BUỒN VUI ĐỜI NGHỆ SĨ (Hồi ký sân khấu của Cố soạn giả Nguyễn Phương)

HÁT CHẦU
NHÂN LỄ HỘI KỲ YÊN

Năm 2000, tôi về thăm quê hương, tôi muốn gặp lại những người bạn đồng nghiệp để tìm hiểu cuộc sống của các bạn cũ có khấm khá hơn trước không, và cũng để coi nghệ thuật sân khấu cải lương và hát bội sau một phần tư thế kỷ đổi đời, có thay đổi gì hay không?

Vì là dịp Tết nên các rạp ở Sàigòn có các đoàn hát cải lương, không khí cũng khá rộn rịp. Có một chuyện lạ là ngày Tết bây giờ, các đoàn hát không còn giữ lệ kiêng cữ như ngày trước. Hồi đó, tuồng hát trong những ngày Tết phải là tuồng vui, kết cuộc có hậu, sum họp, hạnh phúc. Các đoàn hát và khán giả rất kỵ các vở tuồng có chết chóc, chia ly và những màn lớp đau thương mà diễn viên ca, diễn lâm ly để “lấy nước mắt” của khán giả. Tại rạp Hưng Đạo, đoàn cải lương Trần Hữu Trang hát tuồng Tần Nương Thất, sau đó nối tiếp các tuồng Đèn Đêm Nhỏ Lệ và Nước Mắt Kẻ Sang Tần.

Tuy xa quê hương đã lâu nhưng những tập tục cải lương có lẽ đã ăn sâu trong huyết quản của tôi nên tôi nhứt định không đi coi các tuồng hát có cốt chuyện và cái tựa “không hên” như kể trên. Thời may tôi gặp anh Đinh Bằng Phi, cô Kim Thanh, Ngọc Dung, Ngọc Đáng và anh Xuân Quan (các nghệ sĩ hát bội tài danh) rủ tôi đi Vũng Tàu, đến đình Thắng Tam, coi hát bội nhân dịp Lễ Hội Kỳ Yên.

Vũng Tàu ngày Tết cũng quá đông du khách vì bây giờ đường giao thông mở rộng, lại có tàu cao tốc, người Sàigòn đi Vũng Tàu sáng sớm, chiều tà là có thể trở về Sàigòn. Nhưng ngày Tết, không tiếng pháo, không có cái không khí Tết như ngày trước. Chỗ nào cũng treo cờ, bắt buộc treo trước mỗi nhà, mỗi tiệm, và không biết cơ man nào là biểu ngữ và cờ, tôi có cảm giác là cuộc lễ gì đó chớ không phải là ngày Tết. Cô Ngọc Đáng nhìn nét mặt của tôi, đoán ra là tôi không vui trước cái không khí Tết nầy, cô nói:

– Chú biết hông, bữa nay là Tết nhưng là cái Tết 25 năm sau cái năm 75, nên người ta tổ chức như vậy đó. Mấy năm trước, Tết ở Vũng Tàu buồn lắm, không pháo, chợ Tết bán èo uột bánh mứt, vài chục chậu hoa cúc, hoa vạn thọ rồi tan chợ. Tết mà không có pháo giống như ăn mắm kho mà không có rau, không ớt, không có thịt ba rọi, không tôm, không cá!

Tôi phì cười, nghĩ là cái con nhỏ nầy cũng quên tuốt các món ăn ngày Tết, bánh tét thịt kho tàu, dưa giá cá kho….Anh Đinh Bằng Phi cắt đứt dòng suy nghĩ lang bang của tôi bằng một câu nói với giọng thật là buồn: “Tôi sợ chầu hát năm nay có sự cố”.

Sự cố?… Sự cố gì? Gánh hát đã dọn tới trước hai bữa, đã bông rạp, dựng cảnh xong xuôi. Khi đoàn hát tới, Ban Trị Sự của Đình tổ chức rước Trang Ông trọng thể, đúng với tập tục xưa nay mỗi khi Đình tổ chức cúng và hát bội trong cuộc lễ hội Kỳ Yên. Diễn viên cũng là những diễn viên thượng thặng của ngành Hát Bội hiện nay.

Anh Đinh Bằng Phi, một diễn viên, kiêm tác giả, kiêm đạo diễn và cũng là một nhà nghiên cứu nghệ thuật hát bội, chỉ có đứng sau nhà nghiên cứu đốc phủ Đỗ Văn Rỡ thôi, anh Đinh Bằng Phi là một diễn viên tài ba, khi anh thủ diễn vai Quan Công trong tuồng Quan Công Đơn Đao Phó Hội thì khán giả trầm trồ khen anh như ngày xưa người ta đã trầm trồ khen anh Minh Tơ trong vai nầy. Lần nầy hát ba thứ San Hậu, anh Đinh Bằng Phi sẽ thủ vai Phàn Định Công. Khán giả chỉ nghe giới thiệu tên Đinh Bằng Phi và vai Phàn Định Công là đã nô nức rủ nhau đến đình Thắng Tam để coi anh hát.

Còn các vai nữ thì sao?. Trước hết cần kể đến tên đào Ngọc Đáng. Trước năm 1975, Ngọc Đáng được khán giả ái mộ tặng cho danh hiệu là một trong ngũ nữ tướng của sân khấu tuồng cổ:

– Xuân Yến,
– Thanh Loan,
– Thanh Thế,
– Bạch Lê,
– và Ngọc Đáng.

Ngọc Đáng là con nhà nòi, cha mẹ của cô là đôi nghệ sĩ tài danh Tư Minh và Ngọc Xứng trên sân khấu tuồng Tàu Phụng Hảo. Năm 13 tuổi Ngọc Đáng đã nổi danh trên sân khấu Kim Mai – Thanh Bình. Lúc đoàn nầy hát trên sân khấu đình Cầu Muối thì khán giả đến xem Ngọc Đáng trong các vai Mạnh Lệ Quân, Bàng Quí Phi, Lý Thần Phi, Tiêu Anh Phụng, Lưu Kim Đính. Khán giả ái mộ Ngọc Đáng đến mức là đêm nào không có Ngọc Đáng hát là khán giả ồn ào phản đối, trả vé đòi tiền lại, có khi còn muốn xông lên sân khấu xé phông, màn. Bầu Gánh phải cho khiêng Ngọc Đáng trên ghế bố ra sân khấu, chứng tỏ là cô đau thật, không thể hát thì khán giả mới yên. Hôm sau họ mang cam, hột gà, thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Tây, đủ thứ thuốc trị bịnh tới cho Ngọc Đáng. Cô phải tiếp xúc, cám ơn không ngớt lời và chờ cho khán giả ái mộ ra về, cô dẹp hết các thứ thuốc đó qua một bên vì sợ thuốc nầy kỵ với thuốc kia, mà không nhận thuốc của khán giả mang tới cho thì sợ khán giả giận. Sau 75, Ngọc Đáng là đào chánh đoàn Minh Giang – Khánh Hồng. Cô cũng từng là đào chánh đoàn Minh Tơ, đoàn Huỳnh Long, đoàn Sàigòn 1, cùng với Bạch Mai đào luyện các diễn viên trẻ. Ngọc Đáng lần nầy thủ vai Đổng Mẫu trong vở San Hậu thứ ba.

Đào Kim Thanh, một nữ diễn viên xuất sắc mà giới phê bình sân khấu thường ví cô như cô Năm Đồ tái sinh. Kim Thanh cũng thuộc về con nhà nòi. Cha cô là nhạc sĩ Văn Long, chuyên đánh trống trong dàn nhạc hát bội của đoàn hát bội Vĩnh Xuân Ban, rồi sau thành đoàn Minh Tơ, đoàn Hồ Quảng Minh Tơ; mẹ cô là nữ nghệ sĩ Kim Bông. Ông Cố của Kim Thanh là ông Bầu Tân, ông Nội là kép hát bội tên Hai Bảng và bà nội là đào Kim Nương.

Kim Thanh được sanh ra và lớn lên ngay trong đoàn hát Vĩnh Xuân Ban – Minh Tơ tại đình Cầu Quan nên ngay khi còn thơ ấu, đêm ngày nghe tiếng đờn giọng hát, lên sáu, lên bảy đã theo học hát lớp đồng ấu Minh Tơ nên về phương diện ca, diễn, Kim Thanh được sự chân truyền của minh sư Minh Tơ và được chính cha mẹ cô chỉ dạy thêm. Khi nhận huy chương vàng giải hội diễn hát bội toàn quốc, Kim Thanh đã cho biết chính tiếng trống của cha cô đã giúp cho cô thành đạt trong vũ đạo trên sân khấu. Ký giả báo Sân Khấu yêu cầu cô giải thích rõ hơn, cô nói:

“Hồi nhỏ, tôi thường theo Ba tôi, ngồi trong cánh gà coi hát, tôi nghe tiếng trống của ba tôi đánh thiệt là hay, tôi định hỏi ổng vài câu, khi nhìn lại, tôi thấy ba tôi vừa đánh trống vừa nhìn chăm bẳm ra sân khấu. Ba tôi làm việc rất căng thẳng suốt buổi diễn, tai nghe, mắt nhìn, chăm bẳm theo dõi từng diễn biến: người bước ra, kẻ bước vô, từng động tác, chấm dứt lời ca… mọi thứ đều phải qua tay đánh trống của Ba tôi. Ba tôi cầm hai chiếc roi trống, thoăn thoắt trên mặt trống chiến, khi đánh vào giữa, lúc lại ra sát vành ngoài, rồi điểm mỏ, gõ dăm, tiếng đục, tiếng trong. Với biệt tài điêu luyện, Ba tôi đã gây không khí cho từng lớp diễn, cho từng diễn viên, từng điệu hát bằng tiếng trống để cùng dàn nhạc đi vào những tấu khúc hùng tráng hay bi cảm. Khi tôi diễn vai Bàng Quí Phi, lúc chạy gối xin tội với vua Tống thì chính là tiếng trống giúp tôi chạy gối nhuyễn hơn, khi thủ vai Lưu Kim Đính sát tứ môn, đến cửa thành thứ tư, con tuấn mã kiệt sức chết thì tiếng trống vuốt nhẹ và rung đều, khiến cho tôi cảm giác đôi chân run rẩy của con tuấn mã bị kiệt sức, vậy nên tôi mới thật sự xúc động mà diễn lớp đó thật hay…”

Đó, Kim Thanh nức tiếng nữ diễn viên thinh sắc lưỡng toàn, lần nầy thủ diễn vai Tạ Nguyệt Kiểu thì bảo đảm khó có ai diễn hay hơn được.

Còn Xuân Quan, anh kép trẻ nổi danh trong vai Triệu Tử Long trong tuồng Triệu Tử Long Nhập Cam Lộ Tự, cũng là một kép hát bội tài ba. Năm 1972, mới 11 tuổi, Trần Văn Quan, sau nầy lấy nghệ danh là Xuân Quan đã được Giám Đốc Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn, đặc cách thu nhận em là học viên chánh thức trong phân khoa Hát Bội mà không cần qua khóa thi tuyển sinh. Nguyên do là khi hát chầu ở Lăng Ông Bà Chiểu, vì thiếu một vai quân báo, em Quan là khán giả nhí, tình nguyện ra làm vai quân báo và đã được anh Thành Tôn dạy từng câu báo trong đêm diễn chầu đó. Em thông minh, sáng dạ, học mau thuộc và dạn sân khấu nên tuy là thế vai bất ngờ mà em Quan đã diễn rất xuất sắc. Sau nầy chỉ mới hai năm học nghệ trong trường, Xuân Quan đã thủ diễn nhiều vai kép võ mặt trắng rất hay. Xuân Quan thành danh từ năm 1980, được nghệ nhân Công Chấn thương tài, gả cho con gái là nữ diễn viên tài sắc tên Thanh Trang. Xuân Quan lần nầy thủ vai Khương Linh Tá.

Ngọc Dung, nữ diễn viên hai lần được huy chương hội diễn hát bội ở Bình Định và Sàigòn, Ngọc Dung sẽ thủ vai Phàn Phụng Cơ…

Điểm qua tài năng của các ngôi sao sân khấu hát bội trong lần hát chầu nầy để thấy rằng “sự cố ” mà anh Đinh Bằng Phi lo sợ không phải là do diễn viên không đủ tài đảm đương các xuất hát chầu nầy, mà là do người của địa phương Vũng Tàu. Khi đi tàu cao tốc ra đây, anh nghe phong phanh là trong Quí Tế cúng đình lần nầy, ông Chấp sự Hai Điểm là người chầu trong các xuất hát. Anh Đinh Bằng Phi biết tôi đã mười mấy năm xa quê hương nên có lẽ không hiểu những phiền toái giữa người cầm chầu và diễn viên hát chầu, anh giải bày nỗi lo lắng của anh. Tôi trấn an anh rằng dù người cầm chầu khó tánh tới mức nào, ắt là cũng khó lòng bắt bẻ nghệ thuật ca diễn của các nghệ sĩ có tay nghề bậc thầy các anh, các cô đây. Tôi mời các bạn ra bãi sau dùng cơm rồi trở lại võ ca, nơi đoàn hát đang chờ. Kim Thanh đề nghị ăn cơm gần đình vì quanh chỗ làm lễ hội Kỳ Yên có rất nhiều hàng quán, đông vui hơn ở bãi sau.

Đình Thắng Tam được trang trí lộng lẫy, nơi đây “người ta” cho gìn giữ cái “không khí” cúng đình ngày xưa nên tha cho cái rừng cờ và biểu ngữ như ở bãi trước và nơi phố, chợ. Đình được sơn son, phết vàng, các câu liễn trên các cột đình cũng được tô vẽ như mới. Bên trong bàn thờ khói hương nghi ngút. Nhiều người dân địa phương đã vào thắp nhang lễ bái.

Đến tối, khi lễ cúng Kỳ Yên bắt đầu thì chỉ có Ban Quí Tế, mặc áo thụng xanh, đầu chít khăn đóng mới được thắp nhang, cúng Thần, làm lễ khai chầu.

Quanh đình, hàng quán mọc san sát như hội chợ, vừa là dịp Tết, vừa lễ hội cúng đình nên ngoài những hàng bán nhang đèn, vàng mã, còn có nhiều quán cơm chay, mặn, có nơi bán nước giải khát, có cả những quán bán trái cây, nhiều nhứt là nhãn, đặc sản nổi tiếng của Vũng Tàu. Tôi mua một kí nhãn rồi kéo vô quán cơm có một tấm bảng quảng cáo: “Rừng Cá, Núi Tôm”, mọi người đều “bắt mắt” vì tấm quảng cáo kỳ khôi nầy. Người ta thường nói Rừng cây, Núi đá, còn cá thì biển cá thì cá mới có nước để mà lội mà sống, chớ cá lên rừng thì chết khô ngay, sống gì nổi.

Các cô đã đói, vào quán là gọi cơm phần, nhưng tôi ngăn lại, đã ra tới biển thì ăn cua, ghẹ, sò, ốc trước rồi mới tính cơm, cá sau, vô quán Rừng Cá Núi Tôm mà ăn cơm phần thì quê chết. Chủ quán biết mặt các nghệ sĩ như Ngọc Đáng, Kim Thanh, Ngọc Dung, Xuân Quan nên tiếp đãi vui vẻ, nồng hậu. Ghẹ, cua được luộc tức tốc, bia Tiger cũng được khui ra…Ngọc Đáng nhìn tôi cười cười, tôi ngơ ngác, hỏi: “Bộ có gì không ổn sao?” Ngọc Đáng nói:

– Nhìn bộ dạng của chú, người ta biết là Việt Kiều mới về nước lần đầu nên mới mắc bẫy vì cái tấm quảng cáo Rừng Cá Núi Tôm đó. Nói chú đừng giận con! Người ta đi biển, ăn cua, ghẹ, đồ hải sản là ra bãi sau, các quán Thùy Vân, quán Thùy Trang của Bà Ba Lệ, vân vân…vừa ăn hải sản khoái khẩu, vừa nhậu ruợu bia ngoại hạng, hóng gió biển, nhìn sóng ào ạt xô đuổi nhau chạy vô bờ, lại được xem trai xinh gái lịch trong những bộ quần áo tắm thời trang, chớ ai đi đến đình Thần mà ăn hải sản?.

Tôi biết mình hố rồi, nhưng không sao, nay mai còn ở Vũng Tàu, ra bãi sau, bãi trước hay đi vòng núi lớn, núi nhỏ gì rồi cũng sẽ tuần tự nhi tiến mà. Chúng tôi chưa hết chai bia đầu tiên thì anh Năm Nhi, kép hát trong đoàn đến, nói ông Hai Chấp sự mời anh Đinh Bằng Phi đến bàn việc quan trọng. Anh ĐBP nói với tôi: “Sự cố mà tôi nói là đây rồi. Anh Nguyễn Phương đi với tôi nhe. Các cô ở lại dùng cơm rồi vô đình nghỉ, tối hát. Khi nào diễn chầu xong xuôi, chúng ta sẽ ở thêm hai ngày, đi tắm biển, dạo núi rồi về Sàigòn”.

Tôi kêu Xuân Quan ra riêng, đưa cho 100 đô, nhờ Xuân Quan thay mặt tôi khoản đãi các cô ăn uống thoải mái. Chúng tôi vô đình thì được người trong đình mời ra xe ngựa đã chuẩn bị sẵn, đưa chúng tôi ra bãi sau, nơi nhà riêng của ông Hai Chấp sự.

Đinh Bằng Phi cho tôi biết ông Hai Chấp sự tên thật là Sáu Quắn, trước kia là kép hát bội, con cháu của bà Ba Ngoạn, tay nghề rất giỏi nhưng nhà giàu, về Vũng Tàu kế nghiệp ông cha làm chủ ghe cá và một hãng làm khô, mắm, chủ quán nhậu nổi tiếng. Vì vậy ông không theo ghe hát nữa và vì là con nhà giàu, tánh hào phóng, được coi là nhân sĩ ở địa phương nên được bầu vô Ban Quí Tế, Ban Trị Sự Đình. Hễ khi có cúng đình, xây chầu hát bội thì ông cầm chầu và hát hay cỡ nào cũng chỉ thưởng cho đào kép hai cái đánh “thùng” thôi chớ không hơn, mà đánh nghe nhỏ rí nên người ta tặng ông danh là Hai Điểm. Tới quán nhậu của ông, người ta kêu ông là Sáu Quắn, tới lễ cúng Kỳ Yên thì người ta gọi ông là ông Điểm!

Chúng tôi đã đến nhà Hai Điểm, một villa nhỏ ở Hàng Dương, mặt tiền hướng ra biển. Ông Hai Chấp sự đang ngồi bên một cái bàn đá cẩm thạch, đặt trước sân, trước mặt có bình trà. Ông có vẻ đăm chiêu, suy nghĩ điều gì lung lắm. Nhìn bộ dạng của ông, tôi và Đinh Bằng Phi trao nhau một cái nhìn ngầm than với nhau: ” Chỉ ngó cái bộ mặt cau có của ông nầy cũng đủ biết là sự đời đang rắc rối đây.”

Ông Hai Điểm thấy chúng tôi, tươi cười, mời ngồi, mời uống trà rồi vô câu chuyện ngay:

– Tôi chờ các anh đã lâu. Mình ngồi đây uống trà, bàn chuyện, Trẻ nhỏ lo cơm nước xong thì mình vừa ăn vừa tiếp tục câu chuyện. Vậy có gì phiền hai anh không?

Đinh Bằng Phi nóng ruột muốn biết vì chuyện gì mà ông có vẻ trịnh trọng như vậy? Tôi nói ngay, tôi cũng là một nghệ sĩ nhưng đi định cư ở Canada lâu quá rồi, nhớ quê hương, nhớ gánh hát và không khí cúng đình ngày xưa nên theo gánh hát ra Vũng Tàu, nếu là chuyện nội bộ của Ban Trị Sự Đình và đoàn hát, tôi xin ra trước sân nhà, ngắm bãi biển cho hai anh bàn chuyện thoải mái hơn. Hai Điểm nói không cần, vì anh ở nước ngoài, còn nhớ quê hương, nhớ nghiệp Tổ thì ngồi đây bàn chuyện cũng hay lắm chớ.

Và sau đây là câu chuyện mà Đinh Bằng Phi có dự cảm là “sự cố” buổi hát chầu 25 năm sau cái năm 75 đổi đời:

Ông Hai Điểm:

– Lần nầy các anh hát chầu mấy thứ?

– Thì hát San Hậu, ba thứ như Ban Trị Sự đã bàn với chúng tôi.

– Ba thứ, có nghĩa là San Hậu thứ ba, có lễ Tôn Vương, Phong Soái.

– Dạ, đúng vậy, mình không thể hát thiếu. Với lại lễ Tôn Vương, Phong Soái thì mới kết thúc tuồng, vừa xôm, vừa có hậu. Khán giả khoái nhứt là cái Lễ Tôn Vương nầy.

– Tôi mời anh ra riêng đây là để bàn với anh: hát San Hậu Thứ Ba mà không có Lễ Tôn Vương.

Anh Đinh Bằng Phi ngỡ là lâu quá ông Hai Điểm không theo gánh hát, quên tuồng tích nên nhắc lại, tuồng San Hậu thứ ba có 4 lớp hát rất hay như:

– Lớp bà Nguyệt Kiểu xuống tóc đi tu giữa một đám em họ Tạ gian thần cướp ngôi vua Tề, một người chị trung chính, vứt bỏ phú quí vô chùa nương cửa Phật để rồi phải sa vào tay lũ ác tăng.

– Trận chiến giữa Tạ Ôn Đình và tướng trẻ Phàn Diệm và bị thua Phàn Diệm.

– Lớp treo Đổng Mẫu buộc Kim Lân qui hàng.

– Kết thúc có hậu, bà Nguyệt Kiểu tự trói mình, đề nghị Tề Ấu quân giao bà cho họ Tạ để đổi lấy bà Đổng Mẫu. Sau đó quân tướng thành San Hậu đánh thắng họ Tạ, chém chết Tạ Ôn Đình, đưa Ấu quân lên ngôi tức vị. Đó là làm lễ Tôn Vương, Phong tướng.

Ông Hai Điểm để cho Đinh Bằng Phi kể chuyện tuồng, rồi mới từ tốn nói:

“Chuyện tuồng thì là vậy. Hồi xưa, tôi theo nghiệp Tổ, tôi cũng nghĩ là sân khấu và cuộc đời giống nhau. Kẻ gian ác tham lam, có lúc đắc thời nhưng tàn cuộc thì bao giờ cũng bị quả báo. Gian thần soán ngôi đoạt vị thì thế nào cũng bị tướng trung và minh quân hồi trào phục nghiệp, bắt đem chém đầu hay xử lăng trì. Rồi thì làm lễ Tôn Vương, phong soái. Đó, hai anh nhìn ra biển mà coi, sóng trắng xóa tung tăng xô nhau vô tư đùa giỡn, nhưng dưới lòng biển, ngoài khơi ngàn trùng xa cách đó, có cả triệu người vùi thây mất xác… Nếu linh hồn oan ức của họ còn lởn vởn đâu đó thì nhứt định là họ mong có một ngày quân tham ác, cướp ngôi đoạt vị phải bị trừng trị, rồi thì có lễ Tôn Vương cho người dân sống thoải mái TỰ DO hơn. Vậy mà 25 năm qua rồi, chưa có lễ Tôn Vương…mà cũng chẳng biết đến bao giờ mới có lễ Tôn Vương thật sự. Vậy nên tôi muốn xuất hát San Hậu thứ ba không có lễ Tôn Vương để cho thánh thần và dân tới coi hát nhớ là chưa có lễ Tôn Vương, bọn gian thần Tạ Thiên Lăng, Tạ Ôn Đình vẫn còn đó…”

Đinh Bằng Phi ngồi gãi đầu, gãi tai, kêu khổ, kêu khó:

– Ông không bị ai ràng buộc, muốn làm sao cũng được, tụi tui khó à nghen. Mà nói cho cùng, hồi xưa đất nước mình lọt vô tay quân Pháp, vua Annam bị đày đi Phi Châu thì hát bội tuồng San Hậu cũng có lễ Tôn Vương kia mà…

– Hồi đó tụi Tây cho dân mình ăn bánh vẽ, nên hát bội nó khuyến khích mình hát lớp Tôn Vương. Bây giờ hỏng lẽ mình ru ngủ bà con mình bằng cái lớp Tôn Vương giả tạo đó sao ?

Tôi nghĩ là ông Hai Điểm có cái lý của ổng, mà đoàn hát bội thì có cái hoàn cảnh bất khả kháng của đoàn, thôi thì cứ ăn cơm, no bụng rồi mới tính tới.

Bữa đó ăn cơm nhà của ông Hai Điểm cũng có cá, có tôm, nấu ăn rất ngon, nhưng Đinh Bằng Phi như ngồi nuốt từng cục đá, nghẹn cổ họng, nuốt không trôi. Ông Hai Điểm nói cho Đinh Bằng Phi và tôi yên tâm:

– Mà nói cho hai anh nghe vậy thôi. Hát xướng là phận sự của các anh, còn cầm chầu là quyền thưởng phạt do tôi. Tối nay mình gặp lại nhau. Nói thiệt, tôi đau dạ dày, nghĩ ngợi lung tung càng đau nhiều hơn, tôi muốn quên hết, quên cái sân khấu và sự đời, quên luôn cái lớp tuồng soán ngôi và giết phản thần, Tôn Vương…Phải, quên hết đi, để mà ăn một bữa cơm ngon lành.

Đêm hát thứ ba ở Đình Thắng Tam làm cho tôi nhớ đời.

Ông Hai Chấp sự trong hai đêm trước cầm chầu , đánh trống chầu thưởng giọng hát, điệu bộ của các diễn viên thiệt là hào phóng, đánh trống thật lớn, chụp tay đè mặt trống vừa phải, anh em có lỡ hát cương cũng không bị gõ dăm trống. Tôi và Đinh Bằng Phi rất cảm kích ông. Ông dám đem tâm sự thầm kín ra nói với mình và thông cảm hoàn cảnh của anh em để tránh cho anh em gặp rắc rối.

Ngoài sân khấu Tạ Ôn Đình đã bị chém đầu, trống chiến đánh dồn dập, sắp tới lễ Tôn Vương, Ấu quân hát :

Bá quan, truyền văn võ bá quan.
Nhập triều nội tôn vương tức vị.

Xuân Quan (vai Phàn Diệm) nhập triều nội Tôn Vương tức vị.

Đến lớp hát nầy thì trống đổ, các tướng trung theo ngôi thứ, múa giáp bước vô triều, chót hết Ấu Vương ra…Tôi thở ra một hơi khoan khoái, không còn bị ám ảnh về câu chuyện không cho hát lớp Tôn Vương, bỗng tôi nghe một tiếng “Thùng” thật lớn, rồi tiếng trống tắt nghẹn ngay vì bị bịt mặt trống. Ông Hai Điểm đánh trống thật mạnh, bịt mặt trống xong quăng đôi dùi trống lên sân khấu, vẻ mặt giận dữ, bỏ ra khỏi đình ngay tức khắc.Thông thường khi ông Chấp sự cầm chầu quăng dùi trống là để trừng phạt toàn Ban đã hát bậy, làm ô uế khán trường, nhục mạ, xúc phạm linh thần. Trên sân khấu toàn Ban ngơ ngác. Khán giả cũng ngơ ngác. Đoàn bỏ màn hát, chấm dứt tuồng không có lớp Tôn Vương. Không ai hiểu lý do vì sao mà ông Chấp sự quăng dùi trống phạt toàn Ban, chỉ có Đinh Bằng Phi là ngầm hiểu vì sao tới lớp Tôn Vương lại xảy ra “sự cố”.

Mặc cho anh em bàn tán, mặc cho khán giả phàn nàn, chúng tôi chạy đuổi theo ông Hai Điểm: Ông thổ huyết trầm trọng sau cái đêm ngăn không cho hát lớp Tôn Vương. Cả đoàn hát đi tiễn linh hồn người quá cố, anh em có người dị đoan cho là ông Hai Điểm cầm chầu, thưởng phạt sai nên Thần Hoàng Bổn Cảnh trừng phạt. Tôi hiểu là ông bị đau dạ dày tới mức trầm trọng.

Cái đêm cầm chầu sau cuối cuộc đời của ông, ông đã đánh trống và quăng roi trống một cách hào hùng và thổ huyết vì quá xúc động.

Ngày nay, sau cái chết của ông Hai Điểm ở Vũng Tàu trong cái lễ cúng Hội Kỳ Yên đó, tôi mới nghiệm ra rằng Cuộc Đời và Sân Khấu không giống nhau. Những kẻ gian ác còn giàu sang phây phây ra đó, những kẻ có lòng trung chính, thật thà cứ phải chịu gian nan. Bao giờ mà Ông Trời, Thượng Đế làm soạn giả, soạn tuồng thì hy vọng ổng viết việc thưởng phạt công minh và cho mau lẹ một chút, để người hàm oan thấy lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà không lọt, ân oán phân minh.

—->Lời bạt của Hồ Trường An
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, NGUYỄN PHƯƠNG: Buồn vui đời nghệ sĩ and tagged , . Bookmark the permalink.

3 Responses to BUỒN VUI ĐỜI NGHỆ SĨ (Hồi ký sân khấu của Cố soạn giả Nguyễn Phương)

  1. HANH DO says:

    Xin hết lòng tri ân và cảm tạ blog BVCV của LETHY rất nhiều.
    BVCV là một trong những blog xuất sắc nhất cả về hình thức lẫn nội dung.

    Không hiểu sao LETHY lại có thể đánh máy hay và tài tình như vậy!
    XIN LeThy làm ơn đánh máy và đem quyển sách rất hiếm này lên trang BVCV để gìn giữ một kho tang quý giá của dân tộc VN ta.

    Xin hết lòng cảm ơn LETHY. Xin ơn trên ban nhiều ơn lành cho LETHY và GĐ

    NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH – HỒ HÁN SƠN
    Nhà Xuất Bản Tứ Anh 1952
    Link download
    https://drive.google.com/file/d/1PP3vzE9MZYVlXchCYe5AR_Z8DTZN36x8/view?fbclid=IwAR3-tonBRXeMIInTbws-DgDdNvdu3ajh_PnilEB5W_dESAYjXOZXZARapfQ

    Like

    • Lê Thy says:

      @HANH DO

      LT rất vui và cảm động nhận được lời khen của bạn. Đó là một phần thưởng cho LT sau 20 năm miệt mài đánh máy và phổ biến trên BVCV những tác phẩm mà theo LT có thể giúp mọi người và nhất là thế hệ trẻ có cái nhìn đúng đắn hơn về VNCH và cuộc chiến Quốc Cộng.

      Đồng thời LT vô cùng cám ơn bạn đã giơí thiệu sách của tác giả Hồ Hán Sơn (mời quý độc giả của BVCV đọc tiểu sử của Đại Tá HHS tại https://nguyentin.tripod.com/dt_hohanson.htm ) . LT có thời giờ sẽ đọc kỹ sách này trước khi bắt đầu đánh máy.

      Kính chúc bạn và gia đình bình an trong cơn khủng hoảng vì Covid này.
      Lê Thy

      Like

      • NSG says:

        Trời đất ơi , bàn tay năm ngón LT vẫn bum bum . Tỷ tỷ của tui có mười ngón tay dzàng ròng thứ thiệt cở nào cũng wa’nh cở nào cũng gỏ . Gỏ miệt mài , gỏ thiên thu

        Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s