Về “R” (Kim Nhật)- Phần IV

3- BỘ CHỈ HUY TỐI CAO

Cho đến ngày nay, bảy năm sau khi “R” được thành lập, “R” chưa hề công bố danh tánh, chức vụ của bất cứ một tướng lãnh nào. Ai biết được gì thì biết, không thì thôi, chả quan tâm đến. Chỉ có hai cá nhân xuất đầu lộ diện, giới thiệu công khai cho mọi người biết, đó là Ủy viên quân sự Trần Nam Trung và Phó Tư lệnh “Bộ Chỉ huy Các Lực lượng vũ trang, bán vũ trang Miền Nam” Nguyễn thị Định.

Thế, Trần Nam Trung là ai ?

Ai ai cũng biết rõ rằng Trần Nam Trung chỉ là tên giả, là bí danh của một tướng lãnh trong hàng ngũ tướng lãnh Hà-nội. Người ta xử dụng tên Trần Nam Trung cốt đánh lừa dư luận, tạo những thuận lợi về chính trị và giữ được “bí mật quốc phòng” cho chính quyền miền Bắc.

Lúc đầu, không chỉ giới tình báo Việt Nam – Đồng Minh, cả những cán bộ, chiến sĩ của “R”, của Mặt Trận Giải Phóng đều tưởng lầm, cho rằng Trần Nam Trung là cái tên thứ hai, cái “lốt” mới của Trung tướng Trần Văn Trà, Cựu Tư lệnh Bộ Tư lệnh Khu 8, rồi Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phân Liên Khu Miền Đông thời kháng Pháp 1945-1954 ở Nam Bộ. Về cấp bậc Đảng, trong những ngày 1959-1960, ở Hà-nội, Trà là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng.

Mọi người đều tưởng lầm như thế. Nhưng thực sự, Trần Nam Trung không phải là Trần văn Trà, mà chính là Trung tướng Trần Lương, sinh quán Hà-Tĩnh, nguyên thủ lãnh du kích Ba Tơ (Quảng Ngãi) 1945. Và Trần Lương được kể là một trong những đảng viên Cộng sản Đông Dương gia nhập Đảng trước 1930, đã từng tham gia “Xô Viết Nghệ Tĩnh ” (1929-1930).

Trong thời 9 năm kháng chiến chống Pháp, Trần Lương công tác tại Tổng Cục Chính Trị với chức vụ Phó Chủ Nhiệm (Tổng Cục Phó), thuần công tác Đảng, ít khi xuất đầu lộ diện như những tướng lãnh khác.

Năm 1950, Đảng Cộng sản ra công khai với cái tên “Đảng Lao Động”, Lương được bầu Ủy viên chính thức Trung Ương Đảng. Sau khi tiếp thu miền Bắc, năm 1958 trong đợt phong quân hàm toàn quân, Lương được Đảng cho “rút vào bí mật” để đến 1961 đưa vào Nam với tên mới : Trần Nam Trung, nắm quyền Tư lệnh Bộ Chỉ huy “R” và Phó Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm cả chức vụ Bí thư Quân Ủy Miền Nam những chức vụ mà trước đây nằm trong tay của “Anh Hai chủ tịch xe ngựa “.

Ngoài tên Trần Nam Trung, Trung tướng Trần Lương còn dùng nhiều bí danh khác, như Ba Trần, Hai Hậu, Năm Nga v.v…

Tuy trên phương diện công khai, phía bên kia chưa bao giờ giới thiệu Trần Nam Trung là Tư lệnh Bộ Tư lệnh “R”, chỉ được giới thiệu Ủy viên quân sự trong Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng, nhưng mọi người đều hiểu chức vụ Tư lệnh mới thực sự là chức vụ đúng nhất của ông ta.

Có điều không ai ngờ đến, Trung tướng Trần Lương vốn xuất thân “thành phần bần cố nông”, dốt đặc, mãi đến khi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương mới được “các đồng chí” dạy đọc dạy viết. Nghĩa là ông ta chỉ biết đọc, biết viết ; chưa hề học qua một trường văn hóa cũng như quân sự nào.

Thế mà… Trung tướng đấy! Tư lệnh đấy!

Về Nguyễn thị Định, sinh quán của Định ở quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Năm 1945, Định mới ngoài hai mươi tuổi, có chồng, một con. Có chồng từ năm 16 (theo lời Định kể trong loạt hồi ký đăng trên báo “Quân Giải Phóng” của “R” năm 1965). Năm 1945, Định cũng từng đi theo một phái đoàn Việt Minh của tỉnh Bến Tre ra Hà-nội gặp Hồ chí Minh, xin vũ khí.

Trước 1945, Định đã là một đảng viên Cộng Sản Đông Dương, là liên lạc viên cho chồng với các đồng với của chồng. Ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Định là chủ tịch Ban chấp hành Phụ nữ Cứu Quốc tỉnh Bến Tre và là Ủy viên Tỉnh Ủy.

Năm 1954, Định được thăng lên Bí thư Tỉnh Ủy và Ủy viên Khu Ủy I-2. Sau chiến dịch tập kết ra Bắc, Định được chỉ định ở lại. Thời kỳ bấy giờ, các cơ sở Đảng bị quốc gia lùng dữ tợn, phá vỡ hầu hết. Định đâm hoảng, tản cư về tránh né ở Cù Lao Dài, nằm trên sông Cổ Chiên, thuộc Cái Mơn, tỉnh Bến Tre với người chồng thứ ba trong lớp nông dân cày ruộng, quần xắn ống, ăn trầu bô bô. Người chồng thứ nhất của Định chết ở Côn Đảo trước 1945. Người chồng thứ hai, Định lấy trong những năm đầu Kháng chiến theo kiểu bán chính thức, “già nhân ngãi non vợ chồng” được ít lâu bị Định cho “ao”. Sau đó, có người thứ ba “thế chân” ngay. Kể ra, Định cũng “tình tứ” lắm đấy chứ !

Sau phong trào đồng khởi, Định tổ chức nhiều cuộc “đấu tranh chính trị” với “đội quân đầu tóc”, bằng cách ra lệnh cho cán bộ địa phương bắt buộc đàn bà con gái từ 12, 13 tuổi cho đến 70, 80 tuổi miễn ai còn đi đứng nổi là phải “rập” những mẫu đơn viết sẵn, chép lại trên giấy học trò rồi kéo nhau “đi đơn” lên quận, lên tỉnh. Mỗi lần “đi đơn” như vậy có đến hàng trăm, có khi cả ngàn người.

Hành động khép nép nộp đơn rồi tất tả ra về đó được “ở trên” cho là “anh dũng tuyệt vời”, “khí thế bừng bừng sôi sục”, “làm cho kẻ thù khiếp sợ run rẩy”, nên Định được thăng ngay lên Bí Thư Khu Ủy I-1.

Cuộc gặp gỡ với Nguyễn Chí Thanh trong kỳ Đại Hội Thành Lập Mặt Trận 20-12-1960, Định được Nguyễn Chí Thanh phong là “người phụ nữ số 1”, cất nhắc lên hàng Ủy viên Thường vụ Trung Ương Cục. Và cho đến lúc Nguyễn Chí Thanh vào ở hẳn tại Miền Nam năm 1963 để trực tiếp chỉ đạo chiến tranh, Định được Nguyễn Chí Thanh rút về “R”, đưa lên ngôi vị Phó Tư Lệnh đầu tiên của Bộ Chỉ huy “R”.

***

Ngoài hai nhân vật trên – hai nhân vật được công khai hóa, công bố tên tuổi, chức vụ mà mọi người đều biết, còn có những tướng lãnh không được giới thiệu. Những tướng lãnh này mới là những người “hữu danh hữu thực”, nắm quyền và điều khiển chiến tranh tại Miền Nam như phần trước đã nói đến. Đó là:

– Đại tướng Nguyễn Chí Thanh,
– Trung tướng Trần văn Trà,
– Thiếu tướng Trần Độ (vừa được thăng Trung tướng lúc lên đường vào Nam, cùng lúc với Lê Trọng Tấn),
– Thiếu tướng Lê Trọng Tấn.

Dù đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần ở phần trước, cũng xin được lặp lại lần nữa về những tướng lãnh này.

1/Tướng lãnh quan trọng bậc nhất, nắm tất cả mọi quyền hành, lãnh đạo cơ cấu Đảng, quân sự cũng như chính trị tại Miền Nam là đại tướng Nguyễn Chí Thanh, bí danh Sáu Vi, Trường Sơn, đôi khi ký tên trên báo là Hạ sĩ Trường Sơn.

Nguyễn Chí Thanh là một trong hai đại tướng của miền Bắc : Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Chí Thanh. “Đại tướng” của Nguyễn Chí Thanh là Đại tướng chính trị, nắm quyền lãnh đạo Đảng trong quân đội với chức vụ Chính ủy toàn quân về phía chính quyền và Bí Thư Tổng Quân Ủy Trung Ương về phía Đảng. Nhưng những chức vụ đó hãy kém với chức vụ Ủy viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng, mà theo cách nhìn của thế giới Tây Phương qua cách sắp xếp, giới thiệu thứ tự trên dưới của Hà-nội thì Nguyễn Chí Thanh lãnh tụ đứng hàng thứ 8 trong số 13 lãnh tụ cao cấp nhất của miền Bắc.

13 lãnh tụ của Hà-nội được Đại Hội Toàn Đảng bầu vào Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng tổ chức vào năm 1959 là :

1. Hồ chí Minh (Chủ tịch Đảng kiêm chủ tịch nước).

2. Lê Duẫn (Bí thư thứ nhất Trung Ương Đảng)

3. Trường Chinh (Bí thư Trung Ương Đảng, Chủ tịch Quốc Hội)

4. Phạm văn Đồng (Bí thư Trung Ương Đảng,Thủ tướng chính phủ)

5. Võ Nguyên Giáp (Bí thư Trung Ương Đảng, Phó Thủ Tướng, Bộ trưởng Quốc Phòng, Tổng Tư

Lệnh Quân đội). .

6. Nguyễn Duy Trinh (Bí thư Trung Ương Đảng, Phó Thủ Tướng, Bộ trưởng Ngoại Giao)

7. Lê Đức Thọ (Bí thư Trung Ương Đảng)

8. Nguyễn Chí Thanh (Bí thư Trung Ương Đảng, Đại tướng Chính ủy toàn quân).

9. Phạm Hùng (Bí thư Trung Ương Đảng, Phó Thủ Tướng)

10. Hoàng văn Hoan (Bí thư Trung Ương Đảng).

11. Lê Thanh Nghị (Bí Thư Trung Ương Đảng, Phó Thủ Tướng).

11 nhân vật trên là Ủy viên chính thức. Và 2 Ủy viên dự khuyết :

12.Văn Tiến Dũng (Bí Thư Trung Ương Đảng, Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng).

13.Trần quốc Hoàn (Bí Thư Trung Ương Đảng, Trung tướng, Bộ trưởng Công An).

Vào Nam, Nguyễn Chí Thanh đương nhiên nắm quyền Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, trực tiếp chỉ đạo các mặt, tối hậu quyết định mọi vấn đề tại Miền Nam thay cho Trung Ương Đảng miền Bắc.

2/ Kế đó là Trung tướng Trần văn Trà, bí danh Tư Chi, Ủy viên dự khuyết Trung Ương Đảng (danh sách được Hà-nội công bố năm 1959). Trần văn Trà, nguyên là Tư lệnh Bộ Tư lệnh khu 8, Tư lệnh Bộ Tư lệnh kiêm Bí thư Phân Khu Ủy Phân Liên Khu miền Đông trong thời kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ. Khi Đảng Cộng sản ra mặt công khai dưới tên mới Đảng Lao Động Việt Nam vào năm 1950, Trần văn Trà là một trong những Ủy viên Thường vụ Trung Ương Cục Miền Nam.

Năm 1954 tập kết ra Bắc, Trần văn Trà được Hà-nội gửi đi tu nghiệp ở trường Đại học Quân sự Mát-scơ-va, rồi Bắc Kinh và Bình Nhưỡng (Bắc Hàn). Sau mấy năm tu nghiệp, Trần văn Trà trở về Hà-nội, đưọc phong quân hàm Thiếu tướng (1958) và giữ nhiệm vụ Chủ Nhiệm Ủy Ban Thống Nhất nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc do Tôn Đức Thắng làm chủ tịch.

Năm 1962 được thăng Trung tướng, rồi vào Nam 1963. Vào Nam lần này, Trần văn Trà đảm nhiệm chức vụ Phó Tư lệnh thứ nhất “R” về phía quân đội, Phó Bí thư Trung Ương Cục và Phó Bí thư Quân Ủy Miền về phía Đảng. Ở quân đội, tuy Trần văn Trà chỉ là Phó Tư lệnh, cấp dưới của Tư lệnh Trần Lương, nhưng thực sự Trần Văn Trà là người điều khiển, lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp tất cả các công tác quân sự, chiến tranh tại Miền Nam. Trung tướng Trần Lương, tức Trần Nam Trung chỉ là một tướng… chính trị, khả năng chuyên môn về quân sự gần như chẳng có gì. Và Trần Lương ít khi nào xuất hiện tại khu vực Bộ Chỉ huy “R”, luôn luôn đóng đô tại khu vực Văn phòng Trung Ương Cục.

3/Tiếp theo Trung tướng Trần văn Trà là Trần Độ, bí danh Trần Quốc Vinh, Chín Vinh, bút hiệu Cửu Long. Trong thời kháng chiến chống Pháp, Trần Độ là Chính ủy Trung đoàn Thủ Đô (sau là Trung đoàn 209 Độc Lập, rồi Trung đoàn Sông Lô). Năm 1948, Đại đoàn 312 thành lập, Độ được thăng cấp, nhảy lên làm Chính ủy Đại đoàn. Vào mùa hè năm 1951, danh từ Đại đoàn được đổi thành Sư đoàn. Độ giữ nhiệm vụ Chính ủy Sư đoàn 312 đến 1954. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Trần Độ được tuyên dương, đề cao là một trong những anh hùng Điện Biên. Năm 1955 về Hà-nội, Độ được đưa đi tu nghiệp ở các trường Đảng Bắc Kinh, Mạc Tư khoa. Năm 1958, được phong quân hàm Thiếu tướng, giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy quân khu Hữu Ngạn (sông Hồng). Trước giờ lên đường vào Nam 1963, Độ nhận được quyết định thăng cấp Trung tướng.

Vào Nam cùng lúc với Trần văn Trà, Trần Độ được cử giữ nhiệm vụ Phó Tư lệnh “R”, kiêm Chủ nhiệm Cục Chính Trị, Phó Chính ủy “R” về phía quân đội và Ủy viên Thường vụ Trung Ương Cục, Phó Bí thư Quân Ủy Miền Nam về phía Đảng.

Trần Độ là tướng lãnh trẻ nhất trong hàng ngũ tướng lãnh miền Bắc. Độ rất được Trung Ương Đảng tin cậy, xem là một “cây lý luận”, “lý thuyết gia” của các báo Đảng như “Học Tập”, “Tiền Phong” v.v… tài năng đang lên về quân sự, chính trị, cả văn học.

4/Song song với Trần Độ là Lê Trọng Tấn, bí danh Ba Long. Lê Trọng Tấn vào Đảng Cộng sản Đông Dương từ trước 1945, được Đảng cử đi “nằm vùng”, làm lính nhảy dù của Pháp, đóng ở trại Bạch Mai. Nhờ đó, khi Nhật đảo chánh Pháp, Tấn đã đem khá nhiều súng đạn về cho Đảng. Và chính Tấn cũng là một trong những “đầu mục” có công thanh trừng “Việt Quốc”, “Việt Cách”, những anh em Quốc Gia thời 1946 ở Hà-nội. Nhờ những công lao đó, năm 1946 Tấn được cử giữ chức vụ Phó Tư Lệnh Khu I.

Khi Pháp trở lại, kháng chiến bắt đầu, Lê Trọng Tấn được giao chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sông Lô, mà Trần Độ là Chính ủy Trung đoàn. Năm 1948, Tấn được đề bạt Tư Lệnh Đại đoàn 312. Năm 1954 qua chiến dịch Điện Biên Phủ, Tấn cũng được tuyên dương chung với mọi người.

Năm 1955 về Hà-nội, Tấn được đưa sang Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh tu nghiệp về quân sự. Năm 1958 về nước được phong quân hàm Thiếu tướng, công tác ở Tổng Cục Tham Mưu và là Hội trưởng Hội Thể dục Thể Thao. Có một thời gian, Tấn là Hiệu trưởng trường Lục quân, đào tạo sĩ quan cho quân đội miền Bắc.

Trước giờ lên đường vào Nam, như Trần Độ, Tấn cũng nhận được quyết định đề bạt lên Trung tướng.

Vào Nam, Lê Trọng Tấn lấy bí danh Ba Long, được cử làm Tư lệnh phó “R”, kiêm chủ nhiệm Cục Tham mưu, trực tiếp điều khiển về an ninh tình báo, cũng như hệ thống gián điệp tại Miền Nam. Về phía Đảng, Tấn còn là Ủy viên Trung Ương Cục, Ủy viên Quân Ủy Miền Nam.

***

Kể từ 1963, khi Thanh, Trà, Độ, Tấn vào Nam, văn phòng Bộ Chỉ huy “R” và ba cục (Chính Trị, Tham Mưu, Hậu Cần) được thành lập ngay, xây dựng căn cứ ở Suối Nước Trong (Đông Bắc Bồ Túc) giữa rừng sâu, cách biên thùy Mimot chưa đầy 10 cây số. Từ đó, Bộ Chỉ huy “R” còn có thêm tên gọi là Bộ Chỉ huy Ba Cục.

Bên ngoài căn cứ, trạm kiểm soát, cổng bảo vệ, đồn canh nằm trên các con đường xuyên căn cứ hoặc ven căn cứ mọc lên như nấm. Rồi các đơn vị cảnh giới phân vùng kiểm soát chung qưanh căn cứ suốt ngày đêm. Án ngữ ở cổng bảo vệ cuối cùng là Phòng Thường trực với một Đại đội vệ binh trang bị vũ khí đầy đủ. Tất cả các cán bộ bất cứ từ đâu đến, muốn vào các Cục, hoặc Bộ Chỉ huy Ba Cục đều phải dừng lại ở Phòng Thường trực. Bộ Chỉ Huy quy định rằng, phải là cán bộ từ cấp “D” Trưởng tức từ Đại úy trở lên mới được phép vượt qua khỏi PhòngThường trực để vào tiếp xúc, làm việc với các Cục. Bởi vì chỉ có cán bộ từ cấp này trở lên mới có thể đảm trách những nhiệm vụ quan trọng cần sự giải quyết của các Cục. Cán bộ cấp dưới không có việc gì phải đến Cục, hệ thống quân giai cấp kế đó giải quyết đủ rồi.

Nhưng như vậy, không có nghĩa hễ từ “D” Trưởng trở lên muốn vào căn cứ Ba Cục lúc nào cũng được. Phải điện thoại vào trong báo trước, chờ trả lời. Khi nào bên trong gọi điện thoại cho vào mới được vào. Dù đã từng đi lại nhiều lần, quen mặt cũng vậy, Phòng Thường trực vẫn phải điện thoại xin lệnh bên trong. Kỳ dư các cấp dưới, dù có việc gì khẩn cấp, hệ trọng đến đâu đi nữa cũng chỉ được phép ở Phòng Thường trực, điện thoại vào.

Bộ Chỉ huy cũng được thiết lập, dù rằng họa hoằn một đôi khi, một vài tướng lãnh chỉ liếc mắt đảo qua. Một Trung đội tiếp phẩm chuyên biệt lo phục vụ cho Bộ Chỉ huy theo một tiêu chuẩn đặc biệt, cứ mua, cứ xuất, đủ các thứ thực phẩm tươi, ngon, bổ dưỡng qua các ngõ biên giới, Bàu Cỏ, Tà Păng (Tây Ninh), Bến Củi, Định Thành (Dầu Tiếng), Bình Dương, Sóc Ông Trang (Bình Long).

Để chăm sóc sức khỏe cho Bộ Chỉ huy, Bệnh xá đặc biệt được xây cất tại khu vực Bộ. Đó là bệnh xá 70. Từ 1965 trở về 1963, y sĩ cao cấp Bảy Đại làm Bệnh xá trưởng và 7 y sĩ khác với 5 y tá làm cán bộ nhân viên điều trị. Hàng y sĩ đều là cán bộ mùa thu từ Bắc trở về Nam, từng phục vụ ở các bệnh viện 103 và 108. Chỉ có số y tá là người được đào tạo tại khu B. Về mặt tổ chức, bệnh xá chỉ liên hệ công tác chuyên môn với Phòng Quân Y Cục Hậu cần “R”, còn điều khiển, tổ chức lại trực thuộc Cục Tham mưu.

Hai năm đầu thì vậy. 1965 trở về sau, Bảy Đại được đưa đi học bổ túc bác sĩ khóa I ở Trường Quân y Trung Cao “R”, bác sĩ Tô Thiện từ Hà-nội về thay thế. Đến 1966, Tô Thiện lại được đưa đi làm Viện trưởng Bệnh viện K.76 phục vụ cho chiến dịch đường 13. Y sĩ Mười Tài từ khu A lại được gọi về thay.

Tuy là bệnh xá, nhưng cũng được trang bị dụng cụ chuyên môn không khác các bệnh viện khác. Khoa ngoại cũng trang bị phòng mổ đủ các dụng cụ đại phẫu thuật, trung phẩu thuật. Có điều, bệnh xá không có giường bệnh, và suốt từ 1963 đến sau này cũng chẳng có “bệnh nhân” nào nằm ở tại bệnh xá khác hơn là nhân viên của bệnh xá. Bởi bệnh xá lập ra dành cho các tướng lãnh trong Bộ Chỉ huy, mà mấy ông Tướng có sốt rét cũng chỉ nằm nhà cho em út nó chăm sóc, tội gì phải đi đâu.

Bệnh xá 70 chỉ là một hình thức tổ chức, một sự “làm dáng”. Trong vấn đề điều trị các tướng lãnh, không phải do các y bác sĩ tại đây mà do các “sư tổ” y khoa của Phòng Quân y đảm trách.

Hằng tháng, đều đều hai lần, người ta thấy hai bác sĩ Nguyễn Minh Nhân và Hoàng Minh Thọ khăn gói đùm đề, cong lưng cỡi xe đạp từ Bệnh Viện 320 và Trường Quân y Trung Cao “R” về Bộ Chỉ huy Ba Cục thăm sức khỏe cho các tướng lãnh.

Bác sĩ Nguyễn Minh Nhân, nguyên trong thời 9 năm kháng chiến chống Pháp là bác sĩ Nguyễn Thiện Thành, Quân y viện trưởng khu 9, rồi Phân Liên khu Miền Tây. Năm 1954 tập kết ra Bắc được đi học Tiến sĩ y khoa ở Mát-scơ-va, chuyên về Thần kinh cao cấp. Nguyễn Minh Nhân đã đỗ thủ khoa, dẫn đầu mấy trăm y khoa tiến sĩ cùng khóa. Sau đó đi Bình Nhưỡng tham quan và nghiên cứu về khoa châm cứu do Bác sĩ Viện Trưởng Viện Châm Cứu Bắc Triều Tiên – Kim Bon Han hướng dẫn. Về Hà-nội, Nhân được cử giữ nhiệm vụ Chủ nhiệm Khoa nội, Bệnh viện quân sự 103 và chuyên gia thần kinh cao cấp dạy ở trường Đại học y khoa quân sự cao cấp của Viện Nghiên cứu Y học Quân sự Hà-nội. Mặt khác, Thành còn là bác sĩ trong Ủy Ban Bảo vệ Sức khoẻ Trung Ương Đảng, phục vụ bảo vệ sức khỏe lãnh tụ. Năm 1963, đổi tên Nguyễn Thiện Thành ra Nguyễn Minh Nhân, đi tàu biển trở về Nam, đổ bộ mũi Cà Mau rồi theo đường dây về “R”, đảm nhiệm chức vụ Phó Phòng Quân y “R” kiêm nhiệm chuyên gia nội khoa, cố vấn của Bệnh viện 320- Bệnh viện lớn nhất ở Miền Nam – và giảng viên thần kinh cao cấp của Trường Quân y Trung Cao “R”.

Hoàng Minh Thọ tức Trương Công Trung, nguyên Quân y viện phó khu 9, cùng với Nguyễn Thiện Thành là cặp bài trùng y khoa nổi danh ở miền Tây trong thời kháng chiến chống Pháp. Nếu Nguyễn Thiện Thành chẩn đoán nội khoa “bá phát bá trúng”, điều trị cừ, sáng chế ra dược liệu Filatov ở Miền Nam đầu tiên thì Trương Công Trung dù chỉ xuất thân là sinh viên y khoa năm thứ tư, chiến trường khu 9 đã tạo cho Trung trở thành một bác sĩ ngoại khoa lỗi lạc, mổ nhanh như gió, giải quyết mọi ca hóc hiểm nhất của chiến trường miền Tây.

Năm 1954 tập kết ra Hà-nội, Trung được đưa sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh ngoại khoa chuyên về bụng và ngực, giật mảnh bằng tiến sĩ y khoa của Viện Hàn Lâm Y học Liên Xô. Về Hà-nội, Trương Công Trung làm chủ nhiệm khoa ngoại bệnh viện quân sự 103 và là chuyên gia ngoại, giảng ở trường Đại học Y khoa và Trường Quân y Cao Cấp của Viện Nghiên cứu Y học Quân sự Hà-nội. Cùng lúc với Thành, Trung cũng vào Nam cuối năm 1963, đi bằng tàu xung kích đổ bộ ở bờ biển Ba Tri (Bến Tre). Từ Bến Tre, Trung được đưa một mạch về “R” giữ nhiệm vụ Phó trưởng Phòng Quân y “R” kiêm Hiệu trưởng Trường Quân y Trung Cao “R” và là chuyên gia ngoại khoa của bệnh viện 320. Từ đó, tên được cải đổi lại là Hoàng Minh Thọ.

Cả hai đều mang cấp bậc thượng tá quân y, là 2 trong 4 Phó Phòng Quân y “R”. Về quân y ở Miền Nam, hai nhân vật đó được xem là hai “sư tổ”, “oai danh trùm thiên hạ” chưa một nhân vật nào có thể được xếp ngang hàng dù rằng cũng được học ở Liên Xô hoặc Đông Đức trở về.

Cho nên việc thăm sức khỏe mỗi tháng hai lần cho các tướng lãnh ở Bộ Chỉ huy phải là việc của Nguyễn Minh Nhân và Hoàng Minh Thọ. Các y bác sĩ ở bệnh xá 70 chỉ là những “thợ chích” và “chuyên viên” bưng nước đưa thuốc cho tướng lãnh uống mà thôi. Đôi khi, các chuyên viên đó còn kiêm thêm việc pha cà phê, ca cao uống sáng. Và ngày hai buổi, đề nghị thay đổi thực đơn, kiểm tra những món ăn của thượng cấp qua các bếp, cũng như đánh giá sức khỏe các tướng của mình qua lượng thức ăn tiêu thụ được. Nhiều thì thôi, nếu ít một tí, coi như chiều hôm đó “chuyên viên” đặt vấn đề để đem ra thảo luận nghiên cứu để biết nguyên do và tìm biện pháp “điều trị”.

Sinh hoạt thường ngày của các tướng lãnh trong chỉ huy gần như một công thức đều đều, không khác những ngày còn ở Hà-nội. Cái nếp sống chính quy những nguyên tắc của miền Bắc được áp dụng triệt để ở đây.

Sáng ra, thức dậy 6 giờ, súc miệng rửa mặt xong thì Trà, Độ, Tấn, Định kéo nhau đến nhà của anh Sáu (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh) để “sinh hoạt tin tức”, trao đổi ý kiến qua những cốc ca cao sữa hột gà, ovolac, ovo chocolat của Bắc Kinh chế tạo, những điếu thuốc Ăng lê Cóc tai (Cocktail), Craven A, 555, v.v… và mấy chiếc bánh ngọt mua tận Sàigòn mang về hay từ Nam Vang đưa đến. Sau đó là chè “Ba Đình” trong suốt buổi sinh hoạt.

Buổi sinh hoạt sáng này có thể chia ba phần riêng biệt.

– Phần thứ nhất là tình hình thế giới ngày qua. Phần này chỉ thuần tin tức của các hãng thông tấn Quốc tế, các đài bá âm trên thế giới được kiểm thính và bài điểm báo do Hà-nội điện vào lúc 12 giờ đêm. Tin tức kiểm thính thì do Phòng tin tức báo chí của Cục Chính trị theo dõi, nhận được qua radio và bộ phận điện đài đúc kết thành một tập đánh máy, ngoài bìa có phân loại,ghi tiết mục, tóm tắt ý chính. Tập tin tức kiểm thính này cứ mỗi sáng 5 giờ là Phòng tin tức báo chí phải cho một cán bộ mang đến nạp tại văn phòng của Trần Độ.

Trong buổi sinh hoạt, Độ đích thân mang đến, đọc sơ qua các mục và ý chính những tin tức quan trọng. Sau đó tùy yêu cầu của các Tướng mới đọc từng chi tiết. Qua mỗi tin, Độ có nhiệm vụ kết luận, nhận xét một câu, các nhân vật khác bình thêm vài câu ngắn rồi thông qua các tin tức quan trọng khác.

– Phần thứ hai là tin trong nước, tin tiền phương, tin quân báo, tin nội bộ do Tấn báo cáo dựa vào quyển sổ tay do Tấn đọc và tóm tắt từ đêm qua. Mỗi tin, mỗi vấn đề, Tấn báo cáo luôn nhận xét của mình. Mọi người ngồi nghe, sau cùng ai có nhận xét, ý kiến gì khác thì thêm vào, nếu không, lại thông qua.

– Phần thứ ba của buổi sinh hoạt là các vấn đề linh tinh thuộc về sáng kiến, tư tưởng chính trị, công tác, ai có ý kiến gì phát biểu cho mọi người biết. Sau cùng là kết luận chung tất cả mọi vấn đề đã báo cáo trong buổi sinh hoạt. Anh Sáu bao giờ cũng là người kết luận sau cùng và ban chỉ thị.

Buổi sinh hoạt chính trị mỗi sáng trung bình từ một giờ đến một giờ rưỡi. Đôi khi kéo dài đến hai tiếng đồng hồ. Và những hôm có những vấn đề thời sự đặc biệt như những vụ xáo trộn ở Sàigòn, những sự kiện đặc biệt của thế giới liên quan đến chiến tranh Việt Nam, thì kéo dài trên hai giờ là chuyện thường.

Phục vụ lấy bánh, pha cà phê, pha trà trong mỗi buổi sinh hoạt là Trung tá Quang, một cựu phụ đạo viên của Ban Huấn luyện trường Đảng cao cấp “Nguyễn Ái Quốc” ở Hà Đông trước kia, bây giờ vào Nam làm bí thư cho anh Sáu. Nhiệm vụ của Quang trong buổi sinh hoạt là lẳng lặng làm công việc phục vụ cho các thủ trưởng của mình ăn hút. Nhờ ơn mưa móc, Quang cũng được “hưởng nhờ” cái thú mà cả những cán bộ cao cấp khác, chưa dám thụ hưởng thường xuyên mỗi sáng tại căn cứ Bộ Chỉ huy Ba Cục, sợ bị các cấp dưới phản ảnh lên trên, bảo mình muốn học đòi làm Bộ Chỉ huy thì khốn.

Sinh hoạt xong, ai nấy trở về nhà riêng ăn sáng. Như đã nói ở trên, bữa ăn của các tướng lãnh Bộ Chỉ huy do các anh nuôi được “Đảng” tuyển chọn dựa vào tiêu chuẩn : đảng viên, thành phần bần cố nông, tư tưởng tốt, trung thành, tinh thần trách nhiệm và nấu ăn giỏi (đã qua những lớp hướng dẫn đặc biệt về nấu ăn do nhiều chuyên viên phụ trách).Thực đơn được thay đổi mỗi bữa để tránh sự nhàm chán, dưới sự kiểm soát của y sĩ bệnh xá 70.

Sau bữa ăn là đến giờ làm việc, mỗi người tùy theo phần việc cá nhân đảm trách mà giải quyết. Hoặc ngồi ở bàn, hoặc nằm võng giăng ở trước nhà đọc báo cáo, thư từ, tin tức, báo chí, sách v.v… Hoặc đi hội họp, hội ý với người khác hay toàn Bộ Chỉ huy tại Hội trường.

Vì lý do an ninh, phòng gian bảo mật, các tướng lãnh trong Bộ Chỉ huy rất ít khi đi công tác bên ngoài, xuống các đơn vị bên dưới, hoặc tham dự chiến dịch. Mỗi năm, một người nhiều lắm là hai lần đi thăm, kiểm tra các đơn vị cấp dưới như các Cục, các Trung đoàn, Sư đoàn chiến đấu như Công trường 9, Công trường 5, Công trường 7. Nếu đi trong vòng khu B, chỉ một Tiểu đội đạp xe theo bảo vệ, ngoài khu B thì cả Trung đội. Nhưng ở các vùng nguy hiểm, các lộ giao thông thì cả Tiểu đoàn được lệnh cảnh giới trước, nằm đường để phòng mọi sự bất trắc.

Đó là những chuyến đi thăm các đơn vị bên dưới. Ngoài ra cũng còn một đôi lần khác đi họp Thường vụ Đảng Trung Ương Cục Miền Nam và thăm xã giao Mặt Trận của Nguyễn Hữu Thọ.

Đi công tác bên ngoài, thăm viếng, kiểm tra cấp dưới thì bao giờ cũng chỉ có ba người có thể xuất hiện là Độ, Tấn và Định. Còn Trà không bao giờ. Trà chỉ dự họp Thường vụ Trung Ương Cục, hoặc xuất hiện ở đại hội Mặt Trận. Hầu hết ở những đại hội khác, thăm viếng, kiểm tra, cán bộ của của các Cục được chỉ định cử đi thay mang theo chỉ thị và về báo cáo lại.

Riêng “anh Sáu” thì mỗi năm bí mật trở về Hà-nội ít nhất là một lần để họp Bộ Chính Trị và báo cáo công tác với Trung Ương Đảng. Đôi khi, được triệu hồi theo lệnh khẩn cấp. Trong những lần đó, ngoài công tác, anh Sáu còn được nghỉ ngơi ít lâu, vui vẻ với vợ con tại Hà Đông. Các Tướng khác không được hân hạnh đó, nhưng mỗi năm hai lần, các bà xã được Trung Ương Đảng “gửi” máy bay hàng không dân dụng Liên Xô vào Nam Vang với tư cách một du khách vô danh. Tại đây, Phái đoàn đại diện thương mãi Hà-nội có bổn phận cử người bí mật tiếp rước và bảo vệ. Các ông xã ở chiến khu Tây Ninh đã được điện của Trung Ương báo trước, cho người chực sẵn ở biên giới. Phái đoàn đại diện thương mãi ở Nam Vang tổ chức đưa các bà xã đến biên giới, các bà được đón về thẳng Bộ Chỉ huy Ba Cục, làm nhiệm vụ “địa chủ thu tô” ông xã. Ít lâu, “tô” được đóng đầy đủ, các bà lại được đưa đến Nam Vang, rồi về Hà-nội.

Ấy thế, khoảng tháng 5 năm 1966, bà Đại tướng từ Hà Đông vào thăm ông xã, bị vi trùng Falciparum của khu B vật cho mấy cơn sốt rét đứ đừ, văn phòng Bộ Chỉ huy truyền lệnh cho Cục Hậu cần, Cục Hậu cần chỉ thị cho Phòng Quân y, rồi Phòng Quân y cấp tốc báo động, triệu hồi tức khắc Nguyễn Minh Nhân, Hoàng Minh Thọ từ Bệnh viện 320 và Trường Quân y Trung Cao về Bộ Chỉ huy để hội chẩn, điều trị cho bà Đại tướng. Nhân lúc ấy, “sư tổ” chuyên gia chấn thương của các chiến dịch là y khoa tiến sĩ Liên Xô Vũ Trọng Kính, đang có mặt ở bệnh viện 320 để giải quyết các trường hợp chấn thương, xương xẩu sau chiến dịch Dầu Tiếng và đường 13, nên bác sĩ Vũ Trọng Kính cũng được lệnh đòi. Cả ba hối hả, dẹp thương binh lại, đạp xe hỏa tốc về Bộ Chỉ huy.

Sau đó, từ căn cứ Suối Nước Trong, cả một đoàn quân y gồm các “tay tổ” theo bà Đại tướng sang Nam Vang để đưa bà về Hà-nội. Lần đó, suýt chút nữa Nguyễn Minh Nhân về “nước thiên đàng” vì bom khu trục trên đường đi. Bom nổ cách Nhân chừng năm thước, rơi ngay anh cần vụ riêng làm anh ta chỉ còn là những miếng thịt vụn, vương vãi đầy mặt đất.

Về sinh hoạt của Bộ Chỉ huy, buổi trưa các tướng tá ăn muộn hơn. Cán bộ chiến sĩ thì 11 giờ 15, hoặc 11giờ 30 đã ăn rồi, các Tướng phải đến 12 giờ vì buổi sáng ăn muộn, trưa chưa đói lắm. Ăn xong, trà nước, đánh một giấc. Thức dậy, tắm rửa lại cà phê cà pháo, làm việc đến chiều. Có hôm hứng thú thì một vị Tướng, nhào ra sân chơi bóng chuyền rồi tắm rửa ăn cơm chiều. Thỉnh thoảng buồn tay, ra lệnh cho đòi đám cán bộ có trình độ đánh “lơ khơ” cao cấp đến hầu vài ván. Cơm tối xong lại trà lá, làm vịệc, đọc báo hoặc hội họp đến khuya.

Nếp sống bình nhật của các Tướng là vậy.Ăn chẳng thiếu món ngon vật lạ nào. Thủ trưởng chưa kịp thèm, cán bộ cấp dưới đã ra lệnh cho anh nuôi “tích cực chăm sóc” rồi. Lính cứ sáng mắm ruốc kho, trưa mắm ruốc xào, chiều kho mắm ruốc, chứ các tướng lãnh thì thịt thà, cá gỏi không thiếu một thức gì. Ở Sàigòn có món gì, ở Nam Vang có món gì, ở rừng có loại thú nào ngon là tướng lãnh có đủ. Cả Trung đội chỉ lo chuyên chở, vận tải quanh năm suốt tháng cho bốn, năm tướng lãnh. Rồi còn cả hàng mấy trăm con người chung quanh thì cái chuyện sai bảo đi săn, đi đánh bẩy, vác mìn đi đánh cá, tát suối, tát bàu, có khó khăn chi.

Thỉnh thoảng vài tháng, xem một loạt phim tuồng từ miền Bắc gởi vào, chiếu mấy đêm liền. Văn công cứ ba bốn tháng lại về phục vụ vài đêm. Nói chung, chiến trường Miền Nam gian khổ là gian khổ với ai kia, máu lửa là máu lửa, chết chóc, tang tóc với ai kia, chứ riêng các tướng lãnh chỉ là những danh từ đẹp. Tại căn cứ có khác gì Hà-nội, chỉ thiếu xe cộ, nhà lầu, dinh thự vậy thôi. Trong khi các bệnh viện nhỏ muốn có một tủ lạnh để có đá chườm cho bệnh nhân không có chứ Bộ Chỉ huy thì thừa đá lạnh để uống rượu, cà phê v.v…

Để xét đoán về sinh hoạt chính quy của miền Bắc đã đem vào Nam áp dựng cho nếp sống của các tướng lãnh ra sao, tác phong của họ ra sao, họ “chiến đấu gian khổ” ở chiến trường Miền Nam gian khổ như thế nào, ta hãy nghe câu chuyện do bệnh xá trưởng 70 kể lại cho một vài bạn thân của y. Y nói :

Tôi nghĩ, ở trên đời này chưa có một thằng cha bác sĩ Viện Trưởng một bệnh viện nào phải làm cái công việc như công việc của tôi đã làm tại 70. Nhiều khi tôi quên phắc mình là một cán bộ y khoa và không hiểu nhà nước cử mình giữ nhiệm vụ gì nữa!

Mang tiếng là một cán bộ chuyên môn, nhưng từ ngày anh Tư Chi ở Hà-nội vào Nam đến giờ thì mình không còn xử dụng cái ống nghe, không còn làm công tác điều trị. Mình đang ở Ban Quân y Miền, dạo 1963 chưa có Phòng Quân y. Phòng Quân y bây giờ, hồi đó còn là Ban Quân y Miền, ngoài anh Mười Năng, mình với vài chư vị nữa được xem như là những cán bộ Quân y cao cấp nhất của “R”, lãnh đạo cái tổ chức Ban Quân y “R”. Thì, đùng một cái, mình được lệnh thành lập bệnh xá 70 để phục vụ cho Bộ Chỉ huy. Một buổi trưa, anh Ba Bụng (tức Ba Đình) sai cần vụ gọi mình tới, cho biết quyết định trên, thò tay vô túi quần soọc móc ra một nắm giấy bạc năm trăm, không cần đếm, bảo mình mua sắm thuốc men, chi phí như thế nào tùy mình không cần phải làm báo cáo tài chánh gì hết, miễn sao hoàn thành bệnh xá 70 thì thôi. Thiếu thì ảnh sẽ đưa thêm, cần gì ảnh sẽ giúp đỡ.

Mình dẫn hai chú y tá, học trò của mình xuống I-4 mua thuốc men, dụng cụ đầy đủ theo tinh thần chỉ thị của anh Ba Bụng. Vậy là sau đó bệnh xá 70 thành hình. Một bệnh xá chỉ có một cán bộ và hai nhân viên. Sau này, mấy anh em y sĩ ở miền Bắc về nhiều mới bổ sung lần lần đến con số 7 quân y sĩ như ngày nay. Mục đích công tác trọng tâm của bệnh xá là chăm sóc sức khỏe, điều trị cho các cán bộ cao cấp nhất của Bộ Chỉ huy, cụ thể là anh Tư Chi, anh Chín Vinh, anh Ba Long, rồi “anh Hai chủ tịch xe ngựa”, anh Tư Thắng, anh Ba Bụng. Nhưng rồi cuối 1963 máy tay tổ như anh Ba Thành, anh Ba Trung, anh Chín Huê trở về Nam, mình chưa kịp cầm cái ống nghe để khám bệnh cho ai, mấy ông tổ quân y đó đã làm thay cho mình.

Cho nên mỗi tháng hai lần, đầu tháng, giữa tháng anh Ba Thành với anh Ba Trung có nhiệm vụ về Bộ Chỉ huy khám sức khỏe tổng quát cho từng người trong Bộ Chỉ huy. Mình có bổn phận phải chấp hành những mệnh lệnh điều trị do hai ông ấy đưa ra. Rốt cuộc công việc mình ở đây chỉ là sáng sáng đến “vấn an sức khỏe” anh Sáu, rồi pha ca cao hoặc pha cà phê cho anh Sáu. Chả lẽ thủ trưởng bảo dám chối từ à?. Sáng nào cũng vậy, lâu ngày thành cái lệ, mình biến thành một loại cần vụ mới mà không hay.

Có phải mỗi một mình anh Sáu thôi đâu. Mấy anh kia như anh Chín, anh Tư, anh Ba, cả chị Ba Định nữa kéo tới sinh hoạt chính trị mỗi buổi sáng, gặp mấy hôm không có ông Quang, mình cũng phải phục vụ luôn.

Đó là việc thứ nhất. Việc thứ hai là kiểm tra các món ăn ở mỗi bếp riêng. Việc thứ ba là cuối tháng làm báo cáo hành chánh quân y và đi lãnh thuốc. Thỉnh thoảng lâu lâu, tiếp phẩm quên mua dấm làm nước mắm, làm gỏi chua thì mình phải làm một cái “xuất lệnh” đi lãnh nửa ký lô hóa chất a-xit xi-tríc (acide citrique) ở xưởng dược về cho chị nuôi quậy nước dùng thay dấm, thay chanh. Xuất lệnh mình chỉ cần giáo đầu mấy chữ “theo lệnh của anh Ba Long chỉ thị, yêu cầu B-27 xuất cho Bộ Chỉ huy…” thì tay nào dám trành tròn ?

Việc thứ tư là làm bảng phân công và hội ý với mấy cậu quân y sĩ về việc uống thuốc bổ, chích thuốc bổ cho mấy anh đó. Nhưng cái chuyện này nó không dễ như mình tưởng đâu. Vất vả trăm chiều! Thông thường, từ trước giờ mình chỉ chịu trách nhiệm điều khiển chung, cho mấy cậu quân y sĩ phụ trách riêng như tới giờ thì rót nước, mang thuốc đến năn nỉ mấy ông uống dùm. Và giờ nào rảnh thì đến xin phép được lụi một ống thuốc. Thuốc uống, nhất là loại thuốc bổ thường uống vào bữa ăn cũng dễ, cứ rình rình thấy mấy ổng ngồi vào bàn ăn là mấy cậu kia mang nước, mang thuốc tới. Thuốc chích mới quả là thiên nan vạn nan. Chích đau bị rầy không nói làm gì, đằng này không biết được chích vào lúc nào. Điều đó mới khổ. Mệnh lệnh điều trị của mấy ông sư tổ phải tuyệt đối chấp hành đúng, nếu không, có chuyện gì xảy ra thì mình không những bị ngồi kiểm thảo, còn bị tù là khác. Mà thi hành thì thi hành cách nào ?

Có lần anh Ba Long tức là Trung tướng Lê Trọng Tấn đấy! Bị yếu sao đó, anh Ba Thành ghi trong mệnh lệnh điều trị ba ngày tiêm một ống Campolon. Cậu quân y sĩ của mình sáng ra ăn sáng xong, về lui cui nấu ống tiêm, chờ ông tướng đi sinh hoạt về là đến xin lụi một phát trước khi ăn cơm. Cậu ta ra ngoài đường, đứng ngóng một lúc lâu, thấy dạng anh Ba về gần đến nhà nên ba chân bốn cẳng chạy vào bịt khẩu trang, cưa ống thuốc, rút vào mang đến thì thấy ảnh ngồi vào bàn, ăn sáng. Cậu ta lủi thủi mang ống tiêm về, vì ai lại chích trong giờ ăn bao giờ. Cậu ta ra đường, lãng vãng chờ anh Ba ăn sáng xong, nghỉ ngơi một lúc sẽ mang ống đến chích trước khi ngồi vào bàn làm việc. Một lát sau, cậu nọ mang ống tiêm tới thì ảnh đã ngồi vào bàn làm việc, lại lặng lẽ mang ống tiêm về. Thế là phải bỏ ống thuốc đó. Vì thuốc rút vào ống tiêm không được để lâu, nửa giờ là quá lắm, lâu hơn nữa sợ bị nhiễm trùng.

Mà trong suốt buổi sáng, đang giờ làm việc, ai dám đến làm bận rộn, tiêm thuốc đâu. Chỉ có cách là chờ buổi trưa, ảnh nghỉ trước khi ăn trưa mới đến chích được.

Mười một giờ rưởi trưa, cậu quân y lại cưa một ống thuốc mới, bịt khẩu trang chờ sẵn, thấy anh nuôi, anh cần vụ lễ mễ mang thức ăn đến dọn ra bàn, cậu ta xách ống tiêm tới đứng ngoài xa chờ… Nhưng anh Ba ảnh vẫn còn đang nghe điện thoại. Nghe điện thoại xong, cậu kia chưa kịp bước vào ảnh lại sang bàn ăn cầm đũa ròi. Kể như phải bỏ một ống thuốc nữa. Vì sau giờ ăn, không nên chích cho bệnh nhân bao giờ, phải chờ sau khi ngủ trưa thức dậy đã !

Cứ cái đà đó sau giấc ngủ trưa là đi tắm, đi tắm vào là ngồi vào bàn, vừa làm việc vừa uống trà. Hết giờ làm việc thì đến giờ thể thao, giờ tắm rửa, vệ sinh. Sau giờ đó là giờ ăn.

Hết giờ ăn lại sinh hoạt tối. Cuối cùng là đi “ngủ”. Báo hại cậu quân y sĩ rình mò như ăn trộm, suốt ngày thành công cốc, mất tới hết bốn ống thuốc Campolon. Campolon lại là loại thuốc quí, đắt tiền được trữ ở trong kho chỉ có hạn chứ đâu có mua được nhiều.

Đâu phải cái chuyện tiêm thuốc này không có báo cáo cho ảnh biết trước đâu. Đã báo cáo rồi đấy chứ! Chẳng những vậy, còn xin phép trước là ngày mai sẽ tiêm thốc. Ảnh bảo thế này :

– Bổn phận của các đồng chí, các đồng chí thấy tôi rảnh không bận phải làm gì thì mang ống tiêm tới. Còn những lúc nào tôi bận thì các đồng chí phải để yên cho tôi, đừng làm tôi khó chịu .

Ảnh đã lên tiếng trước như vậy, đố cha đứa nào dám làm trái ý. Theo cái kiểu đó, làm việc đã đành, chứ ăn cơm cũng được coi là bận, uống trà cũng bận, nằm đọc sách cũng bận, đi chơi ngoài đường lại càng bận hơn nữa. Việc gì cũng là bận, làm sao ai có thể tìm được khe hở giữa hai cái bận để tiêm thưốc? Và cái ống thuốc kia không tiêm được cho ông tướng thì thôi phải bỏ chứ đem tiêm cho người khác, trái với tiêu chuẩn, cấp trên biết được cũng là một sự phiền hà nên cậu y sĩ của mình có dám cho người khác hưởng chế độ đó đâu.

Phục cái là, cậu quân y sĩ của mình kiên nhẫn và kín miệng tợn. Ba ngày ngóng lên, ngóng xuống chẳng nên cơm cháo gì, mất mẹ nó đâu năm bảy ống thuốc. Mình thấy cử chỉ là lạ của cậu ta nên mình kêu hỏi thì mới hay ra cớ sự như vầy. Đến chừng đó cậu ta mới hỏi ý kiến mình nên giải quyết cách nào ? Mình đâm ra ấm ớ luôn. Còn biết giải quyết cách nào khác hơn là để sáng ngày sau, khi pha cà phê pha trà phục vụ cho ảnh vào giờ sinh hoạt, mình sẽ hỏi ý kiến, thỉnh thị lại xem sao !

Qua ngày hôm sau, mình báo cáo với ảnh việc chích thuốc thì ảnh cười mãi một lúc mới bảo :

– Thôi, chiều nay anh bảo đồng chí đó thấy tôi ngủ trưa thức dậy thì mang ống tiêm đến ngồi chờ tại nhà, tôi tắm xong thì tiêm.

Cũng may, phải bốn ngày mới tiêm được một ống thưốc, với tướng Lê Trọng Tấn cũng hãy là nhanh ! Mấy ông kia thì tương đối dễ hơn.

Nhưng dễ, không có nghĩa là muốn xin phép tiêm thuốc lúc nào cũng được. Bởi tướng tá ở Bộ Chỉ huy đâu phải là những chiến sĩ, những cán bộ thường. Muốn được gặp mặt là một vấn đề khó khăn đúng theo điều lệnh của quân đội, huống hồ gặp để tiêm được một ống thuốc do một quân y sĩ thực hiện còn khổ sở hơn nhiều.

—> Tình yêu và Đảng
<—
Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s