BUỒN VUI ĐỜI NGHỆ SĨ (Hồi ký sân khấu của Cố soạn giả Nguyễn Phương)

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN ĐỜI XƯA…
NGẬM NGẢI TÌM TRẦM

Mùa Xuân Ất Dậu 2005, cái Tết con Gà năm nay sao mà bầu trời rơi quá nhiều tuyết. Tôi có trồng một cây mai vàng trong nhà đã tám năm rồi, năm nay cây mai trổ nhiều bông đúng vào mấy ngày Tết, trong bụng tôi chỉ vui vui một chút thôi, vì ngoài cây mai vàng với vài chục chùm bông nhỏ màu vàng chanh đó ra thì tôi nhìn quanh, tôi không thấy có một chút xíu nào hương vị Tết của mình, mặc dầu trong nhà vợ tôi cũng chưng dọn như kiểu đón Xuân ngày xưa ở quê hương.

Không có tia nắng ấm… không có làn gió xuân se lạnh, không có tiếng chim, không pháo nổ, không có cả những em bé xúng xính trong những bộ quần áo mới, tung tăng rủ nhau đi mừng tuổi cha mẹ để hưởng một gói tiền lì xì…

Sáng sớm ngày mùng một Tết, sau khi cúng kiếng ông bà, tôi quyết định xuất hành ngày đầu Xuân.

Hồi xưa ở Việt Nam, Tết nào tôi cũng coi giờ, coi hướng cẩn thận mới xuất hành đầu xuân. Từ khi tôi qua định cư ở Canada tới nay, hướng xuất hành của tôi năm nào cũng là hướng tới Côte des Neiges để gặp các ông bạn già, và giờ xuất hành là tùy theo giờ của chiếc bus chạy tới trạm trước nhà của tôi. Ra đúng giờ gặp xe bus tới thì sẽ đỡ khỏi phải chịu lạnh vì đợi xe. Tôi nghiệm ra rằng hướng xuất hành và giờ xuất hành như tôi đã tuân theo cả chục năm qua là hướng tốt và giờ tốt, vì mỗi năm khi tôi xuất hành đúng giờ, đúng hướng đó thì tài lộc vô cho tôi đều đều mỗi tháng, tiền “của bề trên tỉnh bang Québec” rót hàng tháng, đúng ngày quy định giúp cho tôi được an hưởng tuổi già.

Tôi cũng chợt nhớ ra rằng hơn 15 năm định cư, tôi không có tốn tiền cho mấy ông thầy bói để nhờ chỉ hướng và giờ xuất hành trong mấy ngày Tết.

Ngày Tết ta ở Mộng Lệ An không có chút xíu nào hương vị của Tết Việt Nam, mặc dầu các Hội đoàn cũng có tổ chức đón xuân, có ra báo xuân và các cửa hàng thực phẩm đều có bán bánh mứt, hoa quả để dân Canadiens gốc Việt mình mua về dùng trong các cuộc lễ cúng đưa rước ông Táo, đưa rước Ông Bà trong ba ngày tết.

Có lẽ ta chỉ cảm giác là đã tới Tết rồi khi bạn bè gặp nhau thì câu chào hỏi quen miệng là: Năm mới, chúc anh vạn sự như ý!

Tôi đến Câu lạc bộ người Cao Niên ở Côte des Neiges uống trà đón xuân với các ông bạn già. Hôm đó tuyết rơi nhiều, hoa tuyết nặng hạt bay cuồn cuộn mù mịt cả bầu trời. Chúng tôi ngồi trong phòng sưởi ấm, nhìn qua khung cửa thấy cả một khoảng không gian màu trắng đục dật dờ lay động theo từng mảng tuyết bay.

Một ông bạn già, hớp một ngụm trà nóng, nói :

– Ở xứ người, trong những mùa xuân đầy tuyết giá, được ngồi chuyện trò vui vẻ với các bạn đồng hương, tôi chợt nhớ hai câu thơ :

Hỉ đắc thiên nhai tri kỷ cộng
Tận tâm thù đáp thánh ân triêm.

Nguyễn Phương có biết hai câu thơ nầy ở trong bài thơ nào không? Và tác giả là ai ?

Tôi không phải là một học giả chuyên nghiên cứu thơ mà cũng không phải là một nhà chuyên sưu tầm văn học nên tôi không thể trả lời câu hỏi đó. Tôi nói :

– Có thể hiểu ý thơ, nghĩa của hai câu thơ đó chớ tôi không biết xuất xứ và tác giả. Hai câu thơ :

“Hỉ đắc thiên nhai tri kỷ cộng
Tận tâm thù đáp thánh ân triêm.”

nghĩa là:

Chân trời vui được cùng tri kỷ
Đem hết lòng son báo thánh hoàng

Câu dưới “Đem hết lòng son báo thánh hoàng” cho mình hiểu thơ nầy tác giả là một ông quan, trung thành với nhà Vua. Câu trên “Chân trời vui được cùng tri kỷ” thì mình có thể đoán là ông quan đó đi sứ, đến ngoại quốc, gặp lại bạn đồng hương, đồng tâm đồng chí nên mới cảm khái mà sáng tác ra hai câu thơ trên. Tôi chỉ căn cứ theo ý nghĩa của hai câu thơ mà đoán, còn muốn biết đích xác thì phải đi tra cứu nơi các sách vở xưa.

Tôi im một chút rồi nói tiếp:

– Mà nói thiệt, muốn tìm các điển tích văn học xưa, tôi thấy khó như chuyện ngậm ngải tìm trầm!

Ông bạn của tôi bỗng phá ra cười :

– Hai câu thơ kia chưa biết đích xác ai là tác giả, giờ lại thêm bốn tiếng Ngậm ngải tìm trầm! Vậy là sao? Ngậm ngải tìm trầm là sao?

Nhân dịp xuân về, trong lòng tôi cũng hân hoan khi thấy các bạn thích nghe kể chuyện nên tôi thuật lại một chuyện đời xưa liên quan tới việc ngậm ngải tìm trầm.

***

Hồi năm 1963, đoàn hát Thanh Minh – Thanh Nga đang hát tại thành phố Nha Trang thì ở Saigon xảy ra cuộc đảo chánh ông Diệm. Tại Nha Trang ban đêm cũng có lịnh giới nghiêm. Các đơn vị Hải Quân, Trường huấn luyện Không quân ở tòa tỉnh trưởng, quân sĩ canh phòng cẩn mật, thái độ nghiêm túc, căng thẳng tưởng chừng như có thể sẽ xảy ra những cuộc chạm súng giữa phe đảo chánh và phe phản đảo chánh.

Bà Bầu Thơ biết là không thể đưa đoàn hát trở về Sàigòn trong lúc này, mà ở tại thành phố Nha Trang thì e cũng không yên nên quyết định dọn đi hát trong các quận nhỏ như ở Đồng Đế, Nha Trang Thành, quận Tuy Hòa hay Ninh Hòa, để đợi coi tình hình êm êm rồi sẽ trở về Saigon.

Lúc chúng tôi hát ở quận Ninh Hòa, một quận ly nhỏ ở ven rừng núi, dân cư thưa thớt, chúng tôi thấy dường như quân đội và dân chúng ở đây chẳng quan tâm gì đến những biến động chánh trị đang diễn ra sôi nổi ở Saigon.

Ông thiếu tá Sinh, quận trưởng Ninh Hòa, trước đây là bạn thân của hai anh Hoàng Giang và Việt Hùng. Khi đoàn Thanh Minh – Thanh Nga mới dọn đến thì ông quận trưởng đã đến rạp hát để kiếm hai anh ấy rồi mời bà Bầu Thơ, Thanh Nga, hai vợ chồng Hoàng Giang – Kim Giác, Việt Hùng – Ngọc Nuôi và một số nghệ sĩ, soạn giả đến tư dinh của ông dùng cơm.

Bữa cơm mà ông quận trưởng gọi là đạm bạc gồm có một con bê thui, nhiều thùng bia, hai chai rượu Whisky và mỗi nghệ sĩ dự tiệc được tặng một cây thuốc thơm Quân Tiếp Vụ.

Đáp lại tấm thạnh tình đó, nghệ sĩ luân phiên nhau ca nhiều bài ca vọng cổ để tặng ông bà quận trưởng và góp vui trong bữa tiệc.

Sáng hôm sau, ông quận trưởng cho hai xe jeep đến rạp, mời bà Bầu Thơ, Thanh Nga và các nghệ sĩ đi tắm suối nước nóng, một thắng cảnh nổi tiếng của Ninh Hòa. Thanh Nga, bà Bầu Thơ, Hoàng Giang – Kim Giác đi xe jeep với ông bà quận trưởng. Xe jeep thứ hai thì vợ chồng Việt Hùng- Ngọc Nuôi, Thành Được, Hữu Phước và tôi (Nguyễn Phương). Số nghệ sĩ khác, Kiên Giang, Hà Triều, Hoa Phượng đi xe hơi của đoàn.

Suối nước nóng nằm trong vùng đồi núi, sâu trong rừng chồi, cách quận ly Ninh Hòa độ 15 cây số. Đi trên đường tỉnh lộ hơn 10 cây số rồi quẹo tẻ vô đường đá đỏ nhỏ, nguyên trước đây là con đường làm cho xe be kéo cây từ trong rừng ra quận. Đường vô gần tới suối nước nóng gồ ghề, nhiều hang ổ nên xe phải chạy chậm lại. Đến gần 11 giờ trưa mới tới con suối nước nóng.

Có người tới ngay cuối nguồn suối để tắm vì nơi đó nước ấm.

Có người thì tới nơi có nước suối nóng nhất, để hột gà trong một cái giỏ rồi thòng xuống nước để làm hột gà “la kót” (œuf à la coque).

Tôi, Kiên Giang, Hà Triều, Hoa Phượng, Ngọc Giàu và Bích Sơn đi vô mấy ngôi nhà sàn của người dân tộc thiểu số ở ven bìa rừng, gần cuối nguồn suối để kiếm mua những vỏ quả bầu khô để kỷ niệm chuyến đi chơi trong phum sóc của người dân tộc thiểu số.

Sau đó chúng tôi cũng xuống suối tắm, trửng giỡn nô đùa như những em học sinh đi cắm trại nhân dịp nghỉ hè. Người thiểu số Rhadé thấy có nhiều người lạ ở thành phố đến tắm suối nên tới nhìn, có người mang trái gùi, trái cám, trái sim tới bán. Có một người thợ săn mang tới bán một con giộc (giống như khỉ) mà ông ta vừa bắn được. Chúng tôi thấy con giộc, hiếu kỳ bu tới xem nhưng không ai mua, chắc là không ai dám ăn. Ông quận trưởng mua con giộc, mua trái gùi và trái cám cho chúng tôi ăn thử. Trái gùi màu vàng chanh, ngọt ngọt chua chua, đi rừng nếu khát nước, hái được những trái gùi nầy để ăn giải khát thì chắc là “đã” hết biết.

Gần hai giờ chiều, ông Quận cho bày thịt heo quay, bánh mì, nước suối Vĩnh Hão mà ông đã mua sẵn, chở theo xe cho chúng tôi ăn trưa. Ông cũng không quên mang theo một thùng bia.

Trời quá nóng bức, rừng chồi lại im gió, chúng tôi lấy bánh mì thịt quay xong là chạy xuống suối ngâm mình, vừa ăn vừa tắm…

Bỗng trời sầm sập tối, mây giăng cuồn cuộn ngang trời. Bà Bầu Thơ sợ mắc trận mưa to bất ngờ, sợ Thanh Nga sẽ cảm nắng cảm lạnh thì nguy nên bà yêu cầu ông Quận Trưởng cho về Ninh Hòa liền. Mọi người thu xếp đồ đạc, dọn dẹp sạch những lon bia, chai nước suối và đem lên xe những thức ăn thừa.

Xe vừa rồ máy thì trời mưa lớn như cầm chĩnh mà đổ. Xe hơi của đoàn lại giở chứng, ” đề ma rưa” (démareur) máy không nổ, xe không chạy. Nơi xe đậu là dốc núi, đường hẹp té mà lại gồ ghề, không thể đẩy xe lấy trớn cho máy bắt chạy.

Ông quận trưởng gọi ông chủ phum sóc ra, căn dặn giúp đỡ chúng tôi, xe của ông và xe jeep kia phải về quận ly sớm để cho anh em nghỉ ngơi, tối lại anh em còn phải hát.

Lượt đi thì tôi ngồi xe jeep, lượt về tôi nhường chỗ trên xe jeep cho Ngọc Giàu và Bích Sơn về trước. Tôi qua đi xe của đoàn, nên phải chờ sửa máy xe xong rồi mới có thể đi về được.

Trời mưa lớn như giông bão, gió mạnh từng luồng làm gãy đổ nhiều nhánh cây, chúng tôi không dám ngồi trên xe mà phải đội mưa chạy theo ông chủ phum về mấy ngôi nhà sàn gần bìa rừng chồi, nơi đó có ít cây cao nhánh lớn, không sợ cây ngã đè chết bất tử. Ông tài xế lái xe lớn của đoàn hát mà cái “gan” của ông ta bé tí xíu, ông ta cũng sợ bão tố bứng gốc cây rừng đè nên ông ta cũng chạy theo chúng tôi vô phum. Vậy là chiếc xe hơi của đoàn “ăn banh” (en panne) giữa rừng, tối nay chúng tôi ngủ rừng là cái chắc!

Ông chủ phum nói tiếng Việt lơ lớ nhưng tốt bụng, mọi người chúng tôi vô nhà sàn của ông, vừa vắt áo cho bớt nước mưa, ngồi vừa yên vị thì ông chủ nhà đã lấy ra một bình rượu cần cho chúng tôi mỗi người “tu” vài ngụm cho nóng người lên.

Hoa Phượng lên tiếng :

– Anh Ba, anh là trưởng lão cái bang của tụi em, đêm nay nếu phải ngủ ở lại đây thì nhờ đại ca sắp xếp dùm.

Theo lệ thường của đoàn hát, khi tới địa điểm mới, những chỗ ăn ngủ tốt thì dành ưu tiên cho ông bà bầu, cho các đào kép chánh, soạn giả rồi sau cùng mới đến các anh chị đào kép phụ, vũ nữ, vệ sĩ và các anh công nhân sân khấu. Trong chuyến xe bị kẹt phải ngủ rừng đêm nay có bốn cô vũ nữ, tỳ nữ, chúng tôi bốn soạn giả, ba anh kép phụ (Chí Hiếu, Vinh Sang và Văn Ngà) anh tài xế và hai người công nhân dàn cảnh. Nhà sàn của ông chủ phum rộng, tôi biết ý của Hoa Phượng là nhờ tôi an bài chỗ ngủ cho các cháu vũ nữ ưu tiên nên tôi quyết định sau khi ăn tối xong, các cô gái ngủ ở giữa nhà sàn, gần bếp lửa sưởi, anh em chúng tôi ai muốn thức sáng đêm nhậu rượu với ông chủ phum thì quây quần gần đó, còn ai buồn ngủ thì cứ lăn quay bên cạnh mà tự do ngáy. Tôi đưa hai tờ 500 cho ông chủ Phum nhờ mua gà nấu cháo và mua vài chai rượu đế. Ông nhận tiền, gà thì có nuôi sẵn dưới nhà sàn, rượu đế thì ông cũng có mua dự trữ trong nhà. Chúng tôi may mắn được tạm trú qua đêm trong ngôi nhà của một ông đệ tử lưu linh, vậy là tối nay chúng tôi tha hồ uống rượu để thi gan với muỗi rừng một phen. Muỗi có chích, có hút máu của tụi tôi đêm nay thì muỗi cũng phải say mà lăn quay ra đó vì trong máu của đám đệ tử lưu linh này nhất định phải có chất men đủ sức để quật ngã mấy con muỗi không biết hiếu khách như ông chủ phum.

Các cô vũ nữ và hai anh dàn cảnh xung phong làm bếp, làm gà nấu cháo, chỉ trong một thời gian ngắn là có ngay bữa ăn tối. Ăn xong, ngoài trời mưa vẫn không ngớt hạt, xe hơi của đoàn không sửa được, đêm nay chúng tôi đành ngủ trong rừng vậy. Chúng tôi ai cũng đã có trải qua một thời ăn quán ngủ đình, nên bữa nay có ngủ bờ ngủ bụi thì cũng không sao, huống chi chỗ ngủ là một ngôi nhà sàn rộng, tuy ở gần bìa rừng nhưng có lửa để sưởi ấm, có rượu đế để lai rai. Nói thiệt dẫu mà lúc đó xe hơi đã sửa chữa cho chạy được thì chúng tôi cũng không bỏ qua cuộc tiệc rượu bất ngờ và lý thú nầy. Rượu thì còn nửa bình rượu cần, rượu đế có hai chai, mồi nhậu có thịt gà xé phay, có khô trâu nướng của ông chủ nhà.

Rừng chiều, bóng tối xuống mau. Mây đen vẫn còn che kín khung trời. Mưa theo gió luồng quật phần phật cái cánh liếp của nhà sàn nơi chúng tôi đang ở.

Ông chủ phum đốt mấy cây đuốc bằng dầu chai, gắn xiêng xiêng trên bốn cây cột nhà nơi gian giữa. Ánh sáng chập chờn, chao đảo theo từng cơn gió lùa qua cánh liếp. Ông chủ phum hé cửa nhìn ra ngoài, ông nói :

– Mưa còn nhiều lắm, tới sáng chưa hết mưa đâu.

Thấy chúng tôi có vẻ không tin tài đoán thiên văn của ông, ông nói tiếp :

– Mấy con mối càng kéo từng đàn leo lên cái cột nhà kìa, mưa lớn nên nó đi trốn nước lụt đó. Mấy ông uống rượu chơi, tui đàn cho mấy ông nghe.

Ông nói xong liền với tay lấy cây đờn gáo treo trên vách mà khi vô nhà của ông, chúng tôi chưa kịp lưu ý nên không thấy và không khám phá ra ông chủ nhà cũng là một tay nghệ sĩ dân dã.

Tiếng đàn gáo kéo cung dài, nghe lê thê buồn thảm, ông chủ phum kéo đàn, đôi mắt lim dim, cái đầu ngã tới ngã lui nhè nhẹ như gởi hồn theo tiếng đàn. Chúng tôi lắng nghe như là tiếng rên than của một oan hồn nào đó nơi miền rừng sâu nước độc… Tiếng đàn nghe đơn điệu, nhại đi nhại lại mấy câu như kiểu tiếng hò nơi đồng quê rẫy bái của người Hậu Giang nhưng tiếng đờn gáo kéo nhừa nhựa, lê thê hơn, chúng tôi nghe mà cảm thấy một nỗi buồn mênh mang, xa vắng…

Bà chủ nhà và cô con gái chỉ ra chào hỏi chúng tôi khi chúng tôi mới đến nhà, sau đó thì hai người rút lui vô buồng trong nhưng đến khi nghe tiếng đàn, bà chủ và cô gái đi nhè nhẹ ra, lẳng lặng ngồi xuống cạnh ông chủ phum. Lát sau đó, cô gái khe khẽ hát theo tiếng đàn của cha, ca bằng tiếng Rhadé hay tiếng Miên, chúng tôi không hiểu nghĩa bài ca nhưng lời lẽ và giọng điệu như là lời thỏ thẻ tỉ tê của một cô gái đang tỏ tình với người yêu. Khi cô hát, đôi mắt long lanh, miệng cười chúm chím.

Kiên Giang lấy sổ tay ra hí hoáy viết. Tôi đoán là anh chàng thi sĩ ngắm nhìn đôi mắt đa tình của cô sơn nữ nên cảm hứng muốn làm thơ.

Tiếng đàn và tiếng hát chen qua cánh liếp, xông ra ngoài giữa lúc mưa gào gió thét thì liền được đáp lại bằng những tiếng réo gọi nhau ơi ới từ mấy ngôi nhà gần đó. Tôi nghe tiếng nâng cánh liếp, ánh sáng mấy cây đuốc dầu chai bập bùng chao đảo theo bóng dáng của nhiều người đang lục tục kéo tới nhà sàn của ông chủ phum. Đó là những chàng trai, những cô gái, có cả các ông già bà lão, những người ở trong phum sóc nầy. Thường khi nghe tiếng đàn của ông chủ phum, họ kéo tới để đờn ca nhảy múa cho đến khi họ mệt mỏi mòn mới chấm dứt cuộc vui để trở về nhà ngủ hầu sáng hôm sau họ lại lên nương lên rẫy hay đi săn chim bắn giộc.

Mấy người mới đến có hai tay đờn cò, một người thổi kèn bằng lá cây, một người đánh trống cơm, nhiều chàng trai và cô gái ca. Ông chủ phum nhường cây đàn gáo cho một ông bạn già, rồi vô nhà lôi ra một hũ rượu cần thiệt lớn để giữa sàn nhà để đãi khách. Cuộc vui tiếp tục, tiếng đàn rộn rã hơn trước nhưng âm điệu cũng mang một dáng vẻ xa xôi hoang vắng.

Cô con gái của ông ca, ông dịch cho chúng tôi nghe. Kiên Giang lấy sổ tay chép vội vàng :

Bởi vì em yêu anh
Nên anh yêu em mãi
Muốn tình yêu chung thủy
Em cắt tóc tặng anh.
Hỡi em yêu hiền lành
Mái tóc mềm đen nhánh
Anh mong điều may mắn
Trong chiếc kéo trên khay.
Em hãy ngồi xuống đây
Dưới tàng cây so đũa
Mái tóc em buông xõa
Thay lời em yêu anh.

Một chàng trai lực lưỡng, tiếng hát mạnh bạo nhưng âm hưởng vang xa, rất xa:

Nàng Rot giống như nguyệt thực
Đi tìm ai giữa ban ngày
Nếu anh có cánh anh bay
Tít trên tầng mây xanh thẳm
Giá như anh được bồng ẳm
Vầng trăng giữa đám mây kia
Nhưng nguyệt thực chỉ mờ mờ
Còn anh thì không có cánh.

Một anh khác vừa kéo đờn cò vừa hát, ông chủ phum vẫn làm một viên thông ngôn bất đắc dĩ :

Anh cùng em bơi thuyền Chôôk Chôôk
Nhổ thật nhiều bông súng, em ơi
Nhưng, thôi không kịp nữa rồi
Mây đen kéo tới chân trời gần lắm.
Anh coi mây mưa, anh nghe tiếng sấm
Anh phải đưa em mau mau trở về
Anh bơi thuyền lẹ hơn cơn mưa
Không cho mưa rơi trúng mình em một giọt.

Kiên Giang, Hoa Phượng, Hà Triều và tôi thưởng thức giọng ca và lắng nghe ý nghĩa từng lời từng tiếng, nhưng dường như lối hát buồn buồn đơn điệu có vẻ thiếu hấp dẫn, nên ông chủ nhà lấy trống cơm đánh bập bùng. Một anh bạn trẻ chạy xuống bếp lấy chiếc đũa cơm và cái nồi đồng lên để gõ nhịp hòa theo. Mấy tay đờn liền đổi điệu, tiếng nhạc nhanh hơn, nhún nhảy hơn, các cô gái, các chàng trai bước ra sóng đôi nhau mà nhảy điệu múa Lâm Thôn.

Các cô vũ nữ của đoàn hát chúng tôi như được gãi vào chỗ ngứa, khoái quá tủm tỉm cười, cũng bước ra nhập cuộc, nhún nhảy rập ràng theo đúng điệu Lâm Thôn.

Ông chủ nhà vừa đánh trống, vừa múa và hát :

Điệu múa Rhadé thật tưng bừng
Mời thần thánh xuống, hãy vui chung
Kom phloong phloong ơi, trroất trroất
Nào, em có bằng lòng anh không?
Anh từ xa đến, hỡi em yêu
Thấy em xinh đẹp lại diễm kiều
Anh không hề chán, không hề nản
Hãy ngã vào anh, hồn phiêu diêu
Kom phloong phloong ơi, trroất trroất
Đôi ta vừa múa lại vừa hát
Điệu vũ Rhadé thật tuyệt vời
Như niềm vui không bao giờ dứt.

Bỗng có một tiếng hú từ xa vọng lại…Vâng, đúng là có một tiếng hú thật dài hơi xen vào tiếng đờn tiếng trống bập bùng trong nhà…

Một tiếng hú giữa rừng khuya trong một đêm mưa to gió lớn, có phải chăng là câu chuyện ma hời hay con ma cà rồng là chuyện có thật như người ta thường kể xưa nay?

Không phải chỉ có một mình tôi nghe tiếng hú đó, mà tất cả mọi người đang dự cuộc vui đều nghe. Tiếng hú lại nổi lên, kéo dài ra, nghe như rất gần mà cũng có vẻ như ở một nơi nào đó xa xôi theo gió vọng về. Trong nhà mọi người liền ngưng ngay tiếng đờn tiếng trống. Nhiều người ngơ ngác nhìn nhau. Có người nói nhỏ : “Nó lại về đó. Hễ mưa to gió lớn thì nó về nó hú như vậy đó.”

Mấy người khách không mời mà tới lúc nãy, bây giờ vội vàng rút lui. Họ ra về vội vã, không kịp chào từ giã chủ nhà mà cũng chẳng nói với chúng tôi tiếng nào cả. Họ im lặng mà đi cho thật mau để trở về mấy ngôi nhà của họ.

Tiếng hú giữa rừng khuya như một luồng mưa rào quật mạnh vô người nghe đến rát cả mặt. Cuộc vui đang lúc ồn ào nhất bỗng trở lại cái cảnh im lặng một cách đáng sợ.

Mấy cô vũ nữ của đoàn thì sợ ma, họ ngồi sát vào nhau quanh ngọn lửa. Có đứa muốn khóc, có đứa nói rởn óc nổi gai cùng mình, có đứa cắn răng lại để đừng đánh bù cạp vì sợ.

Tiếng hú lại nổi lên, nghe như có như không trong cái đen thăm thẳm của núi rừng Tây Nguyên.

Chúng tôi rùng mình, lặng im nhìn nhau.

Ông chủ nhà kêu chúng tôi ngồi quanh ngọn lửa hồng, tiếp tục uống rượu cần và nghe ông kể chuyện :

– Tiếng hú đó là tiếng hú của người rừng…Người dân ở đây gọi như vậy vì chưa ai đích xác thấy được người rừng đó, nhưng cứ mỗi khi có mưa to gió lớn, rừng núi âm u thì người ta nghe tiếng hú vọng về. Khi thì nghe rất gần như ở sát bên sau nhà, khi thì nghe như xa xôi rồi vụt nghe rõ và lớn, rồi lại như nhỏ dần, chìm mất trong không gian vô tận.

Ông chủ phum kể lại: “Cha của ông hồi trước là thầy mo trong vùng, chuyên trị bịnh tà ma, bốc thuốc cho người trong phum sóc. Hồi đó có một anh thợ rừng tên Sroc Ngor, anh chuyên bắn giộc, chuyên vô rừng sâu để đi kiếm cây Quế Khâu và Trầm Hương để bán lại cho thương buôn ở Ninh Hòa hay Khánh Hòa, Nha Trang. Mỗi chuyến tìm trầm anh Sroc Ngor đều tới nhà ông thầy Mo (cha của ông chủ phum) để thỉnh ngải, ngậm trong miệng rồi mới dám đi sâu vô rừng. Những người già có gia đình sống nhiều đời ở vùng rừng núi này thường kể cho nhau nghe, là nếu đi kiếm Quế Khâu, cây Mun hay cây Giáng Hương thì không cần phải đi sâu vô trong rừng già. Còn Trầm Hương thứ cây nhỏ, giống thường thì thỉnh thoảng cũng tìm thấy được bên bờ suối hay trong rừng chồi. Muốn kiếm cây Trầm Hương lớn gốc, thứ cây có tuổi thọ cả trăm năm thì nhiều khi phải đi cả tháng vô rừng sâu, khi đi thì phải cúng vái ông thần rừng, phải ngậm ngải trong miệng để đi tìm trầm. Có được Trầm Hương hay không còn là do có phước có phần, khi nào không tìm được Trầm Hương, người tìm trầm có ngậm ngải thì sẽ nhớ con đường về. Trái lại coi thường sơn thần, coi thường các linh hồn trong rừng thẳm, không ngậm ngải tìm trầm thì sẽ quên mất con đường về. Thậm chí người tìm trầm sẽ mất hết trí nhớ, sẽ phải sống trong rừng như một người rừng thật sự. Chàng Sroc Ngor đã mất tích mấy chục năm nay nhân một chuyến đi tìm Trầm Hương mà không đi thỉnh ngải để ngậm trong miệng. Chắc là anh ta không tìm thấy con đường để trở về thôn bản, anh biến thành người rừng, quên đi tiếng nói của con người và thay vào đó là tiếng hú mỗi khi anh nhớ nhà, nhớ người thân. ”

Ông bạn của tôi nãy giờ lặng yên để nghe kể chuyện, bỗng lên tiếng nói :

– Nếu người thợ săn lạc đường về, khi nghe họ lên tiếng hú thì mình phải hú đáp lại hay hè nhau mà la thật to cho họ biết hướng mà tìm về thôn bản. Tại sao mọi người lại sợ tới nỗi chỉ mới nghe tiếng hú là vội vàng im lặng rút lui về nhà, đóng cửa lại vậy?

Tôi nói :

– Tụi tui cũng hỏi như anh vậy . Ông chủ phum trả lời : “Những cây Trầm Hương cổ thụ trong rừng già rất linh thiêng, dưới gốc cây Trầm Hương luôn luôn có những bãi cây ngải rừng, thú rừng hay con người đến gần cây Trầm Hương đó thì bị đám ngải rừng đó đầu độc cho chết liền tại chỗ. Nếu là người thì người đó lập tức hóa thành con dã nhơn, lông lá đầy mình. Thợ rừng hay người dân đi đốn củi, vô phước mà gặp con dã nhơn đó thì sẽ bị nó giết, nó ăn thịt hay bắt cóc đem đi. Ông chủ phum nói là trong phum sóc của ông cũng có mấy anh trai làng bị mất tích. Cũng vào lúc mưa bão, cũng tối trời và người ta nghe được tiếng hú ma quái đó. Vậy nên từ đó về sau, không ai dám đi vô rừng già. Ba của tôi chết rồi, ổng không truyền lại cho tôi cái ngải thiêng liêng để ngậm khi vô rừng, thành ra chuyện ngậm ngải tìm trầm như là một chuyện đời xưa. Bây giờ không còn ai kiếm ra được cái thứ ngải đó nữa. “

Đêm đó không ai ngủ được. Chúng tôi cố uống cho thật nhiều rượu để say để quên, để ngủ gục xuống sàn nhà, nhưng mà dường như cái nỗi sợ sệt mông lung đã đánh bại ông thần ma men. Rượu uống vô chỉ làm cho thêm ngầy ngật, khó chịu, nôn mửa chớ không làm cho chúng tôi say quắc cần câu, nằm đường té bụi như mọi khi.

Vừa hừng sáng thì thấy xe jeep của ông quận trưởng. Ông cho chở vô hai bình accu để thay cho bình accu xe của đoàn. Anh tài xế thay xong, bấm “đề ma rưa” là máy rồ rồ liền. Mọi người vội lên xe. Tôi thay mặt anh em cám ơn ông bà chủ. Ông còn mời bữa khác anh em vô tắm suối nước nóng, ngủ đêm rồi nhậu và đàn hát chơi với bà con trong phum sóc. Chúng tôi cám ơn, đi mà không hẹn ngày trở lại vì ai nấy còn bị ám ảnh về cái tiếng hú ghê rợn trong rừng khuya.

Về tới Saigon, Hoa Phượng liền khai thác cái ý Ngậm Ngải Tìm Trầm thu nhận được trong chuyến ngủ đêm trong rừng ở suối nước nóng Ninh Hòa. Anh viết tuồng Mưa Rừng, trong tuồng có một nhân vật bị ngải làm cho điên, quên tiếng nói của con người, chỉ biết kêu hú…

Tiếng hú như tiếng hú ghê rợn mà chúng tôi đã được nghe khi ở trong nhà sàn của ông chủ phum bên bờ suối nước nóng Ninh Hòa.

Tôi viết tuồng Hai hình ảnh một cuộc đời, tôi đã về miệt Phong Điền, Kinh Xáng, Xà No để thu thập những câu hát huê tình làm những câu đối thoại giao duyên cho mối tình chớm nở của một cô gái Hậu Giang và anh chàng sinh viên Saigon khi anh về nghỉ hè nơi quê hương bên ngoại. Tôi báo cho bà Bầu Thơ biết là tôi sẽ vắng mặt trong đoàn hai tuần lễ để “Ngậm Ngải Tìm Trầm”. Và trong đoàn hát Thanh Minh – Thanh Nga, danh từ của các soạn giả nói đi ngậm ngải tìm trầm có nghĩa là đi sưu tầm tài liệu, “đi thực tế” như kiểu nói ngày nay.

Mỗi cốt chuyện hay, mỗi câu văn thơ, một câu hò hát huê tình thu lượm được trong những chuyến ngậm ngải tìm trầm đó, đối với chúng tôi quý như người thợ rừng tìm được cây Trầm Hương.

Mấy câu hát huê tình mà chúng tôi sưu tầm được như sau:

Gái hò:

Hò ơ… Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo,
Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em…

Chiếc ghe trước lơi mái chèo, có tiếng một người đàn ông tằng hắng lấy giọng rồi hò đáp lời của cô gái :

“Hò ơ… Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi ờ…
Hò ơ,….kẻo giông khói đèn..ờ….
kẻo giông khói đèn, bờ bụi mà tối tăm ơ…ơ…”

Cô gái lại hò chọc ghẹo người trai ở ghe trước. Nên biết là hò hát trên sông đối đáp bâng quơ chớ không phải có tình ý gì. Đường xa thăm thẳm, dưới ghe xoay trở khó khăn chật chội, hò hát để rút ngắn cơn mưa dầm, đối đáp như vậy sẽ làm dịu đi cái nắng cháy da, sẽ làm quên đi cái cơn mệt nhọc, tiếng hát hò trên sông rạch ngày xưa là tiếng nói thân thương của những vùng đồng quê bình yên trù phú.

Tiếng hò của cô gái ghe sau trong vắt và vang xa như tiếng chuông ngân :

“Hò ơ… Phụng Hoàng đậu nhánh cẩm lai ờ….ơ…
Hò hơ…. Em trách người nghĩa ờ…ơ…
em trách người nghĩa nói sai lời thề…ờ…ơ…
Hơ…Đường đi Kinh Xáng xa vời…ơ…
Hò ơ…Xin cho em gởi…ơ…ơ…
xin cho em gởi vài lời thăm vợ anh ơ… “

Tiếng chàng trai cũng trả treo không vừa :

“Hò … ơ… Vợ anh chưa cưới.., ơ… anh vừa mới hỏi mới chào…ơ…ơ.
Xin em cho biết, …ơ….
xin em cho biết chừng nào em về với anh ơ….hơ….”

Cô gái cười nắc nẻ vô tư, cô gái hò trong đêm khuya tăm tối, không ai thấy mặt ai, ghe trước ghe sau cách nhau vài sải tay, vậy mà tưởng như có tơ trời nối đỏi kéo ghe sau theo liền với ghe trước…

Cô gái lại cao giọng hò :

” Hò ơ…. Con sông bên lở bên bồi ờ….ơ…
Bên lở thì đục …ơ.., bên bồi thì trong,
Sông kia nước chảy đôi dòng,
Biết rằng bên đục, ơ…
biết rằng bên đục, bên trong bên nào?
Gặp anh, em cũng muốn chào,
Sợ rằng chị Cả,… ờ…
sợ rằng chị Cả, dắt dao trong mình ơ…”

Tiếng hò bên trai an ủi vỗ về, cố lờ đi cái chuyện cô gái sợ mình là kẻ đến sau :

“Hò ơ… Tàu Tây chạy ngang cồn cát,
Xuồng câu tôm đậu sát mé nga,
Anh thấy em có một mẹ già,
Anh muốn vô hoạn dưỡng, biết có là đặng không? ”

Cô gái :

” Hò ơ… tôi bước xuống cầu…
bước xuống cầu, cầu trơn cầu trợt ờ….
Tôi bước xuống tàu,
tàu lắc tàu nghiêng… ờ….ơ..
Cả tiếng kêu người mở miệng cầu duyên…ờ. ..
Ra đây cho tôi thấy mặt ờ …..
cho tôi thấy mặt lạ hay quen cho tỏ tường ơ…. “

Tiếng bên đàng trai cũng hò, tưởng chừng không kể tới sự dọ dẫm của cô gái :

“Hò ơ…. Đèn tạ đăng thắp để bàn thờ…ơ…ơ..
Hễ vặn lên thì nó tỏ ờ,…
mà vặn xuống thì nó lờ…ơ….
Tôi thương ai đêm tôi đợi ngày chờ….ơ..
Xuống sông tôi hỏi cá…ơ mà lên bờ tôi hỏi chim… ơ…
Trách ai làm cho chỉ nọ xa kim… ơ..
Muổng nọ xa tiềm ơ… vắng em một bữa ơ…ờ
Vắng em một bữa,…mà anh nằm… ơ…điềm,… ờ… lại chiêm với bao… ơ….”

Và mấy câu hát huê tình này, ngày nay ít còn nghe ai hát :

“Hò ơ…ớ..
Gái chưa chồng như bông hoa lý…ờ..
Trai chưa vợ như bức tượng vẻ bìa xanh…
Nàng đành…ờ,…mà phụ mẫu không ..ơ…ờ…đành
Chớ tỷ như gáo nước…ơ..ơ…
tỷ như gáo nước tưới lửa thành sao tan ơ…ơ…

Hò ơ..ớ..ơ…
Cầu cao ngựa chạy chớ cầu gãy con ngựa nhảy tứ linh,
Anh đi đâu tăm tối một mình… ờ…
Hay là anh có ý…ơ…ờ..
hò…ơ có ý tư tình với ai… ơ… hơ..

Hò… ơ… ớ…
Anh thương em thời thương cho chắc cho chặt cho bền, ơ… hơ…
Dẫu mà có ai xe cát… ơ… hò… o… ớ, rồi đắp… ơ…nền, anh cũng mà không…ơ…
Hò ơ..ớ.. Ếch nằm bờ giếng mà ếch kêu trời… ơ..
Anh ơi, em thương anh mà thương đỡ ơ…ờ..
Thương đỡ mà vậy chớ có thương đời đặng đâu…ơ…

Ông trời ổng cao hơn cái trán,
Con trăng sáng hơn ngọn đèn,
Mà kèn kêu hơn quyển,
Mà biển rộng hơn sông
Biểu anh đừng thương trước uổng công ờ…
Để cho mà thiệt vợ thiệt chồng rồi anh sẽ thương ….

Hò… ơ….
Cây trên rừng hóa kiểng,
Cá dưới biển hóa rồng,
Con cá lòng tong giởn bóng ăn rong… ờ…
Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng ơ…
Đến đây trời khiến anh phải lòng thương em…ơ. “

Tôi nghĩ nếu như ai đó có công sức lặn lội về các nơi thôn quê hay các miệt vườn ở Hậu Giang Tiền Giang để sưu tầm các câu hát ru em, các điệu hò cấy lúa, hò giã gạo, hò chèo ghe, hát bóng rổi, các truyện thơ xưa như thơ Sáu Trọng, thơ thầy ký Chánh, truyện Chăn Cà Mun…ắt là sẽ có nhiều câu văn hay, nhiều ý tứ dồi dào mà lời văn rất bình dân nhưng không kém phần mượt mà như văn chương bác học sau nầy.

Công việc đòi hỏi sự cố gắng vô biên, phải kiên trì và phải có cả một tấm lòng mến yêu văn học bình dân, phải chịu khó chịu khổ như người ngậm ngải tìm trầm thì mới có thể khám phá dần dần cái kho tàng văn học dân gian quý báu của dân tộc Việt Nam.

Tôi là người miền Nam, chỉ biết một chút xíu về những câu ca dao, câu hò câu hát của miền Nam. Nói tới điệu hát ru của cả ba miền Bắc Trung Nam thì phải cậy trông vào sự góp công góp sức nhiệt tình của các văn nhân nghệ sĩ của cả ba miền đất nước.

Nhân ba ngày Tết, nhắc chuyện đời xưa : Ngậm Ngải Tìm Trầm để nhớ lại rằng quê hương mình có một nền văn học nghệ thuật rất là phong phú, đa dạng, lời lẽ bình dân nhưng thắm đượm một tình cảm mộc mạc, chân thành. Mỗi khi nghe lại những câu hò, những điệu hát ru em là tôi nhớ đến quê hương với những cánh đồng lúa mênh mông xanh rì với những cánh cò trắng chao nghiêng mỗi khi chiều xuống, và tiếng võng kẻo kẹt hòa theo tiếng êm êm của bà mẹ quê ru con ngủ bên hiên nhà. Và tôi bỗng nhớ 4 câu thơ của một người bạn già, ngày xưa anh ấy đã ngâm cho tôi nghe khi hai đứa tôi bơi xuồng đi tìm những câu hát ru em ở xã Phong Điền :

Cò trắng ngàn năm bay chẳng mỏi
Lưng trâu, sáo đậu ngóng mây chiều
Bếp un dệt khói đan mùng lưới
Giấc ngủ ru theo tiếng sáo diều.

Mùa Xuân Mộng Lệ An, nhìn đâu cũng thấy tuyết rơi mịt mù, nhưng rồi tôi nhìn đâu cũng thấy hiển hiện trong tâm tư sâu lắng những hình ảnh gợi nhớ quê hương.

—->Một tập tục khó quên:
Ngày Xuân nghệ sĩ đi xem bói.

<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, NGUYỄN PHƯƠNG: Buồn vui đời nghệ sĩ and tagged , . Bookmark the permalink.

3 Responses to BUỒN VUI ĐỜI NGHỆ SĨ (Hồi ký sân khấu của Cố soạn giả Nguyễn Phương)

  1. HANH DO says:

    Xin hết lòng tri ân và cảm tạ blog BVCV của LETHY rất nhiều.
    BVCV là một trong những blog xuất sắc nhất cả về hình thức lẫn nội dung.

    Không hiểu sao LETHY lại có thể đánh máy hay và tài tình như vậy!
    XIN LeThy làm ơn đánh máy và đem quyển sách rất hiếm này lên trang BVCV để gìn giữ một kho tang quý giá của dân tộc VN ta.

    Xin hết lòng cảm ơn LETHY. Xin ơn trên ban nhiều ơn lành cho LETHY và GĐ

    NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH – HỒ HÁN SƠN
    Nhà Xuất Bản Tứ Anh 1952
    Link download
    https://drive.google.com/file/d/1PP3vzE9MZYVlXchCYe5AR_Z8DTZN36x8/view?fbclid=IwAR3-tonBRXeMIInTbws-DgDdNvdu3ajh_PnilEB5W_dESAYjXOZXZARapfQ

    Like

    • Lê Thy says:

      @HANH DO

      LT rất vui và cảm động nhận được lời khen của bạn. Đó là một phần thưởng cho LT sau 20 năm miệt mài đánh máy và phổ biến trên BVCV những tác phẩm mà theo LT có thể giúp mọi người và nhất là thế hệ trẻ có cái nhìn đúng đắn hơn về VNCH và cuộc chiến Quốc Cộng.

      Đồng thời LT vô cùng cám ơn bạn đã giơí thiệu sách của tác giả Hồ Hán Sơn (mời quý độc giả của BVCV đọc tiểu sử của Đại Tá HHS tại https://nguyentin.tripod.com/dt_hohanson.htm ) . LT có thời giờ sẽ đọc kỹ sách này trước khi bắt đầu đánh máy.

      Kính chúc bạn và gia đình bình an trong cơn khủng hoảng vì Covid này.
      Lê Thy

      Like

      • NSG says:

        Trời đất ơi , bàn tay năm ngón LT vẫn bum bum . Tỷ tỷ của tui có mười ngón tay dzàng ròng thứ thiệt cở nào cũng wa’nh cở nào cũng gỏ . Gỏ miệt mài , gỏ thiên thu

        Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s