SAY THEO KHÓI THUỐC (Trần Nhật Kim)


SAY THEO KHÓI THUỐC

Tôi vốn không phải là đệ tử ruột của “thuốc lào”, nên không biết tới thú “đi mây về gió” quyến rũ như thế nào. Nhưng với phong tục “miếng trầu là đầu câu chuyện”, điếu thuốc cũng cần thiết không kém trong phần giao tế, đã đậm nét trong ca dao:

Xưa kia ai biết ai đâu,
Chỉ vì điếu thuốc miếng trầu nên quen.

Điếu thuốc, miếng trầu trở thành cặp bài trùng thể hiện sự gắn bó thân tình trong đời sống con người.

Tại Miền Nam, hành động mang tính xã giao trước đây đã thay đổi sau ngày 30-4-75. Tôi từ bỏ thuốc lá, nhất là thuốc lá ngoại nhập quen thuộc, một thứ bị liệt vào xa xỉ vì chính sách ngăn sông cấm chợ, đã trở lên khan hiếm. Người dân được khuyến khích “ta về ta tắm ao ta”. Tôi không hút thuốc lá nội như Vàm Cỏ hay Điện Biên vì hương vị nhạt nhẽo, nên chuyển qua Basto xanh dù không mấy thơm ngon bằng thuốc lá thơm xợi nâu vàng.

Thuốc lào đã trở thành kẻ đồng hành trong thời gian dài kể từ ngày tôi đi “Tù cải tạo”. Tôi phải làm quen với nếp sống văn hóa mới. Không còn lỉnh kỉnh gói thuốc Pall Mall với bật lửa Zippo luôn nằm trong túi khi ra khỏi nhà. Trước đây thuốc lào vốn là thú vui của người dân nông thôn, hiện tại nó đã lan tràn mọi vùng đất nước, từ hang cùng đến ngõ hẻm. Thuốc lào hẳn phải có ma lực thế nào để được ca tụng:

Thuốc lào chồng hút, vợ say
Thằng cu châm điếu lăn quay ra nhà
Có cô hàng xóm đi qua
Hít phải hơi thuốc say ba bốn ngày

Như vậy, cũng ở dạng “khí” như thuốc phiện, thuốc lào có bị liệt vào danh sách “Tứ đổ tường”?

***

Theo sách “Lễ Ký” (1) : “Tửu, Sắc, Tài, Khí”, mà chúng ta thường gọi với tên ngắn gọn là: “Tứ đổ tường” bao gồm: rượu chè, trai gái, cờ bạc, hút xách. Sự xếp hạng trước sau của cụm từ trên cũng là một dấu hỏi, chúng dựa vào ảnh hưởng về phương diện xã hội hay vì lý do nào khác, mà “ăn uống và quan hệ đàn ông đàn bà” là dục vọng trong bản năng sinh tồn của con người vốn nằm trong “tứ khoái”.

Ta có thể nói “Rượu và Đàn bà” có liên hệ mật thiết với nhau, có rượu thường nghĩ tới đàn bà. Dù mang tên là “tứ đổ tường” bị người đời dè bỉu là những thói hư tật xấu làm tan cửa nát nhà, như bị vây hãm, khó thoát ra khỏi bốn bức tường. Trái lại, theo giới nho gia lại gọi là “Thú phong lưu” của bậc danh nhân tài tử, đã lưu lại nhiều tác phẩm trong kho tàng văn học.

Mặc dù với thành kiến không mấy ưu ái đón nhận, nhưng “Tứ đổ tường” được coi như những thú vui của giới mày râu, trong đó khoái cảm đầu tiên là “Rượu”, có tầm quan trọng được ca tụng: đàn ông không uống rượu như cờ không gặp gió (Nam vô tửu như kỳ vô phong).

Vì là thú phong lưu, nên “uống rượu” cũng chứng tỏ bản chất của người thưởng thức, được thể hiện qua phong thái khoan hòa của bậc chính nhân hay như trâu uống nước (ngưu ẩm) của phường phàm phu tục tử. Rượu đã xuất hiện ở mọi nơi, từ gia đình đến nơi công cộng, đã có mặt trong mọi trường hợp khi vui hay lúc chán nản buồn phiền. Rượu được ghi nhận như một loại thần dược gây hưng phấn, nhưng cũng khiến con người trở thành sa đọa trong nhiều trường hợp.

Từ xưa tới nay, các danh nhân thường thích rượu và rượu xuất hiện như một nguồn cảm hứng không thể thiếu. Nhà thơ Lý Bạch (701-762), một thi nhân theo trường phái lãng mạn nổi danh thời Thịnh Đường, đã lưu lại hàng ngàn bài thơ bất hủ cho hậu thế. Ông mê rượu và trăng, nên ánh trăng luôn xuất hiện trong thơ, như bài “Uống rượu một mình”:

Hoa gian nhất hồ tửu,
Độc chước vô tương thân.
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam nhân

Nghĩa:

Một bình rượu trong đám hoa,
Uống một mình không có ai làm bạn.
Nâng ly mời ánh trăng,
Cùng với bóng là ba người…)

Đối với thi hào Nguyễn Du (1765-1820), tác giả của tác phẩm nổi tiếng là “Truyện Kiều”, đã ghi dấu sự có mặt của rượu qua những câu thơ:

Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên

Rượu còn là một niềm vui của cuộc sống, giúp cho thơ có hồn. Tâm tư của Nguyễn Du được trải bầy qua bài “Đối Tửu”:

Uống rượu

Lim dim nhấp chén bên song,
Nhìn ra hoa rụng chất chồng trên rêu.
Sống mà uống chẳng bao nhiêu,
Chết rồi, ai xách rượu theo rưới mồ?
Thời gian giục tóc bạc phơ,
Chim hoàng oanh chẳng thể chờ xuân phai.
Suốt ngày chỉ muốn say thôi,
Cuộc đời như đám mây trôi, thật buồn
(Bản dịch:
Vương Trọng)

Đối với Nguyễn Khuyến (1835-1909) một người có phẩm chất trong sạch, thanh liêm chính trực, có lòng nhân ái đã gắn bó với thiên nhiên. Rượu cũng là nguồn cảm hứng cho tác giả trải rộng lòng mình qua thơ, như trong Thu Ẩm:

Thu Ẩm

Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) cũng nặng tình với rượu và thơ, đã ghi lại cảm khái của mình trong “Ngày xuân thơ rượu”:

Trời đất sinh ra rượu với thơ
Không thơ không rượu sống như thừa
Công danh hai chữ mùi men nhạt
Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ

Tác giả cũng nhận định về rượu trong bài “Lại say”:

Say sưa thì cũng hư đời,
Hư thời hư vậy, say thời cứ say.
Đất say đất cũng lăn quay,
Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười?

Rượu và đàn bà là hai kẻ đồng hành, đã xuất hiện trong thơ của Trần Tế Xương (1870-1907). Mặc dù “mê” trà, một thú tiêu dao của bậc thức giả, ông vẫn đề cao phụ nữ:

Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ nấy
Họa chăng chừa rượu với chừa trà

Người đời thường quan niệm: “Rượu, thuốc húttrà” là những “báu vật” của đàn ông. Nhưng người đàn ông biết uống rượu cũng không nhiều. Rượu giống đạo lý ở chỗ thiên biến vạn hóa, thể hiện qua người thưởng thức. Nhân cách thanh cao thì rượu thanh cao, nhân cách tầm thường thì rượu trở lên tầm thường.

Trong Tứ đổ tường “Tài và Khí” (cờ bạc và hút sách) đứng sau. Riêng “Tài” (Cờ bạc) luôn đứng riêng biệt, không liên hệ mật thiết với thú vui khác, thường bị người đời chê trách qua ca dao:

Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm
.

Cờ bạc là cái thú mà nhiều người hay mắc phải. Vào dịp những ngày Tết cổ truyền, người ta hay có thói quen tiêu khiển, mua vui bằng cách chơi bài với số tiền nhỏ. Tuy vậy, ít ai tỉnh táo dừng lại nơi đơn thuần giải trí mà đa số bị lòng tham lấn lướt, đưa đến chỗ ăn thua sát phạt. Dấn thân vào chốn đỏ đen thường gặp phải nhiều hiểm nguy. Khi mất mát lại càng bi thảm hơn, tài sản tích lũy lần lượt ra đi, thân tàn ma dại, bị người đời khinh miệt. Tật xấu của cờ bạc được ghi lại trong ca dao:

Nước nguồn chẩy xuống ruộng dâu
Thấy anh đánh bạc lùa trâu đi cầm
Cầm trâu, cầm áo, cầm khăn
Cầm giây lưng lụa, xin đừng cầm em ……

Mặc dù “Khí” (hút xách) được xếp hạng sau chót, nhưng lại nổi danh trên trường quốc tế do biến cố “Chiến tranh Nha phiến” xẩy ra giữa nước Anh và Trung Hoa. Cuộc chiến này chỉ chấm dứt do sự thất bại của Trung Hoa qua thỏa hiệp “Điều ước Nam Kinh”, được ký kết ngày 29-8-1842, mà Trung Hoa gọi là “Vạn niên hòa ước”. Điều ước nhấn mạnh các điểm quan trọng dành đặc quyền cho nước Anh:

– Cho người Anh mang quyến thuộc tới cư trú.
– Đặt năm cảng khẩu mậu dịch và thiết lập Lãnh sự gồm: Quảng Đông, Phúc Châu, Hạ Môn, Chiết Giang, Thượng Hải.
– Cấp nhường Hương cảng cho người Anh…

Người Trung Hoa nhận định cuộc chiến tranh này vì nha phiến, còn về phía Anh quốc cho rằng chiến tranh nha phiến xẩy ra do thương vụ và chính trị. Thương nhân người Mỹ cũng liên kết với các nước: Anh, Pháp, Hà Lan… yêu cầu cải thiện quan hệ thương mại với Trung Hoa. Sau chiến tranh nha phiến vào năm 1839, ảnh hưởng của các nước Tây phương ngày càng lớn mạnh tại các nước thuộc Đông nam Á.

Thuốc phiện (Nha phiến) có mặt tại Đông dương từ thế kỷ 18, nhưng tệ nạn “hút xách” này đã bị các triều vua Minh Mạng và Tự Đức ban hành nhiều chỉ dụ cấm ngặt từ trước năm 1860, với án tử hình cho những người vi phạm. Sau “Hiệp ước Patenôtre” ký ngày 6-6-1884 tại kinh đô Huế (còn gọi là Hiệp ước Giáp Thân). Hòa ước được ký kết giữa Toàn quyền đại thần Phạm Thận Duật, đại diện Nhà Nguyễn và sứ thần Cộng hòa Pháp là Jules Patenôtre. Trong Hòa ước này có điều khoản: “Nước An nam thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp. Nước Pháp sẽ thay mặt nước An nam trong mọi quan hệ đối ngoại.” Sau thời gian này, thuốc phiện xuất hiện rộng rãi hơn.

Từ năm 1862 thuốc phiện trở thành tệ nạn, xâm nhập vào mọi tầng lớp xã hội. Theo “Sài Gòn Thời báo” (2) đăng tải năm 1869: “Sứ mệnh chủ yếu của nước Pháp không phải tự mình đầu độc dân chúng, mà để việc này cho những nhà thầu thuốc phiện thực hiện”. Từ năm 1886, nhiều tiệm hút thuốc phiện ở Chợ Lớn do người Hoa điều hành ngày một lan rộng, thu hút giới giầu sang, trở thành một mối lo cho người dân vì sợ tệ nạn này ảnh hưởng tới tương lai con cháu họ.

Như vậy, thuốc phiện là gì mà có thể tác hại tới đời sống con người?

Thuốc phiện là loài thực vật có tên khoa học là Papaver somniferum thuộc họ Anh Túc (Papaveraceae), mà chúng ta thường gọi là: á phiện, thuốc phiện, thẩu. Cây Anh Túc là một dược liệu được xử dụng để giảm đau trong y học Đông cũng như Tây phương. Ngành y học khuyến cáo không nên dùng trong trường hợp thông thường vì dễ gây nghiện nặng.

Nguồn gốc của cây Anh Túc (thuốc phiện) có lẽ từ Bắc Phi, Tây Âu…nhưng sự gieo trồng loại cây này xuất hiện từ thời cổ đại được du nhập tới hầu hết các quốc gia trên thế giới, nơi có khí hậu ôn đới hay nhiệt đới. Lấy chất nhựa mầu trắng trong quả Anh Túc đem phơi khô sẽ có thuốc phiện. Trong nhựa này có chứa 10% chất Morphin.

***

Sau năm 1920 tại Hà Nội, khu phố Khâm Thiên với những nhà hát Ả Đào “cô đầu” (3) ngày một mở mang, đã trở thành một khu mệnh danh “ăn chơi nhất, hiện đại và đắt khách nhất.” Nhà hát cô đầu đã lan rộng ra các tỉnh Hải Phòng, Nam Định cũng như tại Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa…Vào năm 1938, Hà Nội có 216 nhà hát. Ngoài ra còn 6 vũ trường với 50 gái nhẩy…

Những nhà hát này thể hiện sự kết hợp gắn bó giữa các thú tiêu khiển “Tửu, Sắc và Khí”. Nhà văn Vũ Bằng (1913-1984) đã gọi phố cô đầu Khâm Thiên là cái nôi văn nghệ của Hà Nội. Ông cho rằng: Các văn nghệ sĩ hội họp uống rượu , ngâm thơ, đánh một khẩu trống để thưởng một câu văn hay, một giọng ca buông bắt tài tình. Đôi khi họ tức cảnh làm những câu mưỡu, bài hát nói thật hay…Ông cũng nhận định: “Chưa có nhà văn, nhà báo nào tại đất Bắc mà không ra vào nhà hát cô đầu.”

Nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn (1908-1969), tác giả của nhiều tác phẩm như Thần Hổ, Kho vàng Sầm Sơn… cũng nhận định: Khu Khâm Thiên là đường nhà trời tới đây để quên đau khổ bằng rượu, gái và thuốc phiện”.

Vì là nơi để các văn nhân gặp gỡ thưởng thức và trao đổi nghệ thuật, nên có nhiều bài hát nói, bài thơ nổi tiếng còn lưu lại trong kho tàng văn học cho nhiều thế hệ sau này. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976) đã lưu lại nhiều bài thơ mang hình bóng của các thú vui, như trong bài Nghe Hát”:

Phách ngọt, đàn say, nệm khói êm
Tiếng ca buồn nổi giữa chừng đêm
Canh khuya đưa khách lời gieo ngọc
Mơ gái Tầm Dương thoảng áo xiêm…

Trong bài “Say đi em”, tác giả diễn tả sự quyến rũ của cả ba thú vui. Ông đã tận hưởng những khoái cảm, du hồn trong sóng nhạc, đắm mình trong cơn say:

… Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ

Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa mầu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta

Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, cho điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa! và quên, quên hết! …

Cảm thông trước sự cô đơn của người Kỹ nữ, níu kéo bước chân lãng tử, nhà thơ Xuân Diệu (1916-1985) cũng trải lòng qua “Lời Kỹ nữ”:


Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;
Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi.
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;
Khách không ở, lòng em cô độc quá.

Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả,
Tay em đây, mời khách ngả đầu say;
Đây rượu nồng. Và hồn của em đây,
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.

Do ảo giác của thú vui, thuốc phiện mang nhiều mỹ danh: “Ả Phù dung, Nàng tiên nâu” đã bị cấm đoán vì sự tác hại của nó lên con người. Sau một thời gian dài chìm đắm trong ảo giác của Ả phù dung, nhà văn Vũ Bằng đã xa lánh và ghi lại hành trình cai nghiện qua tác phẩm “Phù Dung ơi, vĩnh biệt” (4)

***

Mặc dù cùng ở thể “Khí”, có nguồn gốc từ thực vật như thuốc phiện, nhưng thuốc lá, thuốc lào ít bị xã hội đàm tiếu và ngày càng phổ biến, từ thành thị tới thôn quê.

Theo sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn (Sinh: 1726 – 1784) (5) thuốc lá đã xuất hiện từ đời vua Lê Thần Tông nhà Hậu Lê với tên “Yên diệp” có nguồn gốc từ Luzon với tên gọi Tobacco. Từ năm Canh Tý (1660), người nước ta trồng loại cây này do người Ai Lao (Lào) mang tới. Cây thuốc Lào còn gọi là “Tương tư thảo”.

Mọi người đua nhau hút thứ thuốc lấy từ lá cây này. Đến đời Cảnh Trị (1665), vua hai lần nghiêm cấm hút thuốc vì tàn đóm dễ gây hỏa hoạn. Nhiều người lấy ống tre làm điếu hay chôn điếu sành xuống dưới đất để hút khi thèm, nên mới có chuyện: “đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.”

Thuốc Lào (Nicotiana rustica) là một loài thực vật thuộc chi thuốc lá (Nicitiana). Loại này có hàm lượng Nicotine rất cao tới 9%, trong khi thuốc lá chỉ là từ 1 – 3%.

Hút thuốc Lào cần một loại dụng cụ gọi là “Điếu”. Tùy theo hoàn cảnh và tiện nghi, điếu xuất hiện dưới 3 hình mẫu:

Điếu cầy: một dụng cụ làm từ thân tre (hay kim loại), thuận lợi khi di chuyển của người nông dân nơi đồng áng. Điếu cầy khởi đầu chỉ đơn giản là một khúc tre, giữ một mấu phía cuối làm đáy để chứa nước. Sau này điếu được khắc trạm những hoa văn bằng kim loại.

Điếu bát: thường làm bằng đồ gốm để giữ nước. Nõ điếu lắp phía trên và một lỗ nhỏ cắm xe điếu. Để đựng điếu người ta xử dụng bát lớn làm bằng sành hay gỗ để bảo toàn cho điếu không đổ vỡ hay giữ tro tàn sau khi hút. Vì hình dáng nặng nề không tiện di chuyển nên điếu bát thường để ở nhà.

Điếu ống: Còn gọi là điếu đóng, thân điếu ngắn và lớn hơn điếu cầy, thường làm bằng gỗ quý hay ngà. Thân điếu thường trạm những hoa văn dát bạc hay khảm vỏ trai. Giá trị của điếu ống cũng tùy thuộc vào tay nghề điêu khắc và nguyên liệu dát trên điếu. Xe điếu cũng khác thường, không ngắn như đoạn cành tre của điếu bát, có khi dài cả thước. Thân xe điếu loại này thường làm bằng thân trúc có nhiều đốt. Xe điếu được khoan lỗ nhỏ theo ruột từ đầu đế cuối. Hai đầu xe điếu bịt bạc. Xe điếu được ngâm để có thêm độ mền dẻo.

Các quan đi kinh lý thường mang theo một tiểu đồng có nhiệm vụ mang điếu, tra thuốc và mồi lửa. Xe điếu đủ dài để các quan có thể hút thuốc khi ngồi trên yên ngựa. Khi hút thuốc, nhiều âm thanh khác nhau phát ra, tùy thuộc vào cách khoét “lưỡi gà” của nõ điếu.

Thuốc lào xuất hiện trong ca dao cũng như văn thơ. Bà Hồ Xuân Hương vịnh điếu hút thuốc lào qua lời thơ:

Bình tròn phành phạch, đít bảnh bao
Mân mân, mó mó đút ngay vào
Thủy hỏa tương giao sôi sùng sục
Âm dương hòa khí sướng làm sao!

***

Sau ngày 30-4-1975 tại miền Nam, các loại thuốc lá ngoại đã vắng bóng trên thị trường vì bản chất xa xỉ nên bị cấm đoán, nhất là ở vào thời điểm toàn xã hội miền Nam phải thắt lưng buộc bụng, “gạo không có đủ ăn” lấy đâu mà hút xách. Tôi bỏ điếu thuốc thơm quen thuộc để chuyển qua thuốc Basto xanh, vị thuốc đắng nghét nhưng vẫn hấp dẫn, đậm đà hơn Vàm Cỏ hay Điện Biên. Thói quen này một lần nữa lại thay đổi từ sau ngày tôi đi “tù cải tạo”. Tôi hút thuốc lào.

Khi hút thuốc lào, người hút có thói quen uống nước trà nóng. Vị đậm ngọt pha trộn vị chát của nhựa lá chè xanh trong nồi đất nung được ủ kín dưới lớp bao bố ẩm bốc khói. Nước chè nóng hổi đựng trong bát sành được ca tụng qua ca dao của Hải Hậu quê tôi:


Khách về khách vẫn hỏi thăm
Nước chè Cầu Ngói, tơ tầm Chợ Lương.

Mặc dầu không nói tới thuốc lào khi nhắc tới nước chè Cầu Ngói, nhưng sự gắn bó giữa bát nước chè xanh và điếu thuốc lào là hình ảnh quen thuộc không thể thiếu của người dân vùng quê Hải Hậu (Nam Định), một nhu cầu cần thiết để giảm đi phần nào sự mệt mỏi nơi đồng áng, hay những cơn lạnh cắt da vào những ngày giá rét. Các quán nhỏ bán nước chè xanh đều có sự hiện diện của chiếc điếu cầy và chiếc đèn dầu nhỏ để mồi lửa hút thuốc, hầu làm vui lòng khách ghé thăm.

Thuốc lào đến với tôi thật tình cờ, một thứ mà tôi chưa xử dụng trước đây. Sau một thời gian dài “cấm cung” trong phòng kỷ luật trại Phan Đăng Lưu, tôi được chuyển tới khu tập thể, phòng 6 khu C-2. Tôi gặp nhà báo Hồ Văn Đồng, Nguyễn Ngọc Đỉnh… và thành phần Phục quốc với nhiều lớp tuổi.

Bác Năm nằm bên tôi tâm sự, ông bị bắt vào đây vì căn nhà nhỏ nằm trong vùng Song Vĩnh, Phước Tuy, một nơi bị chế độ mới bố ráp để bắt thành phần chống đối. Người vợ yêu thương của ông đã nằm xuống trong một lần công tác. Còn lại một mình, ông muốn sống ẩn dật nơi thôn dã, chôn dấu dĩ vãng đã từng gợi nhớ những kỷ niệm yêu dấu thiết tha, nhưng cũng dậy trong lòng ông những tủi hận.

Vào một buổi tối cuối tuần, bác Thông khuyến khích tôi hút thuốc lào. Chính tôi cũng muốn biết cảm giác khi đầu óc quay cuồng trong cơn say khói thuốc. Bác vê điếu thuốc lào nhỏ hiệu ba số 8, sợi nhiễn mầu nâu thẫm, bỏ vào nõ điếu. Tôi ngồi xếp bằng tròn, tay trái cầm chiếc điếu cầy dã chiến làm bằng bình nhựa nhỏ, châm lửa đốt thuốc, hít một hơi dài, ngậm miệng nuốt khói. Khói thuốc len vào phổi, máu chạy rần rần trong huyết quản, từ xương sống lên gáy. Chân tóc muốn dựng đứng, mồ hôi vã ra…Tôi chợt thấy một cảm giác lâng lâng, đầu óc quay cuồng, thân mình nhẹ tênh bay bổng như lạc vào cõi mộng. Tôi vội bỏ điếu xuống, chống hai tay cho khỏi ngã nằm xuống chiếu nằm. Mọi người vỗ tay cười. Bác Thông bảo tôi:

“Khi anh say thuốc, đôi mắt nhắm nghiền, đầu lắc lư giống như Tây Độc Âu Dương Phong đang luyện Ham Mô Công. (chuyện Chưởng của tác giả: Kim Dung).

Còn bác Năm nằm bên tôi tâm sự:

“Lúc mới gia nhập Phong Trào tôi hút thuốc lào để tìm vui. Tuổi trẻ là như vậy, mình muốn biết một cái gì mới lạ, nhất là sau những giây phút thành công hay thất bại. Đôi khi nó giúp trấn áp được sự sợ hãi sau những lần công tác. Còn bây giờ tôi hút thuốc lào để tìm quên…”

Từ đấy, chiếc “điếu cầy dã chiến”, đã theo tôi đến các trại tù cải tạo tại miền Nam và trên quãng đường dài ra miền Bắc, từ đầm lầy Nam Hà (Hà Nam Ninh) qua Cổng Trời – Hà Giang, nằm sát biên giới Việt Trung đến trại Thanh Cẩm vùng Bái Thượng thuộc tỉnh Thanh Hóa . Chiếc điếu lớn bằng bao thuốc lá làm từ lọ thuốc trị bệnh đau dạ dầy, mà vợ con tôi đưa cho vào lần gặp mặt đầu tiên tại trại Gia Rai, Long Khánh. Chiếc điếu thường nằm gọn trong túi ngực của áo trận xanh trong những lần di chuyển. Tôi quý chiếc điếu nhỏ bé này, dù là một vật tầm thường, nhưng in dấu hình ảnh yêu thương gia đình.

Tôi đã chứng kiến nhiều cảnh đời tang thương vì thiếu thuốc lào. Đám tù hình sự miền Bắc tới xây bức tường đá sau phòng 8 bên đầm lầy trại Nam Hà nơi tôi ở, thường đổi một phần ăn lấy 3 điếu thuốc lào. Tôi hỏi một em khi thấy em hít khói đốt từ sợi chăn của chiếc mền Sakimen xe tròn bằng ngón tay, đang ngồi quanh đống lửa tại giữa sân trong giờ giải lao. Em trả lời:

“ Cháu ngửi khói để đỡ thèm thuốc”.

Mới nghe có cảm tưởng như nghịch lý, nhưng vào giờ phút này, tôi mới thấm thía câu nói: “Bụng đói thì cật rét”. Bữa ăn hàng ngày với ngô, khoai, sắn không đủ no, lấy đâu sưởi ấm chiếc dạ dầy trống trải luôn xẹp lép. Chiếc điếu nhựa quả là bạn đường thân thiết của tôi. Tôi nhớ mãi ánh lửa châm thuốc bập bùng soi sáng 20 khuôn mặt trong chiếc xe chở khách nhỏ, trên đường di chuyển từ trại Nam Hà lên trại Quyết Tiến (Cổng Trời-Hà Giang) vào đêm Giáng Sinh 24-12-1977, tự biết đang đi dần tới cõi chết, được người dân địa phương nhắc nhở:

– “Quyết Tiến là cổng của trời,
Sao mà khổ thế hỡi người trần gian.”

***

Tôi ra khỏi trại tù cải tạo Thanh Cẩm (Thanh Hóa) vào cuối năm 1981. Những kỷ vật theo tôi trong những năm dài cải tạo đã bị trại giữ lại. Từ cái lon nhôm Guigoz đựng nước uống, bên ngoài khắc tên những trại tôi đã đi qua, đến chiếc “điếu cầy dã chiến” nhỏ bé theo tôi mấy mùa mưa nắng. Tôi không còn một chút hành trang nào mang theo, ngoại trừ bộ quần áo xanh trại phát xé ngắn tay đã bạc mầu mặc trên người. Tôi trở thành một người vô sản trong xã hội mới.

Trong thời gian đi tù cải tạo, nhiều lúc tôi tự hỏi: tại sao tôi không nhớ tới hương vị đậm đà quyến rũ, thấm dần vị giác của điếu thuốc Pall Mall đã theo tôi nhiều năm trước đây. Đến vẻ trang trọng phong lưu của ống Vố (Pipe) mang cảm giác trầm ấm, mật ngọt của sợi thuốc mầu nâu nhạt nhuộm ánh hung vàng của thuốc Haft and Half trộn với thuốc M.79 (Mixture No. 79 – Est. 1849), mà hương thơm của thuốc đã quyến rũ khứu giác của người xung quanh.

Tôi không nhớ chúng. Có phải vì hương vị đậm đà, ấm dịu của nó chỉ gợi cho tôi sự đắng cay của thiên đường hoang tưởng hiện tại.

Tôi chưa bỏ ngay được thuốc lào. Tôi vẫn nhớ cảm giác lâng lâng bay bổng của khói thuốc, nhưng hương nồng của khói thuốc làm cho vợ con tôi khó chịu. Thuốc lào ám ảnh tôi mãi. Tôi chưa quên được ảo giác đê mê của khói thuốc, nhưng tôi không có điếu để đào, như người xưa đã nhắn nhủ qua ca dao:

Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

Trần Nhật Kim

***

Chú Thích

Tham khảo: Tài liệu và hình ảnh trên mạng Bách khoa mở (Wikipedia)

– Khổng Khâu: (Sinh năm: 551 TCN – 479 TCN), tự Trọng Ni, nhà khai sáng Nho giáo. Khổng Phu Tử là danh hiệu được người đời tôn trọng, cùng với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sinh 563 – 483 TCN) là người sáng lập Phật giáo và Lão Tử (Sinh 571 – 471 TCN) người sáng lập Lão giáo, là nhân vật chính yếu trong triết học Trung quốc có ảnh hưởng tới văn hóa Á Đông. Cả ba nhân vật trên đều sống trong cùng một thời kỳ lịch sử.

(1)– Kinh Lễ (Lễ ký) là một quyển trong bộ Ngũ Kinh của Khổng tử.

Ngũ Kinh gồm có:

– Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian trước thời Khổng tử, san định thành 300 thiên, nhằm giáo dục mọi người về tình cảm trong sáng.)
– Kinh Thư:
San định các biến cố truyền thuyết của các vua trước đó để các vua đời sau theo gương tốt của các minh quân Nghiêu, Thuấn và không tàn bạo nhu Kiệt, Trụ.
– Kinh Lễ: Hiệu đính các lễ nghi thời trước dùng làm phương tiện duy trì và ổn định trật tự.
– Kinh Dịch:
nói về tư tưởng triết học của người Trung hoa dựa trên khái niệm âm dương, bát quái.
– Kinh Xuân Thu:
Không tử không chỉ ghi chép những biến cố xẩy ra ở nước Lỗ như một sử gia mà chọn lọc các sự kiện, ghi kèm lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các vua chúa. Ngoài ra còn hiệu đính Kinh Nhạc nhưng bị Tần Thủy Hoàng đốt mất chỉ còn lại một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký.

Lễ Ký
cùng với Chu LễNghi Lễ được gọi chung là Tam Lễ. Lễ là những quy tắc mang tính hình thức được xã hội thừa nhận. Lễ nghi sẽ tạo ra một xã hội hài hòa trong đó mọi người đều tự tiết chế trong mối quan hệ giữa mọi người. Việc giữ Lễ là một cách tu thân, biết tuân thủ những nguyên tắc đạo đức trong quan hệ với người xung quanh. Nho giáo rất xem trọng Lễ nghi.

(2)– Hành trình Đông Dương bị đầu độc bằng thuốc phiện (Nguồn: LĐO ngày 12-9-2015) / (Sài Gòn Thời Báo tiết lộ năm 1869).

(3)– Ả Đào: Cô đầu hát khác với cô đầu rượu. Cô đầu hát còn gọi là ca nương là những người chỉ đến hát và rời nhà hát sau khi hát. Cô đầu rượu đa phần còn trẻ (còn gọi là “chanh cốm”) là những người tiếp rượu khi khách đến nhà hát.

(4)– Nhà văn Vũ Bằng (1913-1984). Tên thật là Vũ Đăng Bằng. Tác giả hồi ký “Phù Dung Ơi, vĩnh biệt”. NXB: Hội nhà văn. Phát hành ngày 5-4-2017

(5)– Lê Quý Đôn: Sinh năm: 1726-1784, tại Thái Bình. Hồi nhỏ tên Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường. Làm quan thời Lê Trung Hưng.

Vân Đài Loại Ngữ: là tác phẩm chữ Hán xuất hiện vào năm 1773 của học giả Lê Quý Đôn. Nội dung của tác phẩm đã ảnh hưởng bởi tư tưởng Tống Nho.

This entry was posted in * Trần N Kim, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, Trần Nhật Kim. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s