Về “R” (Kim Nhật)- Phần IV


2- ĐẲNG CẤP CỦA GIAN KHỔ

Ta hãy nghe cái điệp khúc được nhắc đi nhắc lại mỗi ngày:

– Cách mạng gian khổ ! Có gian khổ mới có vinh quang. Chính vì chỗ đó chúng ta mới đi làm cách mạng, đấu tranh vì quyền lợi giai cấp của chúng ta. Nếu không có tinh thần chịu đựng gian khổ cao độ, không thể làm cách mạng được. Do đó, kẻ thù của chúng ta không bao giờ làm cách mạng.

Đây là một lối định nghĩa Cách mạng sơ đẳng mà chiến sĩ “R” phải học thuộc nằm lòng để “lên lớp” cho đồng chí mình. Sai hay đúng không cần biết, cứ hãy biết phải chịu gian khổ cái đã! Ai có nếp sống nào hơi khác hơn cái gian khổ chung của mọi người là bị phê bình : “thiếu ý thức gian khổ”, “thiếu tinh thần cách mạng”.

Trong công tác, mưa ngủ, nắng nghỉ cũng là “mang tư tưởng ngại khó ngại khổ”. Khi giao việc, thấy việc đó quá sức mình, người bị giao việc trả lời : “Việc đó vượt quá khả năng tôi, tôi không làm nổi”, thì là “ngại khó ngại khổ. Ăm mắm ruốc năm này sang tháng kia, nếu mở miệng rên một tiếng cũng bị khép tội thiếu tinh thần chịu đựng gian khổ.

Ở phạm vi “tư tưởng”, nói chuyện với nhau lỡ khen hay chê bất cứ một nếp sống nào, coi chừng chạy không khỏi cái nhận xét “thiếu tinh thần chịu đựng gian khổ”. Nới chung trăm ngàn hình thức, từ cái nói, cái làm, cái nhìn, cái ăn, cái ngủ v.v… đều phải cẩn thận, coi chừng. Bất cứ lúc nào cũng có thể bị khép vào “thiếu tinh thần chịu đựng gian khổ”. Mà thiếu tinh thần chịu đựng gian khổ, có nghĩa là lập trường cách mạng không vững, mất lập trường giai cấp, và như vậy, chứng tỏ con người đó, cá nhân đó “không trung thành với Đảng”, “bất hiếu” với dân, nhiệm vụ nào cũng không hoàn thành, khó khăn nào cũng đầu hàng, kẻ thù nào cũng đánh…thua.

Chỉ mới cái chuyện nhỏ đó thôi, cũng đã là một vấn đề lớn với “Cách mạng”.

Tất cả mọi người, ai ai cũng phải biết đạo đức giả, phát biểu ý kiến theo ý kiến người khác, giấu ý kiến, giấu tình cảm của minh đi, dù không bằng lòng cũng phải cố làm theo mọi người, luôn luôn phải cười. Nếu không, đó là con người xấu, không trung thành với Cách mạng.

Trong cái ăn uống của mọi người đi làm cách mạng, ai càng chịu khổ chừng nào, càng được đề cao, được khen chừng đó. Vấn đề gian khổ, bắt nguồn ở chỗ thiếu phương tiện, thiếu tiền bạc, vật chất, cũng như một nền kinh tế yếu kém, không đủ cung ứng cho một cuộc chiến tranh. Người ta ca tụng gian khổ, đặt cho nó một ngôi vị cao, thần thánh hóa nó nhằm vào mục đích khích động tâm lý và buộc mọi người phải chấp nhận một nguyên tắc bắt buộc, một căn bản cần thiết của Cách mạng.

Bước vào “cuộc cách mạng thần thánh chống Mỹ”, từ lớn đến nhỏ, nam như nữ, ai ai cũng phải chịu gian khổ như nhau.

Nhưng… việc đời bao giờ cũng có chữ nhưng. Lý thuyết ít khi giống với thực hành. Cuộc “cách mạng thần thánh” ngày nay, nó xuất xứ từ Hà-nội, chớ không xuất xứ từ miền Nam này. Kiểu cách của cuộc cách mạng vũ trang tuy hình thức “chiến tranh du kích cổ điển” nhưng lại mang tính chất chính quy hiện đại. Môi trường đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng áp dụng đường lối cách mạng dân chủ nhân dân. Tự nó, nó biểu hiện một sự pha trộn rồi trở thành những mâu thuẫn, đối chọi nhau trông thật buồn cười.

Hà-nội muốn tiến hành cuộc “Cách mạng thần thánh” “theo lối đốt giai đoạn” : Cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng dân chủ nhân dân đi song song. Có như vậy, khi thống nhất (?) xong đất nước thì cái đà của miền Nam đã có sẵn, bắt đầu tiến hành một chính sách chung, một đường lối chung cho toàn quốc không bị so le, tiến không đều. Cơ sở đã sẵn, thì tổ chức Nông trường, tổ chức Hợp tác xã, tổ chức Quốc doanh, cơ cấu Chính trị, rập khuôn như miền Bắc, khỏi phải qua giai đoạn chuẩn bị cần thiết.

Nói đến gian khổ là nói đến quyền lợi. Quyền lợi bất công, mâu thuẫn thì “sinh giặc”, thì mất đoàn kết, thì lý tưởng bị mất gốc, lung lay, tinh thần cách mạng bị gặm mòn. Nhất định như vậy. Quy luật đó khó ai chối cãi nổi.

Những cán bộ lãnh đạo từ cao đến thấp ở các khu hậu cần “R”, hầu hết, chín phần mười là cán bộ mùa thu. Họ từ Bắc về Nam mang theo cái hơi hướng của Hà-nội, mang theo nếp sinh hoạt và tư tưởng chỉ đạo cách mạng dân chủ nhân dân đem áp dựng vào chiến trường du kích miền Nam khi ở đây đang còn trong giai đoạn “Cách mạng giải phóng dân tộc “.

Nếp sinh hoạt của Hà-nội là nếp sinh hoạt của công chức trong thời bình, đầy nguyên tắc, kỷ luật, nội qui theo kiểu chính quy, chỉ thích ứng với đời sống công chức ngày hai buổi, cuối tháng có lương. Tôn ti trật tự khắt khe của một thứ trật tự như ở chốn đình trung, chiếu trên chiếu dưới thời phong kiến. Bây giờ đem rập cái khuôn miền Bắc vào miền Nam với những lính mới thì nó so le, chênh lệch về tư tưởng, về nhận thức và tình cảm con người.

Gian khổ có chia đều, san sẻ với nhau mới không sinh ra tình trạng so bì, bất mãn. Đằng này, vì rập khuôn Hà-nội vào rừng núi, rưộng đồng nên có sự phân chia rõ rệt… Chính sách cán bộ chế độ hưởng thụ, quyền lợi mọi người dựa vào cấp bậc, chức vụ và… Đảng. Như vậy ở chiến trường miền Nam được áp dụng một thứ trật tự mới, công bằng mới theo kiểu : Cái thằng làm ít, gian khổ ít lại được hưởng lương nhiều, lại được chăm sóc kỹ lưỡng, được bồi dưỡng đầy đủ. Ngược lại, cái thằng làm nhiều, nai lưng ra gánh vác, chịu gian khổ đến tột cùng thì lại hưởng ít, “ăn lý luận chính trị”, “ăn phê bình kiểm thảo” nhiều hơn ăn cơm, bồi dưỡng Nivaquine, Quinine – thuốc sốt rét- nhiều hơn sữa, đường và thuốc bổ.

Trong cái trật tự công bằng mới đó, lính cũng chia làm nhiều hạng, cán bộ chia làm nhiều cấp. Về phía Dân Đảng cũng vậy. Người ta bảo có sự phân chia khác biệt như vậy là để làm việc dễ dàng, là để biểu dương sức mạnh, biểu dương kỹ luật, chính sách Đảng được rõ ràng. Khoai không ra khoai, cá mè một lứa thì làm sao lãnh đạo được. Điều này đúng, nhưng chỉ đúng với miền Bắc.

Lính mới, tham gia cách mạng sau, nên bất kỳ học lực giỏi đến đâu, khả năng tài ba đến thế nào đi nữa cũng phải là chiến sĩ “đơ dèm cùi bắp”, giai cấp công nông phải lãnh đạo các giai cấp khác. Đó là nguyên tắc bất đi bất địch.

Lính phải nằm trong tổ tam tam, chịu sự lãnh đạo của tổ trưởng tam tam. Tổ trưởng tam tam chịu sự chỉ huy của Tiểu đội. Tiểu đội dưới Trung đội, rồi Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Sư đoàn v.v… Nguyên tắc lãnh đạo, nguyên tắc chỉ huy theo hệ thống này dĩ nhiên phải như vậy. Nhưng quyền lợi chính trị được coi là quyền lợi căn bản cùng các quyền lợi khác của cách mạng hưởng không được đồng đều, mà được chia theo đẳng cấp. Dưới hết là cấp lính, kế đó cấp cán bộ sơ cấp, cán bộ trung cấp, cán bộ cao cấp.

Lao động là vinh quang, gian khổ là vinh quang nhưng cán bộ từ chối vinh quang, nhường cho lính. Lính phải lao động triệt để, gian khổ phải lãnh đủ. Cán bộ cơ sở (Tiểu đội) chịu phiền làm gương xung phong nhưng cán bộ sơ cấp (Trung đội, Đại đội, từ cán bộ Trung đội trở lên được gọi là thủ trưởng) thì ngồi một chỗ điều khiển được rồi, bắt lính phục vụ cho mình được rồi. Ngoài ra được hưởng một chế độ đãi ngộ riêng. Trung cấp thì là một thứ quan cách mạng được hưởng tiêu chuẩn cao hơn (từ Tiểu đoàn đến Trung đoàn) và cao cấp (từ Sư đoàn phó – thượng tá trở lên) là một thứ quyền uy tột đỉnh hưởng tiêu chuẩn đặc biệt.

Chiến trường du kích gian khổ, ăn uống thiếu thốn làm việc đầu tắt mặt tối, thời dụng biểu đôi khi cần kíp phải áp dụng 24 trên 24 giờ một ngày. Trong lúc đó cán bộ được nhỡn nhơ, được phục vụ đúng mức, ngồi uống trà nhìn lính làm việc, hoặc chắp tay sau đít đi tới đi lui, hét người này, “kê táng” vào miệng người nọ.

Lúc lính khổ sở, mỗi ngày được cấp khẩu phần hai đồng một ngày thì cán bộ Đại đội được ăn ba đồng, cán bộ Tiểu đoàn ăn bốn đồng, cán bộ Trung đoàn ăn năm đồng, cán bộ Sư đoàn ăn sáu đồng và cao hơn nữa. Theo tỷ lệ 2/3 2/4 2/5 2/6 đó, sau này (1966) lính ăn khẩu phần tám đồng, rồi 1967 lính ăn khẩu phần mười lăm đồng một ngày thì cán bộ Đại đội ăn 22 đồng, cán bộ Tiểu đoàn ba mươi đồng, cán bộ Trung đoàn ba mươi bảy đồng, cán bộ Sư đoàn bốn mươi lăm đồng một ngày.

Về tiền sinh hoạt phí (tiêu vặt hàng tháng) thuở lính lãnh hai mươi lăm đồng một tháng để tiêu vặt, mua thuốc rê, xà bông v.v… thì cán bộ cũng được hưởng theo tỷ lệ trên. Cho đến 1967 vì vật giá leo thang, lính được cấp tám mươi đồng một tháng thì cán bộ Đại đội 120 đồng, cán bộ Tiểu đoàn 160 đồng, cán bộ Trung đoàn 200 đồng, cán bộ sư đoàn 240 đồng.

Khẩu phần như vậy, sinh hoạt phí như vậy (cán bộ Trung đội, Tiểu đội hưởng như lính) nhưng cán bộ ăn ở đâu ? Ăn riêng hay ăn chung ? Ăn chung với lính, nhưng chị nuôi, anh nuôi của đơn vị phải “để ý” chăm sóc cho đầy đủ hơn lính, ngon hơn lính để tỏ chính sách nâng đỡ, bồi dưỡng cán bộ. Nhưng tiền khẩu phần của cán bộ khi ăn chung với lính như vậy bỏ vào bao nhiêu ? -Bằng khẩu phần của lính, còn dư bao nhiêu Quản lý mỗi tháng phải đưa trước cho cán bộ bỏ túi xài chơi-.

Quân trang cũng vậy, nhưng không có sự phân chia chi ly theo từng bậc, hơn kém nhau. Nó uyển chuyển linh động hơn. Vì chính sách là chính sách của quân đội miền Bắc ở môi trường chính quy, khi đem áp dụng vào môi trường chiến tranh du kích, “lợi tức quốc gia” không có, chỉ trông cậy vào sự “khai thác nhân dân” và viện trợ không đều từ bên ngoài đưa vào.

Lính mỗi năm được cấp hai bộ quân phục, một đôi dép râu, một khăn tắm, hai năm một tấm nylon choàng (thay áo mưa), ba năm một tấm nylon nóc (dùng để căng bên trên mỗi khi giăng võng che nắng, che mưa thay cho “tăng”, lều cá nhân), một cái mùng, một tấm đắp. Riêng về võng thì vô hạn định, khi nào rách nát mới được cấp thay. Đối với lính, những trang phục cá nhân căn bản trên đây, răng rắc áp dụng đúng nguyên tắc.

Còn cán bộ từ bậc C (Đại đội) trở lên cũng hưởng tiêu chuẩn như vậy, nhưng khác ở chỗ “linh động hóa”. Lính mặc quân phục may bằng vải ta do xưởng quân trang may sắm, cung cấp. Ai muốn lãnh thì lãnh, chê thì nhà nước cám ơn, tiết kiệm được ngân quỹ của Đảng. Ngược lại, cán bộ được phát vải popeline nylon, nyl-France hoặc kaki tùy thích. Quân nhu phát vải tốt, còn kèm theo tiền may nếu cán bộ không chịu may tại xưởng quân trang, chê thợ ở đây may xấu, may ẩu. Và nếu cán bộ thấy áo quần không thiếu thì bán lại cho quân nhu, hoặc chiến sĩ, nhân dân để lấy tiền xài chơi. Khi may, vải đó không nhất thiết phải may quân phục, may đồ bà ba cũng được. Cán bộ có quyền mặc gì cũng được, không bắt buộc quân phục như lính. May ở ngoài nhân dân thì không nói đến làm gì, chứ cán bộ muốn may ở xưởng quân trang thì quân trang có bổn phận xách thước, xách giây đến từng đơn vị để đo riêng cho mỗi cán bộ. Có vậy, cán bộ mặc mới vừa, mới đẹp. Còn lính thì kệ! Xí xóa mà. Rộng hẹp, ngắn dài, xấu tốt, ăn thua gì! Cái chính là đánh giặc chứ có phải mặc đẹp, mặc tốt đâu.

Những món trang phục cá nhân khác, cán bộ muốn thay, muốn xin cấp thêm, muốn có hàng tốt là tùy thích của cán bộ. Bộ phận quân trang không trành tròn, nguyên tắc như với lính. Bởi cán bộ là vốn quí của Đảng, tất cả phải đặc biệt, phải khác chiến sĩ chứ.

Đồng chí nào phản đối ? Đồng chí nào đem ra suy bì thắc mắc ? Mời đồng chí đó đến văn phòng kiểm thảo, “đả thông”. Nếu đồng chí đó chưa thông sẽ đem ra hội nghị chi bộ, hoặc quần chúng thì đem ra hội trường, đem ra cuộc họp toàn đơn vị “lên lớp” và kiểm thảo tư tưởng, chụp lên đầu cái mũ mất lập trường cách mạng, chưa giác ngộ cách mạng, có tư tưởng bình quân chủ nghĩa, coi thường cán bộ, coi thường chính sách Đảng.

Có tay thẳng thừng phản đối :

– Tôi không đồng ý chính sách đó. Việc mặc vải tốt, vải xấu, hưởng tiền này tiền nọ hơn lính, tôi không nói, nhưng mùng, tấm đắp, nylon choàng, nylon nóc thì tôi không đồng ý. Nếu bảo rằng Đảng cung cấp để phục vụ nhu cầu công tác, thì chỉ có cán bộ biết công tác, còn lính không công tác à ? Cán bộ là người biết sợ ướt, sợ lạnh, sợ bệnh hoạn, còn lính không phải là người à ? Cán bộ có phải làm công tác lao động không ? Có phải đi tải gạo, tải muối, thực phẩm không ? Không! Cán bộ sướng quá mà, tối ngày ở nhà, ở trong mát, không dầm mưa, dải nắng, không cực nhọc, còn lính cực nhọc như chó. Sao nylon choàng rách không được thay, sao mùng rách không được lãnh ? Đợi cho đúng tiêu chuẩn. Vậy chính sách của Đảng quy định tiêu chuẩn cán bộ ra sao mà muốn đổi, muốn thay lúc nào cũng được ?

Chính trị viên nổi nóng, đứng dậy điểm mặt :

– Nè, đồng chí không được ăn nói vô tổ chức, vô kỷ luật như vậy nghe! Đồng chí biết trách nhiệm của cán bộ, nặng nề như thế nào không ? Không có cán bộ ai chịu trách nhiệm vạch kế hoạch, chỉ tiêu công tác, giữ vững nội quy kỷ luật ? Đồng chí phải biết, ngay cả lúc cán bộ ngồi ống trà, cán bộ cũng phải làm việc nữa mà ! Đồng chí đừng có phát ngôn bừa bãi, cá mè một lứa không được đâu! Tôi nhân danh tổ chức, nhân danh Đảng cảnh cáo đồng chí đó!

Câu chuyện không dừng lại ở đó, mà dừng lại ở chỗ nhận xét ghi vào lý lịch và đưa “cái thằng bất mãn” nọ đến một đơn vị khác để uốn nắn tư tưởng, giáo dục cho đến chừng nào thông suốt thì thôi.

Chính sách cán bộ không phải chỉ có từng ấy thứ mà hàng trăm thứ : chế độ bồi dưỡng cá nhân, chế độ bệnh, chế độ công tác, chế độ cần vụ, chế độ bảo vệ, chế độ học tập, chế độ đối xử v.v…

Là cán bộ, được hưởng một loạt biệt đãi như trên.

Nhưng trong nội bộ của hàng ngũ cán bộ lại có một mâu thuẫn khác nữa là giữa cán bộ Đảng viên và cán bộ quần chúng, cán bộ công nông và cán bộ các thành phần lớp trên.

Chung quy đều do chính sách Đảng mà ra. Hay nói cách khác, việc áp dụng chính sách ở miền Bắc vào miền Nam, ở môi trường chính quy và môi trường du kích, ở chế độ dân chủ nhân dân vào cuộc đấu tranh hỗn tạp của chiến trường du kích đầy gian khổ. Tự nó, nó đã mang tính chất mâu thuẫn từ căn bản. Cái lý luận bênh vực chính sách đó là lý luận bất đắc dĩ, ngụy biện. Gian khổ của chiến trường du kích, có chia sớt đồng đều thì mới có sự thông cảm, mới đoàn kết, mới thương yêu nhau. Đằng này Đảng đã tạo ra những đẳng cấp mới, cái thứ đẳng cấp gian khổ, đẳng cấp hy sinh, bắt thằng nhỏ làm cho thằng lớn hưởng. Phá bỏ, tiêu diệt giai cấp này để dựng lên một giai cấp khác thì thực là một ngụy biện vô lý, một thứ chính nghĩa của phi chính nghĩa.

Qua những chế độ được xử dụng do Cục chính trị “R” quy định, cái được gọi là chính sách cán bộ đó tự nó xác nhận rằng, trong cái gọi là cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam, mức độ gian khổ không giống nhau mà tùy theo từng đẳng cấp, một thứ giai cấp cách mạng mới do Đảng tạo thành và quyết định. Chính sách này chỉ đúng đối với miền Bắc trong thời bình, đúng đối với các nước phe xã hội chủ nghĩa trong khối Cộng sản, chứ không thể đúng được ở chiến trường miền Nam.

Thực không có gì trái cựa cho bằng, Đảng chủ trương chiến đấu trường kỳ gian khổ, mọi người phải nâng cao ý thức gian khổ, phải chịu đựng, phải có tinh thần hy sinh thì mới chiến thắng kẻ thù. Đảng không chấp nhận, đả phá triệt để tư tưởng cầu an sợ chết, tư tưởng thích hưởng thụ, hưởng lạc vậy mà lại dựng lên những đẳng cấp khác nhau ; chấp thuận và bảo vệ cho những đẳng cấp mới được quyền hưởng thụ hưởng lạc.

***

Ở chiến trường du kích, từ cái ăn, cái ở, cái ngủ, di chuyển, công tác chuyên môn v.v… nhứt nhứt đều thiếu mọi phương tiện, thiếu mọi khả năng. Tất cả đều bằng sức lao động, sức người, với sự cố gắng phi thường không ngơi nghỉ mới có thể tạm thời giải quyết cho cái sinh hoạt, cho công tác chính thực hiện được một phần nhỏ.

Về nhà ở, trừ những đơn vị chủ lực, còn các đơn vị tĩnh tại (ở cố định một nơi, không hoặc rất ít đi lại), đều phải có căn cứ. Tính trung bình, cứ bốn người phải có một cái nhà để ở, vừa làm chỗ làm việc. Rồi đơn vị nào cũng phải có một nhà bếp, một căn nhà ăn, một hội trường, mấy cái kho đựng gạo, muối, thực phẩm dự trữ, vật dụng. Những loại nhà này bao giờ cũng phải lớn, rộng gấp đôi gấp ba một cái nhà thường.

Ở rừng núi, không thiếu gì cây để làm nhà, nhưng muốn đốn phải đi xa ra khỏi căn cứ từ hai ba trăm thước trở lên. Đường khiêng vác đã xa, lại khó khăn, vì cây làm nhà vừa nặng, vừa dài, càn rừng khiêng vác cồng kềnh, vướng phải những bụi cây chơm chởm những gai, dây rừng, cây cối rậm rạp chen nhau. Muốn đốn cây để đủ cất một cái nhà phải cần đến bốn người làm việc trong ba ngày là chuyện thường.

Khó nhất là vấn đề lá lợp nhà. Ở rừng núi chỉ có hai thứ dùng để lợp nhà được. Đó là tranh và lá trung quân. Muốn cắt tranh phải cắt vào mùa nắng, đến những nơi thật xa căn cứ mình hoặc căn cứ bạn để tránh việc phi cơ để ý, lộ căn cứ. Nhiều khi phải đi suốt một ngày trời mới tìm được một đám tranh nhỏ. Cắt xong, mỗi người vác độ một bó to cỡ hai vòng tay từ đám tranh về căn cứ. Mỗi cái nhà phải mất từ ba đến bốn mươi bó tranh như vậy. Chưa kể công cắt tranh, chỉ việc “vận tải” tranh cất một cái nhà, nếu một người làm việc này, phải mất ba mươi ngày liên tục không nghỉ.

Nếu lá trung quân, công còn phải tốn nhiều hơn. Bẻ lá từng chiếc đem về kết lại từng tấm, một người làm mất sáu mươi ngày mới đủ lợp một căn nhà. Kế đó là dọn nền dựng nhà, dọn dẹp xung quanh, bày biện bên trong. Ỏ một căn cứ, không phải chỉ có từng ấy việc. Nào xây lò Hoàng Cầm, đào giếng, làm đường, đào hệ thống giao thông hào, đào hầm trú ần chống phi cơ, chống pháo, xây dựng hệ thống phòng vệ như hầm chông, bãi chông, hàng rào chiến đấu.

Một căn cứ muốn hoàn thành, có chỗ ăn, chỗ ngủ, chỗ làm việc, phải mất từ ba tháng đến năm tháng. Từ đó, mỗi ngày phải có một số người dành ra để tu bổ, làm thêm từ cái cầu tiêu, cầu tiểu cho đến cái chuồng gà chung, chuồng gà của ông thủ trưởng v.v… Rồi mỗi tháng toàn đơn vị phải tập trung đi tải gạo, tải muối vài ba lần, mỗi lần ít nhứt hai ngày, đi tải thực phẩm, tiếp phẩm thêm vài chuyến nữa. Rẫy trồng hoa màu cũng truất ra vài người, đi săn, đi “cải hoạt”, làm bẫy, thăm bẫy, đi cảnh giới ngày hai lần v.v… Nói chung, “công tác cách mạng” của lính “R” ở những đơn vị tĩnh tại là những công tác lao động ăn ở, nghỉ ngơi. Công tác chuyên môn của đơn vị chỉ chiếm một số thì giờ nhỏ, theo tỷ lệ một phần mười đến một phần hai mươi. Quanh năm suốt tháng, cứ đều đều như thế, vì căn cứ thì vài năm dời một lần, lâu lắm là ba năm. Sợ lộ bí mật mà! Ăn thì ngày nào không ăn, không ngủ ? Nếu không đi tải tùng, không sửa chữa nhà, không dọn dẹp nhà cửa, đường đi, không lo củi đuốc, không “cải hoạt” thì làm sao sống, làm sao nghỉ ngơi ? Ấy là chưa kể ngày nào cũng năm ba chư vị nằm trùm chăn rên hù hù vì sốt rét, trong khi quân số chỉ ba, bốn mươi người.

Khi tất cả toàn đơn vị lao đầu vào công tác khổ dịch thì cán bộ làm gì ? Nặng nhọc lắm! Phải chỉ huy ở văn phòng, phải uống trà, đọc sách, họp bàn chuyện thế giới, nghiên cứu để kiểm thảo lính và tính chuyện phải làm sao để ăn cho ngon. Nặng nhọc như vậy đó! Khi xây căn cứ, bao giờ văn phòng cũng phải làm trước, kế đó mới đến nhà bếp, nhà ăn. Hễ nhà thủ trưởng, nhà văn phòng làm trước thì phải đào hầm tránh phi pháo ngay để bảo vệ cán bộ.

Cho nên giữa cán bộ và chiến sĩ có hai lối sống khác biệt.

Một đằng là lao công khổ dịch và một đằng là “Các đồng chí phải làm cái này, cái kia, rồi cái nọ nữa”, với uống trà và hội họp. Ai bảo đó không là một thứ quyền lợi ? Một đẳng cấp mới của gian khổ, nhờ Đảng, nhờ cách mạng đẻ ra và lớn lên từ miền Bắc, từ Hà-nội đưa vào. Lính bất mãn, phản đối ? Cứ kiểm thảo, thi hành kỷ luật, kỷ luật Đảng, kỷ luật đoàn, kỷ luật nội bộ mà các Đảng viên phải có bổn phận xung phong gương mẫu để duy trì lãnh đạo cho kỳ được.

Rồi cán bộ từ Trung đoàn, thiếu tá trở lên còn được hưởng chế độ cần vụ. Mỗi cán bộ được xử dụng một chiến sĩ hoặc nhiều hơn, tùy theo cấp bậc, chức vụ cao hay thấp, để dùng vào việc phục vụ cá nhân cán bộ.

Sáng ra, cần vụ lo đi nấu nước pha trà cho thủ trưởng uống, xuống nhà bếp bưng cơm thủ trưởng ăn. Trong giờ làm việc phải đi chùi xe đạp, đi săn sóc mấy con gà tự túc, đi giặt quần áo, chăn, mùng cho thủ trưởng, sửa hầm hố. Trưa lại bưng cơm, nấu nước pha trà, trông chừng cho thủ trưởng ngủ. Chiều vẫn tiếp tục công việc đó. Tối lại lo đi săn cheo, săn chồn về nấu cháo riêng cho thủ trưởng và cán bộ trong Ban Chỉ huy bồi dưỡng. Không đi săn thì đi chia đường, đậu về nấu chè, làm kẹo uống nước. Sau cùng là lo giăng mùng, dọn giường cho thủ trưởng ngủ được ngon. Bình thường, hàng ngày trong việc ăn uống của thủ trưởng, ngoài các việc bưng dọn còn phải xem thức ăn của thủ trưởng có ngon không :

Nếu ăn cực quá, cần vụ phải lo đi cắm câu, đi bắn độc, bắt ếch v.v… về phục vụ cho thủ trưởng và các cán bộ trong Ban chỉ huy.

Những ngày đi công tác, ngoài việc dẫn đường, bảo vệ, làm việc vặt, cần vụ cũng phải chăm sóc ăn, ở, ngủ nghê, nấu nước sôi cho thủ trưởng tắm, kẻo thủ trưởng đường xa mệt nhọc bị bệnh, bị cảm lạnh v.v… Nghĩa là đến nơi dừng chân, thủ trưởng chỉ việc ngả lưng ra nằm nghỉ, trà lá, bồi dưỡng cho lại sức để công tác cho cách mạng, cho Đảng, còn cần vụ phải tiếp tục phục vụ đều đều.

Chiến sĩ nào được chọn làm cần vụ cũng tìm cách trốn tránh, từ chối công khai, nhưng bị thuyết phục và áp dụng kỷ luật nên không sao tránh khỏi được. Muốn bỏ cách mạng về nhà cày ruộng ăn thì làm sao đi thoát cái hệ thống kiểm soát, cảnh giới, canh gác từ căn cứ giữa rừng sâu xuống đến đồng bằng, khi trong người không có một mảnh giấy lộn, lại không có gạo, có thực phẩm ăn ở dọc đường ? Mặt khác, còn cái mặc cảm, cái tự ái cá nhân, “anh hùng tính”, sợ bị người ta cho là hèn, là dở, là thiếu tinh thần ái quốc v.v… Lỡ rồi, trót theo “cách mạng” phải theo tới cùng, chớ biết sao!

Để trấn an, để lý luận cho “công tác cách mạng” này, người Chính trị viên đơn vị nhân danh Đảng giải thích như sau :

– Lao động là vinh quang. Công tác nào cũng vinh quang hết! Đồng chí phục vụ cho cán bộ để cán bộ rảnh rang, dồi dào sức khỏe phục vụ được nhiều hơn cho Đảng, cho nhân dân. Cán bộ không phải làm những công việc tạp dịch, tập trung hết mọi khả năng sức lực vào việc lãnh đạo. Bởi công tác lãnh đạo là công tác vô cùng quan trọng. Để phí thì giờ làm những chuyện vặt vãnh đó, thiệt hại cho cách mạng, cho Đảng biết bao nhiêu. Vì vậy, đồng chí chăm sóc cho cán bộ được khỏe mạnh, rảnh rang là đồng chí phục vụ cho cách mạng, góp nhiều công sức cho Đảng rồi đó. Nhiệm vụ làm thủ trưởng hay nhiệm vụ cần vụ cũng đều là nhiệm vụ cách mạng, đều là quan trọng như nhau, chỉ khác ở chỗ vị trí công tác mà thôi. Trong tư tưởng, đồng chí phải thấy rằng đó là một công tác hết sức vinh quang, phục vụ cho Đảng, cho cách mạng chứ không phải đồng chí phục vụ riêng cho cá nhân cán bộ đó. Đảng có tín nhiệm đồng chí, mới dám giao phó cho đồng chí nhiệm vụ đó chứ ?

Anh chiến sĩ được chọn làm cần vụ phang ngang một câu :

– Tôi thấy tôi vinh quang không nổi, xin đồng chí chọn đồng chí khác đáng được tín nhiệm hơn tôi.

– Không! Đảng đã chọn đồng chí thì đồng chí phải nhận, vui vẻ, phấn khởi mà nhận. Kỷ luật tổ chức đồng chí biết rõ là “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên”, đồng chí là giải phóng quân mà ! Đồng chí phải biết người giữ ngựa của Đại tướng Võ nguyên Giáp, chăm sóc ngựa tốt thì cũng vinh quang như Đại tướng. Đại tướng đã từng chỉ thị như vậy.

Anh chiến sĩ cà khịa thêm mấy câu :

-Thưa đồng chí ! Giữ ngựa suốt đời cũng chỉ là giữ ngựa. Còn Đại tướng bao giờ cũng là Đại tướng. Cần vụ giữ ngựa không được ăn ngon như Đại tướng, không được đi xe như Đại tướng, ai ai cũng có thể sai anh cần vụ như một đứa ở. Đại tướng vinh quang chứ giữ ngựa vinh quang vào chỗ nào ? Thưa đồng chí! Quyền lợi của mọi người trong cách mạng như nhau, vậy tại sao có người sung sướng bắt kẻ khác phải làm tôi tớ cho mình. Nếu tôi không vào cách mạng như thế này, ở nhà tôi cày ruộng ăn, đóng thuế đầy đủ cho cách mạng, thì cũng là nhân dân tốt, hết lòng với cách mạng rồi. Ở ngoài nhân dân, tôi chống đối kẻ ngồi không bóc lột sức lao động người khác để hưởng, cho nên tôi mới theo cách mạng. Vào đây cũng vậy thì thà tôi ở nhà tốt hơn.

Người Chính trị viên tái mặt vì giận và vì không thể bịt miệng được cái thằng “ba gai, vô kỷ luật ” này. Y cười gằn :

– Được! Tôi sẽ có ý kiến với đồng chí sau ! Đồng chí chống đối Đảng, mạt sát Đảng. Chỉ có bọn phản động, phản cách mạng mới đám làm điều đó.

—> Bộ Chỉ huy tối cao
<—
Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s