ĐÁY ĐỊA NGỤC (Tạ Tỵ): Chương I

-Chương I-
BÀI HỌC ĐẦU TIÊN

I/1

Đoàn xe rời xa lộ, quẹo vào con đường đất đỏ chừng vài cây số rồi dừng lại. Trời bắt đầu sáng. Sau một đêm di chuyển mất ngủ, tôi nhìn những nét mặt mệt mỏi, những cặp mắt đờ đẫn, những mái tóc rối bời, không ai nói một lời. Tên bộ đội trẻ măng ôm khẩu AK ngồi ở cuối xe, liếc nhìn mọi người với cặp mắt nghiêm khắc. Hắn đưa ngang cây súng như đề phòng, sợ có người nhảy xuống trước khi có lệnh. Tên khác, ngồi sát ca-bin nhoài người, một tay cầm súng, một tay vén chiếc bạt xe, thò đầu ra ngoai. Chiếc Molotova chứa 80 người đi học tập cải tạo cùng tư trang với 2 tên bộ đội áp tải. Lòng xe chật cứng không ai có thể cựa quậy, xoay trở. Chiếc bạt che kín mít, làm nghẹt thở. Mùi hôi dầu mỡ do tấm bạt tỏa ra tăng thêm khó chịu. Ai cũng muốn thò đầu ra ngoài để mong được hít thở chút không khí trong lành, nhưng không được. Những tiếng ngáp kéo dài từ người nọ qua người kia tạo nên cảnh tượng vô cùng chán mỏi. Một vài đốm lửa lập lòe. Khói thuốc quanh quẩn không thoát khỏi lòng xe quến vào mùi dầu mỡ và hơi nóng từ đầu máy dội lai làm cổ họng tôi ngứa ngáy, buồn nôn. Vì ngồi sát phía sau, tôi cố tìm cách quay mặt ra ngoài. Mặt tôi gần chạm vào thân súng AK. Tên bộ đội nhìn chăm chăm. Bỗng từ trên xe, lao nhanh xuống một bóng người. Khẩu AK quay nhanh nòng về hướng đó:

– Anh kia, “nên” [Các tên bộ đội V.C. đều nói ngọng L thành N] xe ngay. Ai cho xuống? Xin phép ai? – Tiếng nói gắt gỏng mang nhiều tính cách dọa nạt.

– Thưa…., cho đi tiểu ! – Vừa nói anh vừa cho tay mở cửa quần.

– “Nên” ngay, nếu không tôi bắn !

Tên bộ đội đặt tay vào cò súng. Mọi người trong xe im phăng phắc. Chiếc áo trắng quay lại, cửa quần mở toang, cho tay bám vào thành xe, leo lên. Tôi nhìn, nhận ra Lâm, Trung Tá Quân Y. Vì nhỏ con và sau một đêm thức trắng, xe lại quá cao, không còn sức để leo. Tôi cúi xuống nắm tay Lâm, kéo lên. Sau khi Lâm đã ngồi thu lu trong lòng xe, tên bộ đội vẫn chăm chú nhìn, như muốn trút tất cả bực bội xuống hắn.

Trời sáng rõ. Tên bộ đội nhảy khỏi lòng xe theo lệnh của tên ngồi phía trước. Hắn cầm ngang súng, trong tư thế sẵn sàng. Một tiếng hô, khô và sắc: Xuống !

Mọi người như trút được gánh nặng, nhảy ồ ạt mong thoát khỏi lòng xe càng sớm càng tốt. Khi bàn chân vừa chạm đất, ai nấy đều khoa tay, nhún chân, vặn mình cho đỡ mỏi. Những khớp xương kêu răng rắc. Vài người mót tiểu quá, kéo nhanh cửa quần. Dòng nước tức tưởi bung ra !

– Tập họp hàng hai !

Tiếng hô của tên bộ đội âm vang. Đôi mắt hắn quắc lên như hằn học. Có người đái chưa hết bãi, vội cho tay kéo cửa quần, những dòng nước vẫn chảy làm ưót sũng một khoảng vải.

Dưới làn ánh sáng buổi mai, giữa một khung cảnh tươi mát của cảnh vật còn ướt đẫm hơi sương, tôi nhìn tên bộ đội với bộ đồ tác chiến nhăn nhúm, chiếc nón cối đã sờn vành, chiếc dây nịt bằng nhựa nâu kiểu dân sự thường dùng, đôi dép lốp “Bình Trị Thiên”, được sáng tạo từ hồi Kháng Chiến chống Pháp, đúc tại Trung Quốc, tất cả như toát ra sự nghèo nàn, nhớm nhếch không phù hợp với khẩu AK mới toanh, màu gỗ đỏ au, nòng thép xanh biếc có gắn chiếc lưỡi lê sáng quắc. Hắn cũng có vẻ mệt mỏi không kém chúng tôi, nhưng ở cuơng vị này, không cho phép hắn có những lời nói và hành động thiếu “tính chất Cách Mạng” ! Vì đứng gần, tôi nhìn rõ hàng lông to mọc bừa bải trên mép hắn như vết nhọ.

– Thưa…, cho mang đồ xuống ! – Một người trong bọn chúng tôi nói ấp úng vì chưa biết phải gọi tên bộ đội bằng gì ?

– Một “nên”, một đứng dưới đỡ xuống. Còn ở tại hàng ! – Giọng nói khô khan, lạnh lùng.

Trong khi chờ đợi mang đồ xuống xe, tôi nhìn phía trước và phía sau. Ở cuối mỗi chiếc Molotova, đều có hàng người đứng ngay ngắn. Đoàn xe quá dài, ở trước mặt cũng như sau lưng, những bộ quần áo đủ màu làm cảnh trí nơi đây cũng bớt phần tẻ nhạt. Một tên bộ đội chắc là cấp sĩ quan tuy không mang quân hàm, có dáng chững chạc, đeo K 54, đi từ đầu hàng xe lại. Hắn đi như duyệt qua hàng rào danh dự. Không đội nón cối. Mái tóc hớt ngắn, đen rậm. Cặp chân mày như hai nét mác chếch lến cao gần chấm tóc. Vầng trán hẹp, thấp. Khuôn mặt vuông. Chiếc cằm bạnh ra làm tăng phần cương quyết. Hàm răng hô nên môi hắn lúc nào cũng mở hé như cười. Thân hình tầm thước, nhưng đôi vai khá rộng. Nhìn hắn, tôi đoán biết từ miền Bắc mới vào cùng với ngày 30-4. Bộ quân phục hắn mang trên người thuộc loại hàng bóng, tương đối tươm tất. Hắn không mang dép lốp mà mang dép nhựa nâu, kiểu rọ heo. Cách xa hắn một khoảng, đám bộ đội, kẻ đội cối người đầu trần; tất cả đều không mang vũ khí.

Khi đi qua hàng chúng tôi, hắn liếc nhìn. Đôi mắt sắc sảo lướt nhanh như ánh chớp. Hắn không nói câu nào. Hai tên bộ đội áp tải, không chào, cứ đứng trơ trơ, coi như không có ai trước mặt.

Cảnh tượng đó làm tôi suy nghĩ.

Chúng tôi lợi dụng lúc này để trò chuyện trao đổi với nhau những lời nói thì thầm. Tôi nhận thấy, trên mỗi nét mặt, thoáng hiện sự lo âu nhiều hơn bình thản.

Tất cả, cầm đồ trong tay ! Sau tiếng ra lệnh, moi người cúi xuống xách túi tư trang của mình. Có người khiêm nhường, chỉ mang theo một túi nhỏ, chứa vài chiếc áo quần thay đổi cùng dăm ba thứ vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày. Có người lo xa, mang một ”xắc ma-ranh” tròn vo như con heo nái! Tất cả sự không cân xứng đó như báo trước và đánh giá về tầm mức hiểu biết của mỗi cá nhân về vấn đề học tập cải tạo ! Một tên bộ đội, cao, gầy, nét mặt xương xương từ đâu tiến đến sát chỗ chúng tôi. Hắn nói với một trong hai tên áp tải:

– Các đồng chí cho tôi “nãnh” B [B= Trung Đội] này! A, các anh ở B-30 phải không? B. Trưởng đâu?

Một người trong chúng tôi bước ra khỏi hàng:

– Thưa… tôi đây!

Đó là Trung tá Bảy thuộc Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu. Anh Bảy người lùn, mập mạp. Cái lối trình diện của anh vẫn theo đúng tác phong một quân nhân, dù hôm nay, anh không còn là sĩ quan cấp Tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nữa. Anh đứng thẳng tăp, hai gót chân đụng nhau, hai đầu bàn chân tẽ chênh chếch đúng 45°. Tôi nghĩ, có lẽ do thói quen nhiều hơn sự sợ sệt của một người bại trận đứng trước một người thuộc phe thắng trận !

– Tốt, các anh theo tôi.

Anh Bảy đi đầu, theo sát tên bộ đội, chúng tôi bước sau, không ai cất tiếng.

Từ chỗ tập họp đi vào doanh trại, nơi chúng tôi sẽ phải học tập cải tạo, cũng khá xa. Con đường đất đỏ còn ướt sũng nước mưa đêm hôm trước, gây trở ngại cho sự di chuyển. Từng mảng bùn đỏ, quánh đặc dính vào dép như một lớp keo dầy, không cách nào làm nó lìa khỏi đế. Nó dính cứng, mỗi bước mỗi dầy thêm, càng lúc càng nặng nề, mệt mỏi ! Tôi đang loay hoay chùi dép vào rìa cỏ cho ra bớt đất, có bóng người qua mặt. Tôi ngước nhìn. Một anh cao lớn, vai mang túi đeo lưng khá to, mặc chiếc áo xám ô vuông, quần dacron mầu nâu, chân đi “bốt-đờ-sô” hùng hục bước, coi thường bùn đất. Tôi nghĩ, anh này có lý. Chắc trước khi đi, anh đã được một tên Việt Cộng quen thuộc nào đó nói cho biết, cần mang theo những gì khi đi học tập cải tạo ! Tôi biết, anh tên Dinh, người miền Trung, Trung đoàn Trưởng, Trung đoàn X thuộc Sư đoàn III.

Vừa vào qua chiếc cổng làm bằng những cây trụ Ấp Chiến Lược, một bên cánh đã hư, sà xuống gần sát mặt đất, cong queo, như bị sự va chạm nặng nề, có thể do chiếc GMC hay chiếc M113 đụng phải. Ngay bên cạnh đấy, một đống rác to, cao hơn đầu người. Trong đống rác có đủ thứ nhơ nhớp, xen kẽ vào đấy, nào giấy đánh máy, giấy in Ronéo, các văn kiện quân sự bị xé nát, lon bia, lon đồ hộp, chân bàn ghế gẫy, nồi niêu, soong chảo bẹp rúm, chiếu rách và những tấm nylon tả tơi cùng giầy, dép cũ. Có một chiếc giầy trẻ con màu đỏ nằm giữa lối đi. Tôi toan cúi xuống nhặt, người đi trước đã vô tình dẫm lên làm nó chìm xuống măt bùn. Có một cái gì tang thuơng buồn bã đang khỏa lấp cảnh tượng nơi đây làm lòng tôi se lại. Tôi cảm thấy ngay từ giờ phút này, cuộc sống của mọi người bắt buộc phải chuyển hướng, dù tốt, dù xấu !

Chúng tôi di chuyển qua 2 căn nhà rồi quẹo sang bên phải. Tên bộ đội dừng lại trước một căn, bốn phía quây bằng lưới ngăn ruồi, không có tường, có cửa sổ gì hết. Phía trước có chiếc mái hắt nhô ra, được chống bằng 2 chiếc cột gỗ bắt chéo. Lối kiến trúc này tôi thường thấy nơi các Câu Lạc Bộ thuộc doanh trại quân đội. Quay mặt ra ngoài, tôi đảo mắt nhìn. Toàn khu khá lớn, rất nhiều căn nhà làm sẵn, lợp tôn. Một người ghé vào tai tôi nói nhỏ:

– Căn cứ của Trung Đoàn 48.

Tên bộ đội đi vào, anh Bẩy theo sau. Từ chỗ đứng, tôi nghe tiếng nói:

– Đây, chỗ ở của các anh ! Từ phút này, tôi quản “ný” các anh. Các anh phải tuyệt đối phục tùng “nệnh” của tôi. Mai đây, tôi sẽ sinh hoạt để nói với các anh những gì các anh phải “nàm”. Còn vấn đề xưng hô, các anh muốn nói gì với tôi, phải dùng danh từ: “cán bộ”. Còn tôi gọi các anh bằng “anh”, không phân biệt tuổi tác ! Các anh không được xưng hô với nhau qua cấp bậc cũ, không được nói tiếng nước ngoài. Đó, tôi nói để các anh hiểu sơ qua.

Hắn nói ngọng, giọng nói một trăm phần trăm nông dân miền Bắc. Hắn đi ra, hai tay khoanh sau lung, quần áo xốc xếch như mọi tên bộ đội khác. Đôi dép lốp không được mang quai tử tế mà xỏ như xỏ guốc. Hai chiếc quai sau bị đè bẹp dưới gót chân. Hắn không nhìn ai, đi thẳng ra ngoài, hướng về dãy nhà khang trang hơn ở bên kia con đường đá.

Mọi người đi vào. Tôi sững mắt nhìn căn nhà. Nền đất dơ dáy, rác rưởi mỗi nơi một đống. Đó đây vài vũng nước đục ngầu, đỏ quạch, nhơ nhớp vì mưa tạt. Những tấm lưới ngăn ruồi dính bụi lâu ngày trông giống màu sắt rỉ, vài chỗ rách nát, tả tơi ! Tất cả, tuy không ai nói lời nào, nhưng nhìn qua nét mặt, đều có thể đoán được phần nào ý nghĩ của nhau trước thực tế này.

Anh Bẩy nói với tư cách B. Trưởng.

– Chỗ ở của tụi mình đây. Bây giờ chúng ta hãy làm vệ sinh cho sạch sẽ, rồi chia nhau chỗ nằm.

– Chổi đâu ? – Một tiếng hỏi như gắt.

Anh Bẩy nhỏ nhẹ.

– Mấy anh tự tìm lấy. Tôi cũng như mấy anh biết gì đâu mà hỏi !

– Anh là B. Trưởng mà !

Nghe câu đó, anh Bẩy không giữ được bình tĩnh:

– B cái con mẹ gì ? Tôi yêu cầu 3 anh Tổ Trưởng phân công cho anh em làm vệ sinh. Nếu không, tôi sẽ…

Anh chưa nói hết câu nhưng mọi người đều nhận biết đó là lời đe dọa ! Một tiếng nói vọng ra từ góc nhà.

-Đù mẹ, chưa chi đã phách lối !

Tất cả đồ hành trang được xếp vào một góc. Mọi người túa đi tìm chổi. Tôi đi lang thang nhìn ngó khắp mọị chỗ xung quanh nhà, nhưng không tìm đâu ra cây chổi hoặc một vật dụng nào có thể thay thế. Nhiếu nguời đi mãi xa. Tìm chổi không được, tôi đến bên cây chuối mọc sát bờ rào, bứt lá chuối khô buộc lại, bên ngoài bọc lớp bẹ tươi cho cứng. Từ xa, nhiều người trở về, mỗi người cầm trong tay một cành lá.

Chúng tôi quét loạn xạ, bùn đất văng tứ tung. Những bãi rác được bốc bằng tay quăng sát bờ rào kẽm gai. Các vũng nước được lùa qua kẽ hở, đùn ra ngoài.

Sau chừng một tiếng đồng hồ làm vệ sinh, căn nhà tương đối sạch sẽ, nhưng nền nhà ngâm nước mưa lâu ngày không cách nào khô mau được !

– Vấn đề giường chiếu sao, anh Bẩy ?

– Có chi nằm nấy. Ai có nylon trải ra. Tổ 1, Tổ 2 nằm phía tay mặt, Tổ 3 phía trái.

Căn nhà bỗng nhiên nhộn nhịp vì tranh giành chỗ nằm tốt. Một vài tấm nylon được trải ngay trên nền đất ướt. Tôi không mang theo gì, vì nghĩ 1 tháng chẳng bao lâu, bây giờ đối diện trước thực tế, chẳng biết xử trí ra sao ? Sau cùng, tôi lại ra cây chuối, dùng con dao nhỏ, cắt mấy tàu lá mang về trải chỗ nằm.

Có lẽ, sau cuộc hành trình vất vả, vài người đã ngủ vùi. Trên mặt tấm nylon rộng vừa đủ 2 chỗ nằm, mấy người chụm đầu nói chuyện thì thầm. Tôi đoán, họ nói không ngoài vấn đề thực tế đã mặc khải cho họ những gì sai với ước tính, trước khi ra đi.

– Anh B. Trưởng đâu ? – Tên bộ đội đứng ở cửa, hỏi vọng vào…

– Dạ, tôi đây, cán bộ !

– Trong các anh, có ai biết nấu cơm không ?

Anh Bẩy quay mặt hỏi anh em.

– Có tôi ! – Một cánh tay giơ lên cao.

– Một mình anh đâu được, nấu cho cả C [C= Đại Đội] chứ đâu cho riêng B. Phải 1 Tổ. – Tên bộ đội nhìn chúng tôi như tìm hiểu.

– Tổ nào xung phong ? – Anh Bẩy nhìn các Tổ Trưởng. – Tổ 1 được không ?

– Dạ, chưa quen.

– Tổ 2 được không ?

– Được ! – Tiếng nói thật dứt khoát, làm mọi người tin tưởng.

– Đi theo tôi ! – Tên bộ đội quay ra cùng với 10 người thuộc Tổ 2.

Anh Bẩy nói khẽ với những người còn lại:

– Cán bộ quản giáo đó. Chúng mình sẽ thuộc quyền anh ta trong suốt thời gian học tập tại đây !

Cứ vô tư nhận xét, tên bộ đội tuy quê mùa, nói ngọng, nhưng trông bề ngoài không đến nổi ác độc. Tôi nằm dài trên những tàu lá chuối, hơi nước chuyền lên làm sống lưng lạnh giá như nằm trên vũng nước. Bụng đói meo vì thức suốt sáng, tới giờ này chưa được miếng nào vô bụng !

Tôi nhắm mắt, hồi tưởng những gì đã xẩy ra trong 2 ngày qua, khi vừa đặt chân đến Trường Trung Học Kỹ Thuật Don Bosco, để đăng ký học tập cải tạo theo Thông Cáo của Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Hồ Chí Minh. Sau khi làm thủ tục xong, biết mình thuộc B-30, tôi được hướng dẫn lên lầu cùng vài người khác. Đây là căn buồng nội trú cửa học sinh, những dẫy giường ngang dọc kê san sát, chỉ chừa lối đi nhỏ. Một tên bộ đội đeo quân hàm Thiếu úy, cho lệnh chúng tôi làm tờ khai lý lịch và thu tiền ăn một tháng 12,600$. Theo Thông Cáo đăng tải trên tờ Nhân Dân, và tờ Sàigòn Giải Phóng, vần đề ăn uống do nhà hàng Đồng Khánh phụ trách. Anh em ai cũng yên tâm và tin tưởng về cách đối xử “mã thượng” của Cách Mạng, không đánh người ngã ngựa ! Đi học tập cải tạo, được như vậy, nhất rồi ! Sau khi thâu tiền và lý lịch, tên Thiếu úy cho tay chỉ vào mặt chúng tôi dõng dạc nói:

– Mấy anh đáng tội chết ! Các anh đã tiếp tay với Mỹ-Ngụy để phản “nại” Cách Mạng, nhưng Đảng và Nhà Nước khoan hồng, tha tội chết cho mấy anh đó, biết không?

Hắn quắc mắt nhìn như muốn ăn tươi, nuốt sống. Chúng tôi cứ đứng im, không có thái độ. Tôi nghĩ, còn thái độ nào tốt hơn là giả câm, giả điếc trong trường hợp này ! Từ giờ phút đó, tôi đã nhận thức được cương vị của mình trong hoàn cảnh mới. Có tiếng nạng gỗ đập cành cạch xuống sàn gạch. Tôi quay nhìn. A, một chiến hữu cụt chân, vai đeo túi vải, đang chống nạng tiến về phía chiếc giường ngủ ở cuối buồng. Tôi sững sờ, vì anh cùng đến với tôi một lượt. Tên Việt Cộng ghi danh đã từ chối nhận anh, hắn nói:

– Thôi cho anh về, chờ khóa sau. Anh tàn tật như vậy, chúng tôi sẽ cấp giấy chứng nhận được hoãn.

– Dạ, xin cho tôi được đăng ký học khóa này. Trước sau cũng phải học. Một Iần cho xong, để yên tâm làm ăn!

Anh cố nài nỉ, trong khi tôi lên lầu nên không hiểu sự việc được diễn tiến ra sao ? Nay nhìn thấy anh, như nhìn thấy một quyết tâm, thiện chí trong vấn đề học tập cải tạo !

Bữa cơm chiều, quả thực chúng tôi có được ăn những món do nhà hàng Đồng Khánh nấu. Tên đầu bếp nói tiếng Tàu, các cô chiêu đãi cũng mặc áo trắng có thêu chữ Đồng Khánh Tửu Lầu trên ngực. Nhưng đó chỉ là bữa ăn rất tầm thuởng, rất bình dân, số lượng lại ít, ăn chẳng đủ no, không tương xứng với số tiền chúng tôi bỏ ra. Hơn nữa, có người đến muộn chỉ ăn một bữa, vẫn phải đóng đủ số tiền ấn định ! Ai nấy nhìn nhau thất vọng ! Một vài tiếng chửi vọng từ xó kín nào đó. Tôi cố tìm nhưng không ra !

Buổi tối qua, sau bữa cơm chiều còn đói, chúng tôi được lệnh chuẩn bị di chuyển. Chiếc sân trường Don Bosco rộng thế, chật cứng người, toàn Trung Tá ! Tất cả hàng đèn phía trước ngôi trường được bật sáng, những chiếc Molotova cao lênh khênh phủ bạt kín mít đậu nối đuôi nhau. Những tên bộ đội vai đeo AK, đi lại tấp nập. Không khí ngôi trường như có sự gì quan trọng sắp xảy ra. Chiếc loa phóng thanh kêu những số xe theo thứ tự và nhắc những người đi học tập cải tạo chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh.

Vấn đề chuyển vận trên 1,500 con người không phải chuyện dễ dàng, do đó không thể tránh được lộn xộn, khi sắp xếp. Những chiếc đèn pin, đèn bão được xử dụng tối đa vì chiếc sân quá rộng lại thiếu ánh sáng. Từng B một, lần lượt lên xe theo tiếng loa gọi. Mỗi xe 30 người gồm cả hành trang, nên lòng xe chật cứng, dù Molotova là loại vận tải của Nga khá lớn, lại thêm 2 tên bộ đội áp tải nên càng chật. Chúng tôi lần lượt leo lên, chiếc bạt phủ kín làm nghẹt thở. Mọi người đều cố tìm cách thò đầu ra một kẽ hở nào đó để tìm chút không khí. Chúng tôi mong xe chạy càng sớm càng tốt để có gió lùa vào. Nhưng nó cứ đứng ì một chỗ, thỉnh thoảng có chuyển bánh nhưng chỉ xích qua, xích lại để dồn xe. Mồ hôi vã ra như tắm. Tôi không dám hút thuốc dù cơn thèm đã lên đến cao độ.

Bỗng có nhiều tiếng máy nổ cùng một lượt. Tôi đoán, sắp đến giờ khởi hành. Khi chiếc xe chở chúng tôi vừa lăn bánh, một tên bộ đội lách mình ở phía trước nơi gần ca-bin, trèo vô, nòng súng chạm vào thành xe nghe sắc lạnh. Vì vội vàng và trong tối, hắn đạp cả dép lên đầu, lên cổ những người ngồi phía đó. Tiếng la oai oái chìm lấp vào tiếng máy. Từ phía sau, tên bộ đội khác cũng trèo lên, tương đối không làm phiền ai. Hắn thò đầu ra khe bạt, tay ôm chặt khẩu AK. Tôi ghé mắt nhòm qua kẽ hở. Đoàn xe nối đuôi nhau ra khỏi cổng. Giờ này chắc đã khuya. Tôi nhìn đồng hồ tay, nhưng chẳng thấy gì vì kim không có dạ quang. Các cửa nhà đều đóng kín. Từ trên chiếc ban-công, 2 cô gái xoả tóc nhìn xuống. Hình như các cô vừa qua giấc ngủ ngắn. Đoàn xe dừng lại ở ven phố. Mấy tên bộ đội chiếu đèn pin kiểm soát. Chiếc bạt được vén lên, ánh đèn rọi vào lòng xe quét một vòng, rồi cánh bạt lại hạ nhanh xuống. Có tiếng hỏi vọng lên:

– Các đồng chí hiểu rõ tiêu lệnh rồi chứ ?

– Hiểu ! – Tên bộ đội áp tải ngồi phía sau, trả lời ráo hoảnh.

Hơi nóng từ đầu xe hắt lại càng làm cho nóng nực, khó thở. Có tiếng ho sặc sụa nổi lên. Vì nhờ ngồi sát tấm bạt, nên tôi có thể dí sát mũi vào kẽ hở để thở, nhưng đôi chân tê bại vì không có chỗ nhúc nhích. Nếu tình trạng này kéo dài, thế nào cũng có người xỉu. Một hồi còi rúc vang. Đoàn xe rồ máy, lăn bánh. Hơi gió lùa qua các khe hở xua bớt không khí ngột ngạt ra ngoài. Tôi nhìn lên chiếc ban công lần cuối. Hai cô gái vẫn đứng đó. Dòng tóc lẫn vào bóng đêm dầy đặc. Xe đến ngã tư, tôi nhìn thấp thoáng ánh đèn của tiệm hủ tiú và quán cà-phê cùng mấy người đang ăn uống. Tất cả đều thuộc giới lao động. Đó, những hình ảnh cuối cùng, tôi ghi nhận được trước khi đi vào cánh cửa thứ nhất của Địa Ngục.

Xe chạy bon bon trên con đường êm và rộng thênh thang. Mọi người đều biết đó là xa lộ. Một tiếng nói nhỏ trôi vào tai tôi.

– Căn cứ Long Bình. Tụi mình sẽ học tập ở đây !

Tiếng nói có vẻ khẳng định. Đoàn xe chạy chừng 2 tiếng rồi quẹo vô căn cứ Long Bình thật. Tôi thán phục anh bạn nào vừa xác định địa điểm học tập một cách chính xác như vậy ! Căn cứ Long Bình, tôi biết, nó là một trong những căn cứ lớn của Quân đội Mỹ tại miền Nam. Tất cả phòng ốc đều có hệ thống điều hòa không khí. Biết bao nhiêu thiết bị quan trọng cung cấp cho nhu cầu chiến tranh đều xuất xứ tại đây. Người ta không thể đi bộ trong căn cứ, mà phải dùng xe gắn máy hoặc xe hơi. Chỉ có địa điểm này, may ra mới đủ chỗ chứa nổi một số lượng lớn lao các sĩ quan Quân Lực V.N.C.H đi học tập cải tạo. Tôi thầm khen những người lãnh đạo Cách Mạng đã sáng suốt khi quyết định chọn lựa địa điểm này.

Nhưng không, đoàn xe chỉ dừng lại chừng nửa tiếng, lại rồ máy vòng qua ngả khác và cứ thế, tiếng máy đều đều chạy tới mờ sáng mới dừng lại.

Một người nói:

– Căn cứ này của Trung đoàn Thiết kỵ Hoa Kỳ.

– Không phải, đây doanh trại của Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn D, không có thiết kỵ nào ráo trọi, chỉ có tụi cố vấn Mỹ ở căn nhà đằng xa kia kìa. Có một thời gian tôi giữ chức vụ Tiểu đoàn Trưởng ở đây mà! Đây, thuốc vùng Long Giao. Buồn bỏ cha, toàn đồi cao su! Tôi hành quân, mòn cả ”bốt- đờ-sô”, không biết sao?

Tiếng nói qua lại, tranh đua về sự hiểu biết vùng đất, vẫn chưa ngã ngũ, bỗng có tiếng gọi :

– B-30 lãnh cơm. Yêu cầu mỗi Tổ cử người đi lãnh.

Mọi người nhổm dậy như có chiếc đũa thần gõ vào sợi dây thần kinh nhạy bén nhất. Các loại ca, lon, muỗng được cầm sẵn trong tay. Những người có nhiệm vụ trực cơm, nhốn nháo tìm vật dụng đựng cơm, canh.

– Tại sao không xuống hầm đạn lấy vài thùng T5 mà dùng.

– Ý kiến hay !

Hai, ba bóng người lao nhanh về phía sát bờ rào, nơi có gò đất cao, cỏ phủ dầy.

Một lát sau, những chiếc thùng gỗ mới toanh, đựng đạn đại bác 75 ly không giật, được mang lên khỏi hầm cùng những thùng sắt đựng đạn đại liên 30.

Bữa cơm thứ nhất trong đời sống cải tạo không ngon lành gì. Cơm vừa khê, vừa nát lại sống ! Canh thì lỏng bỏng toàn nước, váng mỡ, vài sợi mì ăn liền chìm tuốt dưới đáy, hôi mùi dầu mỡ thùng đạn. Tuy đói, mọi người không ai nuốt nổi, qua 2 lần bới. Tiếng chê trách ồn ào. Tổ Trưởng Tổ 2 phân trần:

– Anh em tính coi, có bao giờ mình nấu cơm bằng chảo đâu, chiếc chảo to bằng nửa chiếc chiếu, cho 180 người ăn. Củi lại ướt, khói mù mịt, mắt ai cũng đỏ ngầu như vừa khóc xong, lấy đâu mà ngon ! Chiều nay, rút kinh nghiệm, may ra khá hơn ! Củi đang phơi kia kìa !

Vừa nói, anh vừa cho tay chỉ về phía trước. Những khúc cây to bằng bắp chân, bắp tay nằm ngổn ngang, màu thâm xịt vì ngâm nước lâu ngày. Sau khi ăn xong, anh em mới chợt nghĩ đến vấn đề nuớc. Nhiều tiếng hỏi nhao nhao:

– Nước lấy ở đâu ? Đựng bằng cái gì ?

– Đù mẹ, giếng xa và sâu quá. Cả khu, mấy ngàn con người, chỉ có một cái giếng cạn, tuy lúc này đang mùa mưa ! Muốn lấy nước phải đi 2 người. Một đeo dây vào vai, chạy thật nhanh để kéo thùng nước từ dưới sâu hơn 10 thước lên, nơi miệng giếng có giắt một chiếc “pu-li” lớn, còn người kia đón bắt thùng, đổ vào đồ chứa. Cực ghê vậy đó ! Người chờ đông như kiến, biết bao giờ tới lượt mình ?

Tôi nghe phát nóng lạnh. Vì ngại đi lấy nước, tôi đến bên một vũng nước mưa, vừa rửa gà-mèn, muỗng, vừa rửa mặt luôn. Tôi bắt đầu làm quen với sự mất vệ sinh !

Tôi vào nhà, ngồi trên những tàu lá chuối, lúc này đã héo, quăn lại, để hở những mảng nền còn ướt bùn. Cầm điếu, nhồi thuốc, tôi kéo một hơi thuốc lào. Khói thuốc sau bữa cơm thật khoái cảm. Nó làm tan đi những dư vị của thức ăn không mấy ngon lành.

Buổi trưa trời nắng gắt. Từ trong nhìn ra, ánh nắng như một khối lụa khổng lồ táp xuống cảnh vật. Căn nhà tôi ở, tuy bốn bề là lưới, nhưng vẫn nóng vì hơi từ mái tôn phả xuống hừng hực. Cây cối im phăng phắc. Trời cao và xanh, nhưng phía chân trời có nhiều cụm mây xám đùn lên. Có thể, chiều nay sẽ mưa. Chưa bao giờ tôi mong mưa như buổi nay. Nếu có mưa, tôi sẽ không phải đi guồng nước, lại có nước tắm giặt thoải mái. Bộ quần áo mặc mấy bữa nay đã dơ dáy. Mùi mồ hôi xông lên khó chịu. Nhưng lúc nay trời đang nắng, nên hy vọng của tôi, có thể trở thành ảo vọng !

Tôi đi ra phía ngoài cho thoáng. Vài người dễ ngủ đã ngáy ngon lành, như giấc ngủ bình yên dưới mái gia đình. Họ thực sung sướng. Tôi cởi áo, phanh ngực cho mát, đảo mắt nhìn một vòng. Doanh trại khá lớn, nhưng có vẻ hoang tàn. Căn cứ này có lẽ, từ lâu không được xử dụng, nếu có, cũng chỉ được xử dụng một phần nào đó. Những đám cỏ gianh cao gần bằng đầu người mọc tràn lan, chỗ nào cũng có. Đó đây, vài căn nhà đổ nát, tiêu điều. Ngay trước mặt, trên bờ rào kẽm gai, dây leo mọc chằng chịt. Sau hàng rào, có con đường trải đá khá bằng phẳng. Một căn nhà ngói nằm phía bên kia đường, thấp thoáng bóng những chiếc áo xanh. Tôi đoán đó là nơi của tụi quản giáo. Thỉnh thoảng, tên lính liên lạc cưỡi xe đạp tay cầm ghi-đông, tay cầm xấp giấy ra vào.

Từ chỗ chúng tôi ở, muốn sang đó, phải đi ngược lên mấy chục thước, qua vọng gác có lính canh. Xung quanh khu vực, toàn kẽm gai, không phải do Việt Cộng mới làm để nhốt những người học tập cải tạo, mà đã có từ trước, đề phòng sự tấn công của quân Cộng Sản khi chiến tranh còn tiếp diễn.

Đang suy nghĩ viễn vông, bỗng có bàn tay đặt nhẹ lên vai, tôi quay lại. Lâm cười bải lải:

-Ông mơ mộng gì đấy !

– Nóng quá, ở trong nhà chịu không nổi, ra đây hóng gió, chứ mơ mộng mẹ gì !

Lâm nói giọng buồn:

– Rồi mai đây, chả biết số phận tụi mình ra sao nhỉ ?

Lâm, người bạn mới quen ở Don Bosco, cũng như Huy, như Mậu, như Phát, như Định và những người khác cùng B. Hắn là Bác sĩ Quân Y, một trí thức. B-30 gồm nhiều thành phần, ở nhiều đơn vị khác biệt, chỉ mới biết nhau một, hai bữa nay. Nhưng vì cùng chung cảnh ngộ, nên dễ thân. Lâm còn trẻ, mới trên dưói 40, đã mang cấp Trung Tá, vì có một thời gian dài, phục vụ ở đơn vị tác chiến, luôn luôn hiện diện sát mặt trận.

– Sáng nay, ông suýt ăn đạn AK nhé !

– Nó dọa vậy thôi, chứ dám bắn !

– Ai nói với ông như vậy ? Ông thử chạy vài bước xem !.

Lâm cười, đầu gục gặc :

– Này ông, đứng đây cũng vậy, mình đi một vòng xem sao!

Tôi đồng ý. Lâm vào nhà lấy 2 chiếc mũ vải, chụp lên đầu tôi một chiếc.

Chúng tôi đi dưới ánh nắng gay gắt. Tôi nhìn từ xa thấp thoáng có những chiếc áo mầu. Ngạc nhiên, tôi hỏi Lâm, sao có sự tình như vậy ? Lâm nhìn, có vẻ nghi ngờ về sự hiểu biết của tôi.

– Thế ông không biết tí gì à? Đó, các vị sĩ quan cao cấp Nữ Quân Nhân đấy !

– A, nhi nữ cũng phong trần, lại coi chút !

Tôi kéo tay Lâm đi nhanh về phía những chiếc áo mầu. Trong căn nhà, tương đối kín đáo sạch sẽ, chừng mấy chục đàn bà, kẻ đứng, kẻ nằm, kẻ ngồi trên những tấm nylon mầu, mặt mày buồn xo. Vài người, không chịu nổi sự nóng bức, nên đứng mé ngoài hóng gió. Tôi chợt nghĩ đến những gì, họ sẽ phải gánh chịu, nếu cuộc sông này kéo dài. Một cô gật đầu chào tôi với nụ cười buồn vì trước có quen biết. Các khuôn mặt hiện diện giữa không gian này, không trang điểm phấn son, nên sắc đẹp phần nào giảm sút. Ai cũng có vẻ gầy đi, chắc lo âu làm hao mòn thể xác ! Lâm huých nhẹ khuỷu tay vào sườn tôi, khẽ hỏi:

– Ai đấy ?

– Cô Thúy, Trung Tá chức sắc của ngành Nữ Quân Nhân đấy, đàn em bà Đại Tá Hương. Cô có mặt trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày đầu, trong ngành Nữ Trợ Tá (PAF).

Vừa đi, tôi vừa suy nghĩ vơ vẩn, không hiểu bằng cách nào, họ kéo nước, nơi nào họ làm công việc vệ sinh thường nhật ? Đàn ông dễ rồi, chỗ nào cũng được, còn họ, quả thực, một vấn đề khó khăn ! Bỗng tôi nghe có tiếng gọi:

– Ê, bồ vô chơi !

Tôi ngoảnh nhìn. Một người cởi trần, khăn tắm vắt vai, chiếc quần xà-lỏn bó sát hông ! A, Nghiêm. Tôi rẽ ngang, giơ tay nắm chặt tay Nghiêm – Đại tá Dù, khi Việt Cộng đánh vào Saigon Tết Mậu Thần (1968) đã cho tôi chiếc áo giáp, mà dạo ấy, chỉ riêng binh chủng Dù mới có.

– Nóng bỏ cha, muốn đi tắm, ra đến nơi, đông quá, đành quay về chờ vậy !

Nghiêm định kéo vô nhà, nhưng tôi từ chối với lý do đang đi với Lâm. Tôi liếc nhìn vô trong. Những thân xác nằm ngổn ngang trên nền đất, ai cũng mặc quần xà-lỏn hoặc xì-líp, trông như đàn heo mới cạo lông !

Chúng tôi đi loanh quanh. Mấy trăm Đại tá, chia nhau vài căn nhà, ngay phía trên căn nhà của nữ quân nhân. Các vị nữ quân nhân, chẳng biết làm cách nào, có thể chịu nổi cái cảnh mấy trăm người đàn ông suốt ngày mặc xì-líp, xà-lỏn đứng nhởn nhơ trước cửa:

– Ông đã biết giếng nước ở đâu chưa ?

– Chưa !

– Vậy nên coi cho biết !

Chúng tôi đi vòng qua khu đất trống, rồi băng qua dẫy nhà thấp như nhà kho. Mắt tôi bỗng bắt gặp một cảnh tượng vô cùng huyên náo. Hàng trăm người mặc quần cụt, đầu đội khăn lông, đứng phơi mình dưới nắng. Một người đang gò lưng kéo sợi giây dài, trông có vẻ vất vả.

– Thôi, thôi !

Người kéo giây đứng lại, nhưng vẫn ở cái thế kéo, cho tới lực sợi giây chùng xuống, hắn mới đứng thẳng người, thả sợi giây xuống đất. Hắn quay lại chỗ giếng nước, vừa đi vừa cho tay vuốt mồ hôi mặt.

-Lẹ lẹ mày, còn tắm chứ !

– Mệt bỏ cha, cho thở chút chứ !

Tuy nói vậy, nhưng hắn cũng rảo bước đến nơi có tiếng gọi. Hắn cúi xuống cùng khênh với người bạn một thùng đạn 12.7 đầy nước !

Họ khiêng ra, không xa giếng bao nhiêu, rồi thản nhiên cởi quần ra tắm. Từng lon nước tưới lên thân xác họ, những thân xác xù xì lông lá, như muốn rửa sạch hết bụi bậm đường dài và bực bội !

Vì tò mò, tôi đến bên giếng dòm xuống. Nhưng tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài chiếc miệng giếng lở lói, sâu hoắm, đen ngòm như vực thẳm !…

– Xô gì dữ vậy Bố? Té xuống là chết đấy !

Ai nói gì cứ nói, tôi cứ đứng trơ trơ như pho tượng !

Bữa cơm chiều cũng chẳng ra gì. Tuy không khê, không sống nhưng nhảo nhoẹt như cháo đặc. Vẫn món canh mì y hệt buổi sáng. Tôi nuốt từng miếng uể oải cho xong bữa. Gió thổi ào ạt, hàng cây phía xa vật vả. Tôi nhìn lên vòm cao. Mặt trời đã khuất sau đám mây đen kịt. Mầu đen cứ tan dần, loang thành một vùng rộng. Tôi chờ đón cơn mưa. Màn nước trải rộng ngang tầm nhìn, những lằn chớp chạy loằng ngoằng theo sau. Tiếng sấm nổ ầm ĩ. Tôi rủ Lâm sẵn sàng tắm rửa và giặt giũ. Huy có mặt gần đấy, ngước nhìn vòm trời :

– Hỏng rồi, các ông ơi ! Tôi đoan chắc không mưa tới đây, vì mây mỏng lắm ! Mình ở cuối cơn, mưa sao nổi ?

Huy đã nói đúng. Mây đen tan dần. Trời sáng lại. Nơi chúng tôi đang ở chỉ lắc rắc vài hột mong manh.

– Thôi, ở bẩn sống lâu ! – Lâm vừa nói vừa cười.

– Bác sĩ, ăn nói như vậy đó ! – Tôi nhìn Lâm với con mắt diễu cợt.

Ngay dưới mái hiên, có sẵn chiếc ghế gỗ dài, tôi đề nghị nên mang ra ngoài ngồi cho mát, có thể nhìn thấy cảnh vật xung quanh. Huy và Lâm khiêng ghế đặt ngay giữa sân. Chúng tôi ngồi nói chuyện và ước đoán cái gì sẽ xẩy đến trong những ngày sắp tới.

– Sao ? Sau nhiều sự kiện vừa xẩy ra, trong mấy chục tiếng đồng hồ, các bạn nghĩ gì ? có hy vọng một tháng sẽ về không ? – Tôi hỏi ngu ngơ !

Huy, con người đã làm ông Quận, dưới trào Đệ Nhất Cộng Hoà, trầm ngâm.

– Tôi thấy ngài ngại làm sao ấy. Nếu họ giữ đúng lời hứa theo Thông Cáo, thì cách đối xử của họ đối với bọn mình phải khác, chứ đâu đến nổi, họ canh giữ gắt gao như vầy ? Ông Lâm vừa nhẩy xuống xe đi đái, nó đã định bóp cò ! Tên Thiếu úy Việt Cộng ở Don Bosco sỉ nhục tụi mình thẳng thừng. Còn những tên khác, nhìn mình với con mắt đầy thù hận ! Như vậy, tôi cảm thấy khó tin quá!

Lâm nhổm cao đầu :

– Riêng tôi, tin chính sách của Cách Mạng là đứng đắn. Còn vấn đề thi hành có sai lệch, do cấp dưới. Chúng ta đã buông súng, đầu hàng vì không muốn cảnh huynh đệ tương tàn tiếp diễn quá lâu. Cách Mạng cũng chủ trương như vậy. Các ông đã đọc Thông Cáo 10 điểm chưa ?

Tôi nhìn Lâm rồi nhìn Huy như dò xét. Luôn luôn tôi nghĩ Cộng Sản là bọn chuyên dùng mưu lược và coi sự dối trá như một thứ vũ khí nhiệm mầu để thắng địch, nên trả lời:

– Tôi không đọc, vì nghĩ rằng, tất cả đều thuộc về tuyên truyền. Thực chất của vấn đề không nằm trong những dòng chữ. Sự ra về, chắc không dễ đâu, nhưng sự tình ra sao một phần cũng tùy thuộc vào thái độ của chúng ta trong những ngày săp tới !

Ba chúng tôi thì thào trao đổi, mổ xẻ ý kiến của nhau, nhưng không ai đưa ra được kết luận nào hợp lý, có thể tạo được niềm tin để yên lòng, dù tốt dù xấu !

Trời đã tối. Chúng tôi không còn nhìn rõ mặt, chỉ nghe tiếng nói. Toàn thể khu vục tối om. Không căn nhà nào có ánh đèn, trừ căn nhà của tụi quản giáo, bên kia con đường, le lói ánh đèn dầu. Không khí trở nên hoang vu lạ thường. Do sương đêm và gió, tôi cảm thấy dễ chịu, dù đã 2 ngày chưa tắm giặt.

Từ trong nhà, có bóng người bước ra, đi thẳng đến chỗ chúng tôi ngồi. Tiếng cười hì hì:

– Ủa, mấy cha ngồi chi lâu dữ vậy ? Nói chuyện gì thế, cho góp được không ?

– Mậu hé!

– Còn ai nữa ? Nằm trong nhà hôi mùi đất quá, chịu không nổi. Muốn ngủ cũng không được, nên ra đây góp chuyện cho vui.

Mậu (Thiết đoàn Trưởng) người nằm kế tôi. Hắn cũng không mang theo gì cả, dùng lá chuối thay chiếu.

– Ngồi xuống cha, chờ gì nữa !

Ba đứa tôi, mỗi người xích một chút lấy chỗ cho Mậu ngồi. Vừa đặt người xuống ghế, Mậu nói :

– Chán ghê, chán ghê, biết thế này đếch bỏ súng. Uýnh đến chết còn sướng hơn. Chỉ tại tụi Mỹ hết !

– Nè, khe khẽ cái miệng chứ, chết oan bây giờ !

– Các ông nghĩ coi, mấy chục chiếc tăng chưa hết xăng, hết đạn mà đành bỏ chạy, thế có tức không ? Những giờ phút cuối, chúng tôi đang yểm trợ cho Dù ở Xuân Lộc, nghe Dương văn Minh cho lệnh đầu hàng qua radio. Chán ghê, chán ghê !

Mậu cũng thuộc loại sĩ quan tuổi trẻ, cấp cao ! Với bản tính nóng nẩy, thẳng thắn của người miền Nam, khi hứng lên, nói bất cần đời.

– Sau khi đầu hàng, ông dùng phương tiện nào để trốn thoát về Saigon mà không bị Việt Cộng tóm ?

– Thay đồ ”si-din” chạy trối chết, sau cùng đi Molotova về Saigon.

– Bằng cách nào, ông lên Molotova được ? – Lâm hỏi.

– Mình cứ đứng ngơ ngơ ở xa lộ, thấy xe tụi nó, giơ tay ngoắc, tụi nó tưởng mình là dân, cho đi nhờ, dễ ẹc ! – Nói xong, Mậu cười hí hí!

Tôi nhìn ra xa, thật xa, qua vùng tối tăm, thấy một khoảng ánh sáng thật rộng tỏa lên nền trời. Tôi đoán, đó là thành phố Biên Hòa. Trong lòng tôi chợt quặn đau, nghĩ đến gia đình. Giờ này dưới vòm trời Saigon chan hòa ánh sáng, vợ con tôi đang làm gì và có ngờ rằng tôi phải ngồi đây, giữa bóng tối, trong một khung cảnh không mấy khích lệ, và thời gian 1 tháng, có phải là thời gian quá lâu, đối với đợi chờ ?

Chúng tôi đi vô nhà vì đã thấm mệt. Giữa bóng tối, tôi lần mò trong túi vải, lôi chiếc áo mưa trải lên những tàu chuối, và tấm vải mỏng làm mền đắp.

Tuy mệt, vẫn không ngủ đựợc. Hơi lạnh thấm qua áo mưa, chiếc áo đã cũ, đôi chỗ mất lớp cao su, không còn đủ khả năng ngăn hơi ẩm. Đàn muỗi vo ve bên tai như thổi sáo. Mùi đất xông lên hôi hám làm khó thở ! Biết không thế nào lười được, tôi ngồi dậy mở túi, lôi chiếc mùng nhà binh ra. Tôi mò mò buộc đại vô giây mùng của Mậu và Phát (Trung tá Hải Quân), nằm kế 2 bên. Tôi vùi đầu vào tấm vải, xoay qua trở lại một lúc, thiếp đi lúc nào không hay.

Một hồi kẻng khua vang. Tôi bừng mắt, toàn thân đau nhừ, mệt mỏi. Chẳng biết giấc mộng nào đến với tôi đêm qua, đêm thứ nhất trong đời một người sống ở Trại Cải Tạo. Tôi không nhớ gì hết. Tôi cuốn mùng, xếp đồ vào túi vải. Đó đây, có tiếng rít thuốc lào. Quơ tay cầm chiếc điếu, tôi vê vê thuốc nhồi vào nõ. Tôi biết, khói thuốc đầu tiên buổi sớm, sẽ làm ngây ngất, phải nằm xuống ngay sau khi hút. Chuẩn bị chỗ nằm xong, tôi đánh lửa. Tiếng nước rít trong lòng ống tre nghe ròn rã. Khói thuốc ùa vào lồng ngục. Tôi giữ không cho khói thuốc tuôn ra quá mau. Tự nhiên đầu tôi choáng váng, tim đập mạnh, dồn dập. Tôi nằm vật xuống thở dốc, tay chân bủn rủn. Tôi đang đi vào cơn mê cảm của ảo giác, tuy ngắn ngủi, nhưng vô cùng thú vị! Con say đã tan, nhìn sang hai bên, Phát và Mậu còn ngủ vùi. Tôi đi ra ngoài. Mặt trời chưa lên. Sương mù buổi sáng giăng ngang lưng chừng đồi cao su trước mắt. Từ căn nhà, phía bên kia đường, một tên bộ đội mang súng đi ra..

– Dậy, anh em, kẻng rồi ! – Tiếng B. Trưởng.

Một giọng ngái ngủ :

– Còn sớm mà, mệt bỏ cha ! Có làm gì đâu mà dậy ?

Tuy vậy, nhưng mọi người cũng cuốn mùng, gấp mền cho vào túi hành trang. Mậu vươn vai đi lại phía tôi, nói:

– Đêm qua, sao ông mơ dữ vậy ?

– Mơ gì đâu ? – Tôi sững mắt ngó Mậu.

– Ông nói lung tung, chả đâu vào đâu. Mấy tên bộ đội đi tuần nhòm vào, chúng biết ông nói mớ, tụi nó bỏ đi !

Sự thực, tôi không biết mình mơ. Có lẽ mất ngủ liền mấy đêm, mệt quá, nên thần kinh rối loạn.

– Ông có gì ăn sáng chưa ?

Mậu hỏi. Tôi trả lời, có mấy gói mì ăn liền.

– Làm gì có nước sôi để ông ăn mì ? Ông ăn khô đại đi, cho đỡ đói.

Tôi nghĩ, chẳng còn cách nào hơn là làm theo ý Mậu.

Tôi chỉ ăn nửa gói, vì nghĩ còn nhiều buổi sáng kế tiếp, mà vợ tôi chỉ xếp có 10 gói mì phòng đói bất tử và 1kí ruốc thịt cùng mấy trăm đồng dằn túi. Đó, tất cả vốn liếng của tôi chuẩn bị cho một tháng học tập cải tạo !

Lát sau, Mậu ngồi bên tôi thủ thỉ:

– Nè ông, sáng nay, tôi với ông phải đi kiếm mấy miếng ván kê làm chỗ ngủ, chứ nằm lá không được đâu. Ông ngó mà xem, lá của ông rách nát, cong queo hết rồi, của tôi cũng vậy, nằm thế chó nào được ? Cả đêm xương sống lạnh buốt như ướp nước đá. Nếu kéo dài, sớm muộn gì cũng vô bệnh viện.

Trời vừa hừng sáng, hai đứa tôi đi ngược lên chỗ khu Đại Tá, rồi quẹo qua phía dẫy nhà thấp. Bữa qua, tôi để ý thấy có một căn không khóa cửa. Chúng tôi bước nhanh vô. Bên trong có kê chiếc giường đã gẫy một chân, nghiêng sát mặt đất. Mấy chiếc nồi nhôm bẹp rúm, vài chiếc quần áo cũ quăng rải rác trên mặt đất. Duới gầm giường có đôi guốc đứt quai. Chắc đây là căn nhà của một Hạ sĩ quan coi kho, đã bỏ đi sau ngày 30-4. Căn nhà vách ván, đôi chỗ gỗ đã mục, long đinh. Tôi cho tay giựt mạnh. Thanh gỗ bung ra, nhưng chưa rời khỏi khung cột. Mậu giúp tôi lay mạnh. Chỉ trong chốc lát, mỗi đứa đã có 3 tấm ván rộng chừng 0m25, dài chừng 2 thước. Mừng quá, chúng tôi vội vả vác lên vai toan chạy về. Bỗng có tiếng nói: ,

– Ê, mấy anh kia, ai cho phép phá nhà vạy, muốn chết phải không ?

Chúng tôi tự nhiên biến thành 2 khối đá, đứng ngay đơ.

– Bỏ xuống ngay ! – Tên bộ đội cho lệnh.

Mậu bỏ trước, tôi bỏ sau, rồi lủi nhanh sang bên hông, đi ra phía giếng nước. Tên bộ đội nhìn theo một lát, rồi cũng bỏ đi. Chúng tôi đứng nấp vào bụi cây gần giếng, chờ hắn đi khuất, quay lại căn nhà. Vì có sức hơn tôi, Mậu vác cả 6 tấm ván lên vai, còn tôi nhặt vội mấy chiếc nồi nhôm bẹp, xong chạy nhanh về phía kho đạn, nơi đó tương đối vắng người. Khi tôi bắt kịp, Mậu bảo tôi quan sát xung quanh xem có tên bộ đội nào không. Nếu không, làm hiệu, để hắn vác ván chạy về. Đi một quảng, không thấy tên bộ đội nào, ngoài anh em, tôi khoa tay lên cao làm hiệu. Với 6 tấm ván trên vai, Mậu chạy vun vút, chỉ một loáng đã về đến nơi ở.

Tôi lửng thửng xách mấy chiếc nồi bẹp dí về, thấy Mậu đang ngồi thở dốc, mồ hôi ướt đẫm khuôn mặt. Chúng tôi cứ tưởng làm được như vậy là nhất B rồi, ai ngờ, lát sau, mỗi người đều mang về vài tấm ván có phần tốt hơn của chúng tôi. Hỏi ra, mới biết ở phía cuối dẫy, có căn nhà đã hư sẵn, ai muốn lấy gì tùy ý.

Chúng tôi ngồi nghỉ một lát rồi tổ chức chỗ ngủ. Các tàu lá chuối được quăng đi. 6 tấm ván được đặt ngay hàng, giữa 3 tấm, chừa một khe hở, ngăn cách. Mậu chưa hài long, hắn lại nhào đi tìm mấy cây vuông, kê phía dưới, cho ván không ép sát mặt đất. Tôi nhìn xung quanh, chỉ còn 2 khoang chưa có ván, đó là phần của B. Trưởng và của Kiên, thuộc đơn vị 101.

Tên quản giáo từ ngoài xồng xộc đi vô trừng mắt nhìn. B. Trưởng đến chào. Tôi đứng ngoài cửa nói chuyện với vài ba anh em. Chừng l5 phút sau, tên quản giáo đi ra.

B. Trưởng mời mấy Tổ Trưởng vô hội để phổ biến lệnh của quản giáo. Sau mấy phút, tôi được biết tên quản giáo không muốn anh em phá nhà lấy ván kê chỗ ngủ. Tất cả, lấy đâu phải mang lại đấy trả. Nghe vậy, xương sống mọi người cứng đơ. Chúng tôi cùng đề nghị với B. Trưởng nói lại với cán bộ quản giáo, trình bầy về hoàn cảnh của anh em, nếu nằm đất, ngã bệnh hết, làm sao học tập ? B. Trưởng gật gù, hứa chiều nay đi hội C sẽ trình lại, nhưng phải thi hành trước đã ! Mọi người đồng tình cứ ì ra, đánh ván bài liều thứ nhất.

Những giờ phút qua đi thật nặng nề. Vấn đề cơm nước buổi nay do B khác lo, vì làm luân phiên. Bữa ăn trưa nay, khá hơn hôm qua, tuy cơm nhiều sâu mọt vì gạo giấu dưới hầm lâu ngày trong thời gian chiến tranh, nay được khai quật để nấu cho cải tạo ăn. Bữa cơm có cá ngừ và canh mì lỏng. Cơm ăn không hết, phải đào lỗ chôn. Tôi nhìn những hạt cơm trắng ngần đổ xuống hố, chợt nhớ đến lời mẹ dạy khi còn nhỏ dại quá đúng và ứng nghiệm ngay đến bản thân, trong những năm tháng dài cải tạo sau này !…

Ăn xong, Huy rủ tôi đi xuống hầm đạn lấy mấy chiếc thùng đựng nước. Nếu chậm, anh em lấy hết. Tôi nghe theo. Hầm đạn khá lớn và kiên cố. Một lớp đất cao dầy trên một thuớc, phủ trên những thanh sắt PSB, loại dùng làm sân bay dã chiến. Bên trong, xây bê tông chìm sâu. Từ trên, tôi nhìn xuống, những băng đạn vàng chóe nằm bừa bải. Những viên 57 ly cả đống, ngổn ngang. Tôi thấy ớn quá. Có mấy người coi thường nguy hiểm, đang lục lọi tìm kiếm những thứ cần dùng như vải bọc đạn, bao cát mới. Những trái mìn và lựu đạn tấn công, lăn lóc bên cạnh nhưng sợi bấc cháy chậm. Huy nhào xuống, kéo tôi theo. Chúng tôi lần đến nơi xếp những thùng đạn đại liên 30. Tôi kéo chốt, mở nắp, những viên đạn sáng ngời, trông thật đẹp. Tôi gỡ từng lớp, nhẹ nhàng để sang bên, lấy 2 chiếc, Huy lấy 4. Khi chúng tôi chuẩn bị đi lên, từ miệng hầm có người sắp đi xuống, môi ngậm thưốc lá, thở khói trắng xóa. Huy kêu to:

– Muốn chết sao? Xuống đây còn hút thuốc ?

Biết mình vô ý, anh ta quay người, không trở xuống nữa.

Từ từ, tôi bước trên đống đạn sào sạo. Tôi chợt rùng mình, nếu vì sự không may nào đó, kho dạn phát nổ, chắc chắn sẽ tan thây ! Hai tay xách 2 thùng đạn rỗng, tôi thấy yên tâm khi nghĩ đến vấn đề nước dùng hàng ngày. Chẳng hiểu sao, những viên đạn lại chập chờn trong đầu. Vì đâu mình thua trận, khi số vũ khí đạn dược còn đầy ăm ắp trong các kho chứa từ Quảng Trị tới Cà Mâu ? Với số lượng đạn được chứa đầy ắp trong căn hầm này, ít ra cũng tiêu diệt được vô số Việt Cộng ! Hơn nữa, căn cứ to lớn này, đâu phải chỉ có một hầm dạn duy nhất ? Ít ra, nó cũng phải có dăm bảy hầm như vậy. Tôi cứ loay hoay với ý nghĩ vừa ngây thơ vừa chủ quan đó, bỗng câu nói cũ kỹ của Hitler chợt hiện lên trong trí nhớ: “Súng ống chỉ là vật vô tri, tinh thần quân đội mới đáng kể !” Đúng, chúng tôi thua do yếu tố tinh thần và nhiều lý do khác, làm miền Nam sụp đổ.

Trời bỗng dưng tắt nắng. Cả vùng mây đen vận chuyển rất nhanh theo tốc độ gió. Một cơn lốc xoáy bụi cát tung mũ mịt. Hàng cây nơi cuối trại vật vã, như có bàn tay khổng lồ lay manh, những bãi cỏ gianh cúi rạp dưới sức gió. Tôi đi rảo bước về nhà. Huy lúp xúp theo sau. Chúng tôi vừa về đến cửa, cơn mưa cũng vừa chụp xuống. Mưa quá mau làm tôi không kịp chuẩn bị gì hết. Tôi mở vội nắp thùng đạn, đặt dưới mái hiên, nơi có dòng nước xối mạnh, xong cứ để nguyên áo quần đứng dưới giọt gianh. Vừa tắm, vừa cởi quần áo ra giặt, không xà-bông. Từ trong nhà ào ra đống người. Tiếng nói cười có vẻ thoải mái vì được tắm giặt sau mấy ngày chịu đựng dơ dáy. Mưa mỗi lúc mỗi tăng cường độ. Từng khối nước chảy xối xả từ mái nhà đổ xuống như thác. Những lằn chớp sáng chói chạy loằng ngoằng và tiếng sấm nổ chát chúa, có lúc tưởng ngay trên đầu. Các thùng đạn chứa nước đầy ắp. Anh em tắm giặt xong, trời vẫn còn mưa. Tôi vô nhà, chỗ ngủ đã bị mưa tạt uớt sũng. Chiếc túi vải đựng áo quần, mùng mền như bị ngâm nước. Thế là không có đồ thay. Chỗ ngủ của Mậu và Phát ít ướt hơn. Mình trần như nhộng, tôi ngồi thu lu, lạnh run vì gió lùa qua ô lưới. Thấy tôi như vậy, Định mở ba lô cho mượn bộ đồ ngủ, mặc đỡ.

Bữa cơm chiều, vì trời mưa, chúng tôi được ăn trong nhà, thay vì ngoài sân như đã quy định. Trời vẫn mưa tới tối, những giọt mưa nhỏ như rây bột. Căn nhà vẫn chưa có đèn. B. Trưởng đi hội C, cách xa nhà khoảng 200 thước. Tôi buông mùng sớm với chủ đích hong cho khô, cùng tấm vải đắp. Vừa nằm xuống, hình ảnh gia đình chợt hiện trong tâm trí. Mới có mấy ngày, tôi tưởng đã mấy tháng !

Sáng hôm sau, theo lệnh của B. Trưởng, chúng tôi ào ra sân tập họp. Anh cho biết, theo chỉ thị của cán bộ quản giáo, B-30 có nhiệm vụ phát quang các bãi cỏ gianh xung quanh khu vực. Cuốc và xẻng do Tổ trực đi lãnh tại kho hậu cần. Đây là công tác lao động đầu tiên, nên anh em ai nấy hăng hái tham gia. Những nhát cuốc bổ xuống chắc nịch, xẻng xúc liên hồi. Đám cỏ gianh lần lượt ngả xuống, ngả xuống, được gom lại thành đống, chờ khô, đốt làm phân bón. Sau mấy giờ hăng say lao động, bàn tay tôi đỏ au, có những mụn nước căng phồng, vài người bị lột cả da, nhìn đỏ loét. Trông như vậy, nhưng công tác cũng chưa tiến hành được bao nhiêu. Bãi cỏ vẫn mênh mông, chắc còn lâu mới hoàn tất.

Gần trưa, tên quản giáo lù lù đi đến. Hắn nhìn bãi cỏ và một mảng mới khai quang, rồi gọi B. Trưởng:

– Từ sớm đến giờ, các anh mới “nàm” được chừng này sao ? Các anh phải tích cực triển khai công tác “nao” động chứ, “nàm” việc “nề” mề như vậy sao được ?

B. Trưởng phân trần vì buổi đầu, nhưng anh em sẽ tích cực ! Đứng một lúc, tên quản giáo, hai tay khoanh sau lưng, lửng thửng bỏ đi. Mầu áo xanh nhầu nát chìm dần sau bãi cỏ.

Chúng tôi rửa tay chân, vào nhà nằm soài trên ván. Tôi giơ bàn tay nhìn chòng chọc vào những mụt nước. Tôi biết, nếu làm nó vỡ ra, sẽ rát.

Sau giấc ngủ trưa, khi nghe tiếng kẻng gõ, chúng tôi lại ra làm cỏ. Dưới ánh nắng gay gắt, mọi người đều mặc may-ô hoặc cởi trần để lao động. Nhưng có lẽ, tay mỗi người ít nhiều gì cũng mang thương tích, nên dù có sự hối thúc của B. Trưởng, công việc cũng chẳng tiến triển được bao nhiêu. Giờ trả dụng cụ đã đến. Ai nấy thở phào nhẹ nhỏm, đi đến phía những thùng nước. Tiếng mở thùng lách cách. Những ca nước xối ào ạt lên thân hình đang ướt đẫm mồ hôi và bụi bậm. Không ai sợ bị cảm.

Một ngày lao động đã hoàn tất. Gần 30 con người, làm cả ngày, chỉ cuốc được khoảng 7, 8 thước vuông cỏ ! Buổi tối nay, sau khi đi hội về, B. Trưởng có cầm theo ngọn đèn dầu do Trại phát. Ánh lửa le lói không đủ soi sáng khoảng nhà, nhưng còn hơn không, và ngọn đèn đã giúp cho các tay ghiền thuốc lào đỡ tốn hộp quẹt. Họ quây tròn xung quanh ngọn đèn, chuyền tay nhau chiếc điếu, rít liên tục. B. Trưởng hội với 3 Tổ Trưởng để phổ biến công tác ngày mai, không quên nói, cán bộ quản giáo không hài lòng về lao động ! Tất cả đều lơ là như chẳng cần chú ý !

—>Xem tiếp
<—Mục Lục

This entry was posted in **Chuyện Tù, 1.Hồi-ký - Bút-ký, TẠ TỴ: Đáy Địa Ngục. Bookmark the permalink.

1 Response to ĐÁY ĐỊA NGỤC (Tạ Tỵ): Chương I

  1. queadrian says:

    Thật vô cùng buồn thảm, Lê Thy ơi!

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s