong, Chính trị viên bảo anh ta :

– Anh về cất ca muổng rồi lên văn phòng mình hội ý một chút !

Chuyến đi này, để lấy lòng vài người, nên ngoài việc mua sắm cho anh, anh còn mua vài món để tặng cho những kẻ ở nhà. Riêng Chính trị viên đơn vị, thấy ông ta ao ước cặp viết Parker 6l, anh sẵn tiền liền mua ngay đem về biếu. Được cặp viết ông ta hẳn mừng vô kể. Có vậy, sau này, mỗi khi cần liên lạc gia đình, hoặc trong công tác, đứng về phương diện Đảng ổng sẽ nhớ đến mình, giúp đỡ nhiều việc. Anh ta cất ca muổng xong, mở ba lô lấy cái hộp nhung đựng cặp viết đắt giá, hí hửng lên văn phòng. Gặp Chính trị viên đang ngồi uống nước anh ta xôm vào, ngồi xuống :

– Xin tặng anh cặp viết này để làm việc. Lâu nay thấy anh thích, lần này đi liên lạc gia đình, bà già cho chút đỉnh tiền, nên tôi nhớ tới anh ngay. ·

Chính trị viên nở mũi sung sướng, cười toét miệng đến mang tai. Mãi lo ngắm nghía, vuốt ve, cặp viết, có đến hơn mười phút sau mới nhớ đến hai tiếng “cám ơn”! Uống hết bình nước trà đậm, hộp viết bỏ vào túi áo xong, mặt Chính trị viên bỗng sa sầm xuống :

– Kỳ này đi liên lạc gia đình, má anh cho anh bao nhiêu ?

Anh cán bộ đang vui vẻ, mặt tái ngay lại, mắt trân trân nhìn Chính trị viên đoán nhanh tình thế. Anh ta đâm bối rối :

– Dạ cũng… chút đỉnh thôi anh !

– Chút đỉnh là bao nhiêu ?

Không dám nói thật, cũng không biết phải trả lời sao cho ổn, anh ta còn đang ú ớ thì Chính trị viên thân mến giở cái giọng nhát gừng, mà người ta thường mệnh danh là giọng cười ó đâm , theo sau một câu nói nhạt giọng, chậm rãi :

– Hàng họ thì kẹt, mấy dãy phố thì chưa thâu được tiền mướn, túng quá nên má cho con đâu trăm ngàn gì đó, xài đỡ!

Ngưng một chút, đồng chí Chính trị viên cà khịa :

– Phải vậy không anh ? Chút đỉnh xài đỡ vậy mà! Có bao nhiêu đâu. Đúng chớ ? Mà anh có còn nhớ lời dặn hôm lúc anh mới đi không ?

– Dạ…

– Là cán bộ, là đảng viên, anh gương mẫu vậy đó hả. Tôi nhắc nhở anh rằng gia đình có cho gì phải liệu mà nhận. Anh có biết hành động đó nó biểu hiện tư tưởng gì không ? Mất lập trường giai cấp, ngại khó, ngại khổ, cầu an hưởng lạc, thiếu ý thức đấu tranh, thiếu kỷ luật tính, đảng tính, tư tưởng cách mạng bị lung lay… Nói chung, không phải tôi quy tư tưởng anh, chụp mũ gì anh, nhưng thực tế theo lời báo cáo của đồng chí bảo vệ là như vậy đo. Chỉ mới đêm hôm đến giờ, toàn đơn vị đều biết cái chuyện “xài đỡ” của anh. Mấy anh em quần chúng ngoài đảng, chiến sĩ họ còn có phản ứng, thì đứng về mặt tổ chức, thay mặt đơn vị, thay mặt Đảng, tôi yêu cầu anh làm nộp cho tôi một bản tự kiểm, phân tích kỹ lưỡng, để trước tiên là kiểm thảo trong phạm vi tổ cán bộ, sau đó đưa ra Chi bộ và toàn đơn vị. Anh phải nhớ kể lại các sự kiện một cách rõ ràng, có chi tiết về tất cả mọi hành động của anh, ăn xài huy hoát, từng món, từng thứ. Cả số tiền trăm ngàn đó, anh định sẽ xử dụng như thế nào, anh phải báo cho tập thể, cho Đảng biết. Thôi… anh về làm bản tự kiểm đi..·

Chừng như thấy chưa đủ, Chính trị viên dường còn “ức hiếp” chi đó, nói thêm :

– Anh cũng thừa biết, mẹ anh phi lao động mà, ngồi một chỗ, ngồi trong mát, không làm việc gì hết thì tiền đó là thứ tiền bóc lột nhân dân, thứ tiền không chính đáng. Anh biết rõ nguồn gốc của nó như vậy mà vẫn nhận, vui vẻ hưởng thụ, có phải anh cũng a tùng theo bóc lột nhân dân lao động. cười trên cái đau khổ của kẻ khác không ?

Anh cán bộ lúc đầu thì bối rối, sợ sệt, xấu hổ, cúi đầu. Nhưng sau cùng thì ngẩng lên, mặt đỏ phừng, môi mím lại, đầu anh niểng đi với thái độ mất bình tỉnh rõ rệt. Anh ta vẫn không nói một câu nào. Mắt anh ta lì xuống, thoáng nhìn ngang miệng túi áo của Chính trị viên, dừng lại một giây trên cái hộp viết Parker mà anh ta vừa tặng…

***

Trong cuộc chỉnh huấn toàn khu vực “R” năm 1963, trong phần nêu điển hình về tinh thần ngại khó, ngại khổ, mất lập trường giai cấp, đầu hàng bọn bóc lột, phản động, Cục Chính trị có nêu trường hợp anh ta ra cho chiến sĩ, cán bộ học tập. Tên của anh ta đi vào “lịch sử cách mạng”. Chắc mẻm trăm phần trăm, cây viết Parker mà anh mua tặng cho Chính trị viên kia, nó đã đổ mực lên bản lý lịch của anh rồi. Và cũng nhờ học tập điển hình người ta được biết số tiền kia anh ta đã “tự nguyện tự giác” hiến lại cho tập thể, cho Đảng xử dụng. Điều đó dạy cho mọi người biết rằng, sau này có ai liên lạc gia đình, gia đình có cho tiền thì chỉ có quyền lấy chút đỉnh mà thôi, ai lấy từ năm bảy ngàn trở lên là phải coi chừng ! Tiền đó là tiền bóc lột.

Và không biết có phải nhờ qua cuộc chỉnh huấn 63 hay không, sau đó có những câu nói được chiến sĩ “R” lúc vui miệng mang ra nhạo lại để mà cười :

– Ối! Năm ba chục ngàn, vài ba trăm ngàn xài đỡ vậy mà!

Hay :

– Ăn, thì cứ ăn, phê cứ phê chứ !

Phê có nghĩa là phê bình, cũng có nghĩa là phê vào lý lịch.

—> Đẳng cấp của gian khổ
<—
Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s