Về “R” (Kim Nhật)- Phần IV

4- VÒNG HOA TANG CHO NGƯỜI CÁCH MẠNG

Từ sau cuộc Kháng chiến 9 năm (1945-1954), trong thâm tâm của một số lớn người đủ các giới, các thành phần, có mang một “mặc cảm tội lỗi”.

“Mặc cảm tội lỗi” đó là sự đóng góp công sức vào cuộc kháng chiến chống Pháp, giành lại Tự Do, Độc Lập cho đất nước. Những người này nghĩ rằng cuộc kháng chiến đó thật là anh hùng, thật là vinh dự, một hành động cao cả cho bất cứ ai tự nhận là công dân Việt Nam. Trong khi không biết bao nhiêu người hy sinh, vào sinh ra tử, sống chết mới giành lại được độc lập thì mình chỉ biết an thân, thủ phận, sợ khó, sợ khổ, sợ chết, ở nhà hú hí vui vẻ với vợ con. Thậm chí còn làm việc cho Pháp, giúp Pháp chống lại kháng chiến, tàn sát nhân dân, điều này thực là xấu hổ và ân hận hết sức. Cuộc kháng chiến đó qua rồi, để lại trong lòng mình một sự hối tếc, một mặc cảm khó quên. Mình thật là một người đáng trách, không biết tôn thờ một lý tưởng cao đẹp v.v…

Bởi nguyên cớ đó nên cuộc chiến tranh ngày nay mới thành hình, máu lửa đầy trời, chết chóc, điêu đứng, đất nước này bị tàn phá đến cùng độ và mầm mống chiến tranh mới có cơ sở phát triển, sinh sôi nẩy nở, lớn rộng như tình thế hiện tại của Miền Nam.

Họ là những ai ? Là những gia đình có con em theo kháng chiến, tập kết ra Bắc, là những nông dân nhẹ dạ, là những trí thức sống trong mơ, bỗng hốt hoảng giật mình tỉnh giấc mộng đời, là những thanh niên nam nữ mang nhiều suy tưởng, hoài bão to rộng bằng trời và đang cảm thấy cần làm một cái gì đó để phục vụ.

Nhưng mặc cảm trên đây đúng hay sai ? Đúng mà sai!

ĐÚNG ở chỗ tham gia kháng chiến chống Pháp là đúng, hy sinh cuộc đời mình cho độc lập dân tộc là đúng, chiến đấu cho tự do của nhân dân bị nô lệ hơn tám mươi năm là đúng. Nghĩ rằng những người tham gia kháng chiến chống Pháp thực là anh hùng, là vinh dự, điều này hoàn toàn đúng. Việt Nam đuổi được Pháp ra khỏi bờ cõi này là nhờ có cuộc kháng chiến anh dũng đó. Bởi độc lập, tự do không thể xin xỏ mà Pháp cho được, nó phải đánh đổi bằng máu và đấu tranh. Trong khi mọi người không bằng cách này cũng bằng cách khác, không trực tiếp cũng gián tiếp, lao mình vào mục đích đấu tranh thì mình chỉ biết lấy mắt nhìn, cầu an hưởng lạc, sợ chết, đầu hàng giặc hoặc giúp giặc khôi phục lại xích xiềng nô lệ cũ thì có xấu hổ, có mang mặc cảm tội lỗi là chuyện thông thường, rất đúng.

Nhưng SAI là sai ở chỗ đánh giá sai, quan niệm sai về cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 -1954. Cuộc kháng chiến đó là do sự hy sinh xương máu, đóng góp công sức của toàn dân chứ không là công riêng của một cá nhân nào, riêng của một nhóm nào hay của một đoàn thể, Đảng phái nào. Bất kỳ ai nhận đó là công riêng của mình thì quả là một sự khoác lác, cướp công, khả ố. Phải công bằng, thành thực và khách quan nhìn nhận rằng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lực lượng đảng phái, đoàn thể, nhóm này nhóm kia chỉ chiếm một phần nhỏ, đại đa số là những người không đảng phái, không đoàn thể nào. Vậy thì công đó là công của ai ?

Ai tham gia kháng chiến cũng đều được Tổ Quốc ghi công, nhớ ơn dù họ là Cộng sản, là Quốc Dân Đảng, là Đại Việt, là Dân chủ, là Xã hội v.v… Cuộc kháng chiến đó là một nhiệm vụ bắt buộc đối với mọi người. Mục đích của nó là giải phóng dân tộc, là đánh đuổi Pháp, là phá bỏ xích xiềng nô lệ trả lại độc lập và chủ quyền cho toàn dân Việt Nam. Bất kỳ đảng phái nào, xu hướng chính trị nào cũng phải nhằm vào mục đích đó. Tổ Quốc và nhân dân Việt Nam, cũng chỉ chấp nhận có mỗi một mục đích và tất cả mọi hành động nhằm phục vụ cho yêu cầu trên. Những ai mưu toan đem mục đích riêng tư, tham vọng riêng tư, lợi dụng cuộc kháng chiến toàn dân đó để thi hành một mưu lược riêng đều bị kết án, và nhân dân sẽ hủy bỏ không bao giờ chấp nhận sự đóng góp của họ. Bởi họ chỉ là kẻ lợi dụng kháng chiến chứ không phải vì Tổ Quốc mà kháng chiến.

Hiệp định Genève 1954 ký kết, tình thế đã đổi khác.

Những người kháng chiến chân chính họ trở lại gia đình tiếp tục cuộc sống bình thường, góp sức vào việc tái thiết và xây dựng chế độ chính trị của miền Nam. Những người tán thành và tôn thờ chủ nghĩa C.S. tập kết ra miền Bắc. Số này chiếm không đầy 5/100 tổng số chung.

Tuy vấn đề này không phải chỉ giản dị như vậy, nhưng đã được đặt ra và xác định một cách rõ rệt như thế. Cái sai của một số người ở miền Nam này, xuất phát từ chỗ đó cho nên mới có cái mặc cảm tội lỗi, ngỡ rằng Pháp về nước nhả miếng mồi Việt Nam do công của 5/100 tổng số chung tập kết ra Hà-nội năm 1954. Rồi đứng núi này trông núi nọ, họ chưa hiểu về chế độ chính trị của miền Bắc, chưa sống ở miền Bắc đã vội tưởng rằng đó thực là một chế độ tốt, một đời sống ở thiên đường hạ giới, ước gì miền Nam này cũng được như vậy.

Nhờ mặc cảm, nhờ sự tưởng tượng, họ đã để cho chế độ miền Bắc lợi dụng, tạo dựng cơ sở cán bộ cài lại phá hoại chế độ miền Nam, để rồi tạo nên cuộc chiến tranh khốc liệt hôm nay do sự điều khiển trực tiếp của miền Bắc.

Ngày nay, một số người khác bị lây cái mặc cảm trên, họ đâu có ngờ những người trước họ đã vấp phải một sai lầm tai hại. Họ là những thùng dầu tưới thêm vào lò lửa chiến trarh này. Họ mong chấm dứt chiến tranh, ao ước đòi hỏi hòa bình, nhưng họ sẵn sàng để cho miền Bắc lợi dụng, củng cố thêm cơ sở mới để ngọn lửa chiến tranh bùng mạnh hơn, nhờ cái mặc cảm của họ.

Mong rằng, hai chuyện sau đây sẽ làm họ suy nghĩ nhiều và biết đâu nó sẽ chữa được bệnh “mặc cảm tội lỗi” mắc phải bấy lâu nay. Hai mẫu chuyện này, người viết mượn nó thay phần kết luận cho thiên tài liệu “Về”R”.

***

Chuyện thứ nhất là chuyện má Năm ở xóm Sóc Lào.

Ven rừng Bời Lời, Tây Ninh nơi mà các báo Sàigòn trong phần tin chiến sự thỉnh thoảng có nói đến chiến khu Bời Lời.

Trên con đường đá đỏ từ Bà Nhã dọc theo sông Sàigòn, chạy dài xuống tỉnh lộ số 6 ở Bùng Binh, rồi băng ngang Lộc Thuận chạy thẳng đến Bến Dược (ngang chợ Bến Súc), xóm Sóc Lào hay ngã ba Sóc Lào nằm ở quãng giữa Bà Nhã và Bùng Binh. Sau hiệp định Genève 1954, suốt vùng rừng Bời Lời, Cầu Xe, Hố Bò hãy còn nằm trong tay lực lượng Cao Đài ly khai của Tướng Trịnh Minh Thế chiếm giữ. Khi tướng Trịnh Minh Thế về quy thuận với chính phủ Ngô Đình Diệm, tình trạng trên vẫn không thay đổi. Cho đến những ngày cuối năm 1958, chưa “đồng khởi”, cái bót Cao Đài ly khai tại ngã ba Sóc Lào đã được rút đi. Việc rút bớt được bà con ở đây cắt nghĩa rằng :

– Tại cái xóm Sóc Lào của mình đây le hoe không đầy chục rưởi nóc nhà thì có quan trọng gì đâu, nên người ta rút đi cho đỡ tốn lính.

Mà thật, xóm Sóc Lào hiu hắt, buồn tênh với mười mấy ngôi nhà rải rác, cất ở ven rừng chồi thấp, nhiều cây rậm rạp. Xê phía dưới là một khoảng ruộng gò, hẹp, nằm hai bên lộ, có con suối nhỏ chạy ngang. Mười mấy gia đình ở đây sinh sống bằng nghề làm ruộng ở khoảng ruộng gò chưa đầy hai mươi mẫu tây đó. Nghề phụ là nghề đốn củi bán cho ghe buôn. Mỗi nhà cũng dọn phá xừng quanh một lõm đất nhỏ trồng cây ăn trái như Điều, Mít, Mãng cầu.v.v…

Nhà má Năm gần cuối xóm, cạnh bên con đường xe bò đi về Suối Bà Tươi. Trong thời Kháng chiến 9 năm, má Năm có hai thằng con trai lớn. Một đứa theo “bộ đội Hoàng Thọ”, một đứa theo bộ đội tỉnh (thời ấy là dân quân du kích của tỉnh). Chẳng may, cả hai đều lần lượt hy sinh. Má Năm, chồng chết sớm khi bà hãy còn mang thai thằng con trai thứ sáu. Từ đó ở vậy nuôi con. Con bà, tất cả sáu đứa đều là con trai cả. Hai đứa lớn chết thời Kháng chiến 9 năm. Như vậy, bà con lại bốn thằng con trai nhỏ.

Đùng một cái, vào cuối năm 1959, bốn bên tứ bề đêm nào bà cũng nghe trống, mõ nổi lên như nhái. Bà hết hồn, hoảng sợ tưởng có ăn cướp ở các xóm kế bên, đóng chặt cửa lại, tắt đèn cùng bốn đứa con trai rút vào phía trong im thin thít. Trưa ngày hôm sau, có một người đàn ông lạ mặt ghé vào nhà bà, cho biết là “cuộc đồng khởi” đã bắt đầu. Đợt này gọi là đợt phát động. Rồi người đàn ông đó hỏi thăm bà về chuyện sinh sống của gia đình bà, của xóm Sóc Lào, giảng cho bà nghe nào là cách mạng, là chiến tranh, là giải thoát dân nghèo và đủ thứ. Bà chẳng biết ất giáp gì cả. Đối với bà. những danh từ chính trị sao nghe nó lạ quá không biết nữa!

Khi người đàn ông hỏi thăm về con cái bà, được biết bà có hai đứa con chết trong thời kháng chiến đánh Tây, người đàn ông đó tỏ vẻ mừng rỡ, thân thiết, cho bà biết rằng:

– Cách mạng giải phóng dân tộc là tiếp tục công việc hồi trước của con bà. Con bà trước kia là chiến sĩ cách mạng, đấu tranh chống Pháp thì tức bà đã là mẹ chiến sĩ rồi. Ngày nay không còn Pháp nhưng có Mỹ. Mỹ còn tàn ác, dữ dằn hơn thằng Pháp khi xưa nhiều. Như vậy gia đình bà là gia đình cách mạng.

Người đàn ông đó, từ đấy cứ gọi bà bằng “Má” ngọt xớt, ca tụng, khen ngợi gia đình bà hết lời, nào là truyền thống cách mạng, nào là Tổ Quốc ghi công, cả nước nhớ ơn v.v… nhiều không xiết kể.

Nghe nhắc đến con, bà mủi lòng khóc nức nở. Người đàn ông đó cũng cảm động, thương tiếc, khóc theo bà. Thấy người lạ có lòng thương yêu lo lắng đến gia đình bà, sao bà không có cảm tình cho được ? Nhất là người ấy đang làm cái công việc khổ như con bà khi xưa.

Người đó ở chơi, xin bà ăn bữa cơm chiều. Trước khi đi, còn yêu cầu bà : “đến tối khi nghe chung quanh đánh mõ thì đánh theo. Má có thương con thì Má nên làm như vậy mới gọi là thương. Làm như vậy cho kẻ thù sợ hãi, cho Mỹ-Diệm không dám cướp bóc đàn áp đồng bào nữa”.

Từ cái buổi gặp gỡ người lạ mặt hôm đó trở về sau, má Năm thấy xóm Sóc Lào bắt đầu thay đổi nhiều. Đêm nào mõ, trống cũng nổi lên như những xóm khác, do đám con nít thực hiện. Được ít lâu, thằng con trai thứ tư của bà bỏ nhà đi đâu biệt dang cùng với một số thanh niên khác, không nói qua một lời nào với bà.

Rồi chiến cuộc bùng lên ngày càng lan rộng. Súng nổ ba bên bốn phía. Một hôm, bà lại được tin : thằng con thứ tư của bà chết. Bà đau đớn hết sức, khóc sưng vù mắt cả mấy ngày. Càng ngày, bà thấy những người đàn ông thanh niên mặc đồ bà ba đen qua lại xóm bà thường hơn. Kẻ mang súng, người đeo lựu đạn, ghé xóm này, ghé từng nhà xin cơm, xin tiền ủng hộ. Họ kể lề về những nỗi khổ cực gian lao của họ. Họ bảo họ là giải phóng quân, là người của Mặt Trận đi chiến đấu chống Mỹ Diệm, đem lại cơm no áo ấm cho nhân dân, độc lập cho đất nước, hạnh phúc cho dân tộc. Họ đả phá chế độ bất công, diệt trừ nạn thuế má, bảo vệ cho dân cày nghèo có ruộng cày, giúp cho giai cấp nghèo khổ làm cách mạng diệt trừ bọn địa chủ, phú nông v.v… Họ nói thao thao bất tuyệt. Nghe thực là mê.

Họ tổ chức Nông hội, tổ chức du kích ở xóm bà. Riêng bà, bà cũng được họ bầu làm Hội trưởng Hội mẹ chiến sĩ. Bà với ba đứa con trai còn lại sống với hai mẫu ruộng gò và đốn củi chở ra chợ Bến Súc bán, đời sống tuy không sung sướng, dư dả gì nhưng bà không phải lo chuyện đói no. Hai thằng con lớn của bà trước đây chết trong thời kháng chiến chống Pháp, đau khổ vừa nguôi được phần nào thì lại thêm một đứa nữa chết. Đau khổ chồng chất lên đầy thêm. Bà tưởng phải chịu đựng đến thế là quá lắm rồi. Bây giờ, bà sẽ tìm đủ mọi cách để giữ ba thằng con còn lại. Thằng thứ năm cũng đã hai mươi. Bà nhất định đi kiếm vợ cho nó.

Nhưng chưa lo xong vụ vợ con thì trong lần đi dân công sang khu A, phục vụ cho chiến dịch Đồng Xoài cũng bị bom chết. Bao nhiêu hy vọng, tính toán của bà về thằng con thứ năm làm cho bà tuyệt vọng khôn cùng. Bà không còn nước mắt để khóc nữa. Lần đó bà ngã xuống đau suốt mấy tháng liền, thuốc thang bao nhiêu cũng không thuyên giảm.

Đia phương thấy vậy, hết cán bộ này đến cán bộ khác hết lời khuyên lơn, an ủi bà. Người ta biết bịnh bà là tâm bệnh, vì sầu khổ tột cùng sinh ra, không thể nào dùng thuốc chữa khỏi được.

Để giữ cho bà con chòm xóm đỡ bị giao động, bi quan, bất mãn cách mạng xuyên qua thảm trạng của gia đình bà, người ta mở chiến dịch đề cao “má Năm” , học tập gương hy sinh đóng góp cho cách mạng của má Năm. Mặt Trận cấp cho má Năm huân chương giải phóng hạng ba. Về mặt vật chất, người ta loan báo là cấp thêm cho má Năm một mẫu đất nữa để cày cấy. Và tuy rằng trước đây, người ta tuyên truyền là cách mạng đấu tranh để nhân dân khỏi đóng thuế cho phe Quốc Gia, nhưng họ bắt buộc mọi gia đình phải đóng “đảm phụ” cho họ rồi “ủng hộ” vào quỹ này quỹ nọ, hoặc những cuộc quyên góp hàng tháng để ủy lạo chiến sĩ, để ủy lạo thương binh, tổ chức lễ khao quân v.v… Bây giờ, địa phương tuyên bố cho biết má Năm không phải đóng thuế đảm phụ nữa. Đó là một đặc ân của cách mạng chiếu cố những gia đình có công.

Lần đó, báo “Văn nghệ giải phóng” tìm đủ mọi cái hay của gia đình cách mạng viết bài ca tựng má Năm hết lời, đưa lên một đỉnh cao, tuyên truyền cho mọi gia đình khác noi theo, học tập để hy sinh như má Năm. Đại hội phụ nữ Miền và Đại hội chiến sĩ thi đua Miền 1965, người ta lại mời má Năm tham dự rồi được Đảng bầu là chiến sĩ thi đua Miền, là phụ nữ anh dũng tuyệt vời. Kế hoạch thổi phồng, tuyên truyền cho má Năm thành nhân vật xuất chúng đã được Trung Ương Cục nghiên cứu rất kỹ, ngoài tác dụng xoa dịu tình cảm của má Năm còn làm cho má Năm hy sinh thêm, hoạt động cho cách mạng đắc lực nhiều hơn. Và cái chính là mượn má Năm làm nhân vật phi thường để vận động nhân dân quần chúng thi đua làm cho được như má Năm. Là nông dân chân chất, thật thà, từ trước chỉ là một người không ai thèm ngó tới, giờ bỗng nhiên trở thành nhân vật quan trọng, ai cũng biết tên biết tiếng, ai cũng kính nể, làm má Năm như cái bong bóng đầy hơi, buông lỏng bị cơn gió lốc cuốn lên cao, bay bổng tít mù đến một nơi mà má Năm không biết là đâu nữa.

Từ đó, má Năm hết bịnh, hăng hái hoạt động. Nay đi xin tiền ủy lạo cho bộ đội, mai đi quyên góp cho thương binh ở bệnh viện, mốt đi vận động hội “Mẹ xung phong công tác”. Những ngày khác nữa đi giải thích tuyên truyền cho các chính sách bám đất giữ làng, chính sách v.v…

Ngày trước, nhà má Năm ít khách, bây giờ kẻ thăm người viếng tấp nập. Hết cán bộ xã thì huyện. Hết huyện tới tỉnh, rồi khu, rồi cán bộ “R”. Nhà má Năm trồng được mấy cây mít, trái sai oằn. Lần nào chín, má Năm chưa ăn được múi nào nó đã hết nhẵn. Cán bộ nào cũng vậy, vừa vào tới sân đã hỏi om lên:

– Má! Má, mít chín chưa Má! Tụi con mấy năm rồi chưa biết mùi mít ra sao ? Con biết Má hy sinh cho tụi con mà, thế nào Má cũng cưng, cho liền một lúc mấy trái cho coi!

Gạo thóc mấy năm trước chưa hề thiếu bao giờ, nay má Năm “con đông quá”, ngày nào cũng năm bảy đứa, đứa nào cũng thương má, muốn ăn cơm nhà má, nên bồ lúa trăm giạ chưa đầy nửa năm đã hết sạch. Mấy vồng khoai mới xới, chưa có củ, “các con” cũng đã hỏi thăm rồi. Hai thằng con ruột của má không chịu nổi cảnh đó, phàn nàn với má Năm, nhưng trót đã đâm lao phải theo lao, má chỉ biết làm thinh.

Việc gì sẽ đến phải đến ! Trong số cán bộ ghé nhà má Năm ăn cơm thường xuyên, có mấy anh chàng ở Q-762. Mỗi ngày một chút, tỉ tê kéo luôn hai thằng con của má Năm theo về đơn vị. Má Năm lần này lo sợ thật sự, ngăn cản, khóc lóc nhưng không kịp nữa rồi.

Mực độ chiến tranh càng ngày càng dữ đội, qua mấy trận chống càn, đánh nhau ở rừng Bời Lời, khu rừng này bị phi cơ bừa nát, pháo thi nhau nổ không kể giờ giấc nào. Bà con ở xóm Sóc Lào tản cư đi nơi khác để lánh nạn. Nhưng má Năm thì bị ép buộc ở lại để làm gương bám đất, bám làng theo chủ trương của Đảng. Người ta viện lý do phải xung phong gương mẫu, viện lý do là cương vị một chiến sĩ thi đua, là một phụ nữ anh dũng tuyệt vời để giữ má Năm cho kỳ được. Bởi có má Năm ở lại ngã ba Sóc Lào, trong những lúc cán bộ đi công tác từ “R” về I-4, hoặc ngược lại mới có chỗ dừng chân, mới có cơm nóng canh sốt, mới còn có người chăm sóc mấy cây mít sai quả, mới còn có những vồng khoai lang.

Nhà má Năm bị bom cháy. Vườn hoang. Gạo lại hết. Sống cơ cực trăm chiều. Trên sáu mươi tuổi đầu, má Năm phải sống thui thủi một mình, xới mì, trồng khoai để đổi gạo sống qua ngày, với hy vọng ngày nào đó hai thằng con út nó sẽ về nuôi bà. Nếu bà bỏ đi nơi khác nó còn biết đâu mà tìm kiếm. Hy vọng cuối cùng của đời má Năm là hai đứa con trai nên má Năm nuốt nước mắt, nhẫn nhục mà ở lại.

Nhưng đến tháng tư năm 1966, má Năm lại nhận được tin hai thằng con trai cuối cùng vừa hy sinh nốt trong chiến dịch đường 13.

Bẳng đi mấy ngày không ai đi ngang nơi này. Khi có một đoàn cán bộ ở Cục Tham mưu từ “R” xuống I-4, ngang Sóc Lào, người ta ghé kiếm cơm ăn, mới hay má Năm đã chết tự bao giờ. Thi thể sình chương, nằm co quắp trong hầm tránh phi pháo. Để tưởng nhớ “công lao cách mạng vô cùng to lớn” của gia đình má Năm, người ta phá cái nóc hầm cho sụp xuống, thay cho nấm mồ người “chiến sĩ thi đua Miền” và cũng là người “phụ nữ anh dũng tuyệt vời” của miền Nam.

***

Chuyện thứ hai là chuyện anh Nguyễn Việt Hồng. Những anh chị em sinh viên Đai Học Văn Khoa Sàigòn hẳn còn nhớ người bạn đồng khoa của mình, ở Ban Sinh ngữ Anh, một cây đinh của Văn Khoa trong phong trào đấu tranh của Sinh viên lật đổ TT Ngô Đình Diệm năm 1963. Và Yến, người yêu bé nhỏ của Hồng, năm ấy học Đệ tam A tại Trung học Gia Long, sẽ không bao giờ quên, trong suốt cuộc đời mình.

Hồng chưa đầy 25 tuổi, ngoài việc mài đũng quần trên ghế trường Đại học Văn Khoa, còn là đệ tử của ngành thể dục thẩm mỹ, nên anh có thân hình rất đẹp, nổi tiếng “bô trai” với gương mặt hao hao giống tài tử điện ảnh Pháp Alain Delon.

Sau những ngày đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, rồi Ngô Triều sụp đổ vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, khi Đại học Văn khoa tiếp tục học lại thì bạn bè ngơ ngác hỏi nhau : không hiểu tại sao anh Hồng vắng mặt ? Cùng lúc đó, các bạn học của Yến lại thấy Yến khóc sưng vù cả đôi mắt, buồn vô hạn. Vào trường, Yến ngơ ngẩn như kẻ mất hồn. Ba má Yến, bạn Yến hỏi tại sao, Yến chỉ lắc đầu bảo không có gì hết. Không có gì nhưng nước mắt vẫn cứ rưng rưng. Vài bạn thân biết chuyện, thì thầm tâm sự hỏi Yến có phải Yến đau khổ vì Hồng đã phụ Yến, bỏ rơi Yến chạy theo một bóng hồng nào khác ? Cũng không!

Chừng đó Yến mới rào trước, đón sau, cho biết rằng Hồng đã vào chiến khu với Mặt Trận Giải Phóng rồi

Trước khi đi, cả tuần, Hồng đưa Yến đi chơi nhiều nơi, tâm tình với Yến, giải thích về sự ra đi của anh. Anh bảo rằng trong thời gian đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, anh có gặp mấy người bạn khuyên anh nên vào khu giải phóng với Mặt Trận, góp sức với nhân dân đấu tranh chống Mỹ-Diệm. Đó mới thật là lý tưởng đáng phụng thờ, là làm cách mạng thật sự, đem lại thống nhất xứ sở, độc lập và hạnh phúc cho toàn dân. Chế độ Quốc Gia thối tha mục nát, đầy dẫy bất công, tàn bạo, lại bị Mỹ xâm lăng, ai ai cũng bất mãn, chống đối, thì, là trí thức, là sinh viên, học sinh tất nhiên phải hiểu rõ hơn ai hết, giác ngộ hơn ai hết. Không vào khu giải phóng với Mặt trận còn đợi chừng nào ? Làm cách mạng theo kiểu chống đối bằng mồm như thế này thực là ấu trĩ, không giải quyết được gì hết. Phải lật đổ cả cái chế độ này, đó mới thực là một việc làm đúng và sáng suốt vô cùng, vân.vân… Vì vậy. sau mấy ngày suy nghĩ, anh theo ý kiến trên. Anh báo cho Yến biết, khuyên Yến đừng buồn, vui vẻ đợi chờ anh về trong ngày độc lập, thống nhất đất nước. Tình yêu đất nước phải đặt lên trên, mong rằng Yến hiểu và hãnh diện với cái lý tưởng cao cả và hành động đẹp của người yêu mình. Yến bảo anh nên suy nghĩ thêm nữa, tìm hiểu thật chính chắn rồi hãy quyết định, chớ đừng vội vàng thế này. Anh nhất định không nghe. Yến năn nỉ hết sức cũng không được. Thế là, người ta đưa anh Hồng vào khu giải phóng ở Tây Ninh.

Trước ngày “đi”, người ta hỏi Hồng muốn kháng chiến ở đâu, thích làm công việc gì, nguyện vọng của Hồng ra sao ? Hồng hỏi công việc ở trong kháng chiến gồm có những công việc gì ? Có những ngành nào ?

Người ta cho Hồng biết, trong chiến khu không khác gì ở Sàigòn, cũng vui vẻ tấp nập, đông như hội, cũng có những ‘Ban, Bộ” của Mặt Trận về mọi ngành hành chánh, kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự đủ cả. Ở đó có những trường học về văn hóa, giống hệt Sàigờn.

Hồng sung sướng ra mặt trước câu trả lời đó. Anh trả lời ngay là anh vốn thích điện ảnh, có năng khiếu về điện ảnh, không thích cầm súng chiến đấu đâu. Người ta trả lời anh :

– Vậy thì hay quá! Để chúng tôi đưa anh về Ban Tiếp Tân của Mặt Trận, rồi sang học trường điện ảnh về phục vụ cho ngành này. Vào trong đó, anh sẽ được coi phim Liên Xô nè, phim Trung quốc nè, phim miền Bắc xã hội chủ nghĩa nè, rồi những phim của xưởng phim giải phóng. Vĩ đại lắm! Không chừng, anh sẽ được gởi đi Đông Đức hay Tiệp Khắc, Liên Xô để học về điện ảnh nữa đó! Anh biết không ? Mặt trận chiếu cố đặc biệt giới sinh viên học sinh, trí thức lắm đó ! Những anh em sinh viên, học sinh trước đây từ Sàigòn vào trong ấy, Mặt Trận đều gởi đi học ở ngoại quốc hết. Học để phục vụ xây dựng đất nước say này mà, để theo cho kip miền Bắc xã hội chủ nghĩa chớ!

Hồng vô cùng “phấn khởi”, thỏa mãn hết sức. Với một “lý tưởng cao cả” và một niềm tin vô biên, Hồng khăn gói theo người ta hăng hái ra đi, vào khu chiến.

Không biết trên đường đi, suốt mười mấy ngày trời từ Sàigòn đến Phòng Tuyển mộ tân binh I-4 ở Lộc Thuận, Hồng đã thấy những gì, gặp những gì mà thấy anh buồn rười rượi.

Tại đây Phòng Tuyển mộ tân binh I-4 anh bị người ta xem như “cá mè một lứa”, giữ anh suốt cả tuần liền trong khoảng rừng con, chung quanh có hầm chông, hệ thống lựu đạn gài và bộ phận cảnh vệ. Mỗi sáng, sau khi ăn cơm xong, một Tiểu đội phó cảnh vệ tập trung các tân binh lại, “lên lớp” chính trị, giáo dục ý thức cách mạng.

Hồng khó chịu về chuyện thằng dốt, bình thường phát biểu ý kiến về đối nhân xử thế còn nói bậy bạ, chưa suông câu, lại “lên lớp” chính trị! Ôi chao là những danh từ học lóm, dùng sai cả nghĩa, nghe nó bực bội lỗ tai quá chừng. Cái lý luận vừa ngây ngô, sơ đẳng, ấu trĩ đến cái độ ngốc nghếch thế mà được người ta cử làm “thầy” dạy lý luận cách mạng, làm anh không ngăn được tiếng cười. Thế là Hồng bị ông “thầy” nổi trận lôi đình, lõ mắt nhìn anh, tức giận cực điểm :

– Nè, đồng chí tên gì, đồng chí ? Đồng chí từ đâu gởi đến đây ?

Hồng vẫn cứ cười cười không trả lời. Một người khác trả lời thay cho anh :

– Anh này là dân trí thức ở Sàigòn đó ? Ảnh tên Hồng, bộ mấy anh ở đây không biết sao?

– Trí thức hả ?Trí thức là cái gì ? Vào đây, anh chỉ là tân binh. Mới được giác ngộ theo cách mạng, Đảng phải dạy cho anh. Đảng phải giáo dục anh. Anh biết chưa? Chống đối Đảng hả ? Để tôi báo cáo cấp trên rồi anh biết.

Buổi trưa, có một cán bộ mang súng ngắn tới kiếm Hồng. Anh ta mang theo cái lý lịch của Hồng do Hồng viết tay đọc lại lần nữa. Sau đó, anh ta mới nói cho Hồng biết rằng đây là Phòng Tuyển mộ tân binh cho quân đội giải phóng. Hồng đã đến đây tức là đã giác ngộ cách mạng, chấp thuận sự dạy dỗ của Đảng, biết khinh ghét, căm thù giai cấp của mình, yêu giai cấp công nông, cầm súng chiến đấu cho quyền lợi giai cấp công nông. Công nông là “chủ nhân ông” của cách mạng, là người lãnh đạo các giai cấp khác. Các giai cấp khác phải nghe theo, khiêm tốn và vui vẻ nghe theo. Vậy, tại sao Hồng có thái độ khinh thường? Đó là thái độ phản giai cấp, phản cách mạng, cần phải biết ăn năn, tu sửa. Điều mà Hồng cần phải nhớ nằm lòng là : Hồng thuộc giai cấp tiểu tư sản trí thức, xuất thân ở thành phần gia đình địa chủ tức là thành phần phản động. Hồng theo cách mạng, theo Đảng, tức là Hồng đã giác ngộ, chối bỏ giai cấp mình, đầu hàng giai cấp vô sản. Vậy thì Hồng luôn luôn phải phục tòng những anh em xuất thân công nông ít học. Như vậy mới tiến bộ, mới biết nghe theo lời Đảng, đặt đâu ngồi đấy.

Suốt hơn một giờ liền, cán bộ nói thao thao bất tuyệt cho Hồng nghe. Hồng tức đến uất người, nhưng không mở miệng nổi. Đã lỡ, trót nằm trong bàn tay của người ta rồi, mọi phản ứng trái ngược đều là một hình thức tự vận chắc chắn, không tránh được. Bao nhiêu mộng đẹp, phấn khởi, bao niềm tin về cách mạng của Hồng đã vỡ tan thành mây khói. Hồng đành câm nín. Dù vậy, Hồng cũng nhắc cho anh ta biết rằng :

– Ở Sàigòn, anh em họ có hứa với tôi rằng, họ sẽ đưa tôi về Mặt Trận, học về điện ảnh. Sao mấy anh lại đưa tôi vào đây, vào Phòng Tuyển mộ tân binh ? Tôi không thích đánh giặc, giết chóc lẫn nhau mà! Tôi đâu có muốn vào quân đội.

Anh cán bộ trả lời Hồng :

– Điều đó chúng tôi không cần biết, chỉ biết rằng anh được đưa đến đây với tư cách một tân binh, thì anh là một tân binh của quân đội giải phóng. Anh đã giác ngộ cách mạng, tại sao anh lại còn đòi hỏi ở nơi này hay nơi khác ? Công tác nào cũng là công tác cách mạng. Đảng phân công ở đâu anh phải nghe theo ở đó chứ! Huống hồ giai đoạn này, quân đội đang cần nhiều tay súng để phát triển lực lượng, để chiến đấu tiêu diệt kẻ thù.

Nhưng Hồng cho anh ta biết, nhất định là Hồng chỉ muốn đi về Mặt Trận, ở đó người ta sẽ sử đụng khả năng anh hợp lý hơn. Cán bộ nói cho Hồng nghe, ở đây chỗ nào cũng là Mặt Trận giải phóng hết. Dù sao, ý kiến của Hồng anh ta sẽ báo cáo lên trên để ở trên giải quyết.

Mấy hôm sau, có một đoàn người đến khám sức khỏe tân binh. Người ta gọi tên anh, khám cho anh, rồi sau đó người ta đưa anh đi. Anh hỏi đi về đâu thì người ta làm ra vẻ bí mật :

– Đến nơi thì anh biết ngay. Đúng theo nguyện vọng của anh đó !

Hồng cứ ngỡ người ta đưa mình về Mặt Trận giải phóng. Anh thấy dễ chịu đôi chút. Sống ở đây với những người không biết gì thực là một điều không sao kham nổi. Ở Mặt Trận giải phóng Miền của ông Thọ, chắc có nhiều trí thức, người ta có học, không ăn nói như cái đám này. Nghĩ vậy nên Hồng vui vẻ đi theo họ.

Chừng đến nơi, Hồng được một người gọi đến nói chuyện, mà Hồng nghe anh em bảo đó là ông Chính ủy. Khi nghe ông Chính ủy bảo đây là Trung đoàn chủ lực Miền Q-761. Hồng mới bật ngửa ra.

Hồng tưởng chừng trời đất sụp đổ trước mắt. Thì ra, người ta đã nói gạt mình và người ta không đếm xỉa gì đến ý kiến mình. Thực là vô lý. Một lần nữa, lập lại ý kiến của mình, là muốn được đưa đến Ban Tiếp Tân của Mặt Trận. Dù không được học điện ảnh, công tác về điện ảnh đi nữa, người ta sẽ dùng Hồng vào việc khác, hợp với khả năng của Hồng. Ông Chính ủy Trung đoàn nói cho Hồng biết, ông ta sẽ báo cáo lên trên, thế nào ở trên cũng làm thỏa mãn nguyện vọng của Hồng. Đồng thời, ông Chính ủy nói cho Hồng nghe về lý tưởng cách mạng, công tác cách mạng.

Để động viên chính trị, ông ta mời Hồng uống cà phê, thân mật nói chuyện, đề cao tinh thần giác ngộ cách mạng của Hồng. Nhân đó, ông ta kể chuyện chiến đấu, tinh thần dũng cảm hy sinh, những chiến thắng cũng như đời sống vui vè, hay ho của bộ đội.

Sau đó, ông ta đưa Hồng đến Ban Chính trị Trung đoàn, công tác tạm cho “vui”, trong khi chờ đợi quyết định của cấp trên. Tại đây, các cán bộ chính trị được lệnh giáo dục Hồng triệt để bằng mọi hình thức như tâm tình, tranh luận, đọc sách báo, nhất là các chuyện dài của Liên Xô, Trung quốc đề cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng v.v…

Quả là Hồng cứng đầu thật. Suốt cả tháng trường, người ta cho Hồng “ăn muối”, “uống nước đường”, giở hết các ngón “vuốt ve, mơn trớn “, “cứng rắn”, ” đe đọa ” chẳng đi đến đâu cả. Thế là biện pháp chót được mang ra sử dụng. Người ta đưa thẳng Hồng đến “Trường Huấn Luyện cán bộ Tiểu đội” của “R” xa tít giữa rừng sâu gần biên giới, gởi Hồng ở đó với câu nói như sau :

– Chúng tôi rất tiếc là anh vẫn giữ ý kiến của anh, chúng tôi đã báo lên trên. Bây giờ trong khi chờ đợi sự quyết định của cấp trên, chúng tôi xin gởi anh đến trường huấn luyện cán bộ Tiểu đội. Anh sẽ có thì giờ để suy nghĩ chính chắn, để quyết định lấy tương lai cho mình.

Vậy là Hồng được người ta đưa đến “đơn vị mới”.

Tại đây, người ta bỏ mặc cho Hồng làm gì thì làm, chẳng ai phân công, yêu cầu Hồng làm bất cứ công việc gì. Kế hoạch cô lập Hồng ra ngoài tập thể, không ai thèm chơi, không ai thèm nói chuyện, không ai gần Hồng. Tất cả đều được lệnh phải chấp hành kế hoạch này.

Thực không gì khổ sở bằng, tàn nhẫn bằng cái phương pháp “tẩy não” đó. Sống chung đụng với hàng trăm người mà tưởng chừng như sống giữa sa mạc một mình. Người ta đang nói chuyện, thấy Hồng tới là ai cũng nín thinh. Hồng có hỏi gì người ta chỉ ậm à, ậm ừ. Người ta đang chơi, Hồng tới thì người ta dẹp, lảng đi chỗ khác. Trong tất cả cuộc vui, hội họp Hồng chỉ là kẻ đứng ngoài lề. Ngay trong việc làm, công tác thường ngày cũng thế, chả ai phân công, nói năng gì đến. Hồng muốn làm gì thì làm. Thực không có gì khó chịu và tổn thương tự ái bằng người ta xem Hồng như không có, một kẻ thừa thãi, vô tích sự, vô trách nhiệm. Còn hơn thế nữa, người ta muốn mọi người tránh xa Hồng như tránh xa một người hủi, một người lao v.v..

Giữa rừng sâu mông mênh, không biết đường lối, lại canh gác, kiểm soát khắp nẽo, thì dù Hồng có muốn thoát cảnh đó cũng không được.

Cứ như thế, Hồng chịu đựng cho đến cuối năm 1964 thì không thể kham nổi nữa. Mọi ham muốn, suy nghĩ, mọi chống đối, phản ứng, bị cái hình phạt, hình thức tẩy não đó làm tiêu tan mất hết. Tâm hồn, ý chí của Hồng mềm nhũn ra. Cũng may cho anh là anh chưa bị điên.

Mục đích của Đảng muốn cho Hồng phải “tự nguyện tự giác” cầm súng chiến đấu đã thành công. Hồng viết thư cho ông Chính ủy biết, giờ anh bằng lòng cầm súng đánh giặc. Hồng được đưa về căn cứ của Q-761, được tiếp rước niềm nỡ và an ủi, hứa hẹn đủ điều, mục đích làm cho Hồng phấn khởi, vỗ về tự ái Hồng. Người ta ca tụng trình độ văn hóa của Hồng hơn mọi người, khả năng của Hồng phải được sử dụng đúng chỗ. Trong trường hợp công tác ở một Trung đoàn chủ lực, khả năng của Hồng chỉ có pháo binh là thích hợp. Bởi Hồng có trình độ văn hóa giỏi, tức là toán hay. Toán hay thì thích hợp với ngành pháo binh chứ còn gì nữa!

Với Hồng, Hồng đang ở trong tình trạng hoang mang cực độ, sợ cái cảnh sống cô lập bao lâu nay, chỉ muốn thoát ra khỏi cảnh đó, làm gì cũng được. Giờ được người ta đề cao, được giao bắn pháo thì Hồng nhận ngay. Anh em kém học thức, họ đâu bắn pháo giỏi được! Chí 1ý quá!

Nhưng chiến sĩ pháo binh của chiến trường du kích đâu phải chỉ có chuyên làm toán, tính góc, tính độ để bắn pháo. Lâu lâu vài ba tháng, có khi năm bảy tháng, cả năm mới có dịp bắn pháo một lần, chứ thường ngày thì công tác vác pháo lội bộ mới là công tác chính. Lính pháo binh cần phải to con khỏe mạnh để… vác nòng, vác chân, vác đế nặng đến bốn, năm mươi ký lô. Hồng to con, vạm vỡ đủ tiêu chuẩn quá rồi!

Từ đó anh sinh viên Văn Khoa đẹp trai, vạm vỡ, ham thích điện ảnh đành vác khẩu D.K.75 ly, từ khu B sang khu A, từ khu A sang khu B, núi rừng nhẫm dấu chân anh. Người ta giải thích cho anh biết rằng quân đội giải phóng tuyệt đối do Đảng lãnh đạo, do đó những đảng viên trong quân đội là những cán bộ lãnh đạo. Anh phải nghe lời họ. Dù họ ít học, kém khả năng, họ dở, nhưng họ là Đảng viên, là thành phần công nông cốt cán. Họ trung thành với Đảng, với cách mạng không như những giai cấp lưng chừng phản động. Là lính mới thì anh là chiến sĩ với cấp bậc binh nhì, chịu khó hy sinh, chịu khó lập công, giác ngộ lập trường giai cấp, có tiến bộ như thế thì Đảng sẽ cất nhắc lần lên tổ trưởng tam tam, rồi lên A phó (Tiểu đội phó). Chịu khó đi! Tích cực học tập, giác ngộ, hy sinh đi ! Cán bộ phải được đào tạo từ trong công tác thực tiễn, từ trong chiến đấu chớ không cần học giỏi, không cần có trình độ văn hóa. Anh “có học” giống như anh “không học”, điều đó chẳng can hệ gì cả. Cái anh học giỏi với cái anh học dở, anh sinh viên đại học, trí thức, luật sư, giáo sư với anh cày ruộng dốt nát, anh hốt rác chẳng khác gì nhau hết. Chẳng những vậy, anh trí thức còn phải tốn công cải tạo, tư tưởng giáo dục v.v…

Mỗi ngày, anh phải hội ý trong tổ tam tam, chịu sự phân công điều khiển của Tổ trưởng, Tiểu đội trưởng, dù cấp trên trực tiếp điều khiển đó mới 17, 18, trình độ học vấn i-tờ, cũng vẫn là cấp trên.

Hồng ngỡ thoát khỏi cái cảnh bị cô lập hóa, chắc tình huống mới sẽ dễ thở hơn, ai dè “chạy ô mồ gặp ô mả”. Tháng 6 năm 1965, anh vác D.K.75 ly tham dự trận Đồng Xoài. Trong những phút đầu tiên, Hồng chưa bắn được phát nào đã bị cối của cứ điểm Đồng Xoài nổ sát bên, vai bị một vết thương sâu.

Từ đó, Hồng cùng một số thương binh khác còn có thể “ráng” được (vì không có dân công cũng như đội cáng thương) thất thểu kéo nhau lê bước về đến bệnh viện đội 16 của khu A, đóng ở Mã Đà cầu dây, băng bó điều trị. Hồng bị thương đêm 9 rạng ngày 10 tháng 6 mà phải đến chiều tối ngày 12 tháng 6, nghĩa là ba ngày sau khi bị thương, mới đưa vào phòng mổ của bệnh viện đội 16, điều trị.

Cũng may, vết thương không chạm xương, cũng không thương tổn nội tạng, nên hơn nửa tháng sau, vết thương vừa kín miệng thì bệnh viện cho ra khỏi bệnh viện về đơn vị dưỡng sức, lấy chỗ cho số thương binh khác nặng hơn cần nằm.

Ngày trước Hồng vui vẻ là bao, nhanh nhẹn, hăng hái là bao, tin vào lý tưởng và con đường anh đi là bao, nhưng khi vào “cách mạng” rồi thì anh gần như chưa một lần biết mở miệng cười và đôi mắt bao giờ cũng lặng lẽ, đôi khi long lên để rồi lờ đờ, rưng rưng nước mắt.

Ngày 27 tháng 12 năm 1965 dương lịch, trong chiến dịch Dầu Tiếng, vì lý do đánh vận động chiến trong rừng cao su, không cần pháo, không cần sử dụng D.K.75 người ta cấp cho anh khẩu carbine đi đánh chận viện. Và anh đã “hy sinh” trước hỏa lực Sư đoàn 5. Một viên đạn xuyên thủng trán trổ ra ót hồi 10 giờ 15 phút sáng. Hồng để lại một tập nhật ký dày đặc những chữ, một thẻ sinh viên và một ví tay đựng hơn 10 tấm ảnh. Trong đó gồm những tấm ảnh của anh lúc còn học ở Sàigòn, ảnh của Yến, ảnh hai người chụp chung và ảnh của gia đình, ba má, anh chị em của anh đang ở Sàigòn. Trong tập nhật ký của Hồng, trang đề ngày 14 tháng 4 năm 1965, có đoạn như sau :

…. “Trời ơi, cách mạng là thế này đây ư ? Lý tưởng là thế này đây ư ? Yến ơi anh đã bước vào hỏa ngục rồi ! Đau đớn cho anh lắm. Tại sao anh không nghe lời em hả Yến ? Vậy mà người ta còn muốn anh vận động với gia đình đem mấy đứa em của anh vào đây, viết thơ cho em vào tham gia cách mạng ! Đời anh chẳng còn gì, lòng dạ nào, họa chăng anh là… thì mới nhẫn tâm đưa những kẻ thân yêu của mình đi vào… Em ơi, một ngày nào đó…. Em đừng khóc nghe em !?.

Trên đây, là hai câu chuyện tạm thay cho lời kết luận. Cách mạng là vậy. Lý tưởng là vậy. Những ai còn cho “mặc cảm” của mình là đúng, lý tưởng Cộng sản là lẽ sống, đáng tôn thờ, chúng tôi xin mạn phép có một lời khuyến khích :

– Xin mời các ngài hãy nhập cuộc! Hãy trực tiếp tham gia “cách mạng giải phóng dân tộc” đi. Có thế mới tìm được “thiên đường”. Đừng mập mờ, chỉ làm rối thêm nội bộ Quốc Gia lại còn có tội với Mặt Trận Giải Phóng là “thích cầu an hưởng lạc, thành phần lưng chừng phản động, gián tiếp nối dáo cho bọn đế quốc Mỹ xâm lăng miền Nam”. Nó chỉ làm cho lửa chiến tranh thêm bùng cao ngọn, kéo dài chẳng biết đến bao giờ.

Xin mời các ngài quyết định nhanh lên.

10-11-67
Kim Nhật

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s