BÓNG TỐI ĐI QUA (Kim Nhật): Quyển III

CHƯƠNG XVII
RỪNG BIÊN GIỚI

Quả thực cái sinh hoạt, cái nếp sống tại đây hoàn toàn khác hẳn, xa lạ với cái nếp sống mà tôi đã sống qua trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, hay trong thời gian ở Khu A mới đây.

Từ cái sinh hoạt theo kiểu công chức thuần tuý, theo kiểu «kẹo kéo» của Mỹ cơm ai nấy ăn, nhà ai nấy ở, tiền ai nấy xài v.v…, cả đến cách nói chuyện cũng bị chia theo tôn ti trật tự, «kẻ cao người thấp» và lúc nào mở miệng ra là cũng nghe nói đến những «nguyên tắc», «chế độ», «tiêu chuẩn», «nghị quyết» rồi «báo cáo», «thỉnh thị», «mệnh lệnh» v.v…, làm tôi vốn đã có ác cảm càng «ác cảm» thêm.

Sự phân chia ngôi thứ, cấp bậc ở đây là một thứ tự nhiên như cơm ăn áo mặc. Phân chia một cách triệt để, hết sức chặt chẽ theo một trật tự mới của cách mạng, làm cho giá trị con người trở thành những loại hàng quy ước sẵn, mà đối với tôi nó xốn xang làm sao.

Giá trị con người tùy thuộc vào loại đảng viên hay đoàn viên, hoặc quần chúng. Trong ba loại đó cũng được phân chia lần nữa qua thành phần giai cấp: bần cố nông hay phú nông địa chủ, hoặc tư sản, tiểu tư sản trí thức v.v… Cán bộ thì phân loại theo kiểu sơ cấp, trung cấp, cao cấp, theo kiểu «mùa thu», «mùa đông» về Nam sớm hay muộn v.v…

Phe Quốc Gia, phe Tư Bản, Đế Quốc cũng có những tôn ti trật tự, những sự phân chia ngồi thứ nhưng đâu có đến nỗi triệt mất cái bản ngã và tâm hồn của con người đến như thế này. Nó còn quá quắt, triệt để gấp mấy lần hơn của thứ tôn ti trật tự đại phong kiến xa xưa.

Từ ngày về đây, tôi được giao nhiệm vụ mới ở văn phòng 1739 tức Cục Tham Mưu R. Ba Đình thì đã trở về Khu A làm Tư lệnh công trường 9.

Một lần, nhân lúc dịch xong một tài liệu tình báo đánh cắp được của Mỹ ở nơi nào đó, tôi được lệnh mang ngay đến trình cho anh Sáu Vi xem. Lần đó là lần đầu tiên, cũng là lần duy nhất tôi được gặp anh Sáu Vi, tức đại tướng Nguyễn Chí Thanh, bằng xương bằng thịt tại chiến khu này.

Trong bộ đồ pyjama bằng vải đen, cao cổ, kiểu cao cổ của Trung quốc làm nước da ngăm ngăm đen của đại tướng càng sậm màu hơn. Anh em trước đây có nói cho tôi biết rằng đại tướng mập mạp, vạm vỡ, cao lớn người, có lẽ điều này chỉ đúng khi đại tướng còn ở Hà Nội trong những năm trước đây. Giờ thì đại tướng đã gầy nhiều, má hơi cóp lại, nhô lên. Chiếc cằm vuông như bạnh ra.

Tôi bước vào nhà giữa lúc đại tướng đang nằm trên chiếc võng dù đôi, màu cứt ngựa, giăng ở hàng hiên, mang kính viễn đọc một tập sách bằng chữ Trung quốc. Gương mặt chữ điền với đôi mắt lờ đờ ẩn dưới hàng chân mày đậm nét trông đại tướng có vẻ mệt mỏi như người mới ốm dậy. Mái tóc hớt thấp ngả màu muối tiêu.

Cử chỉ của đại tướng lúc đó từ tốn, chậm chạp, tôi cố gắng nhưng không sao tìm thấy qua dáng dấp bên ngoài đó, một đặc điểm, một nét khác biệt, phi thường nào của một viên đại tướng dù đó là đại tướng về chính trị.

Có lẽ đại tướng Nguyễn Chí Thanh được báo trước việc tôi mang tài liệu dịch đến và nghe giới thiệu nét sơ lược về tôi là một cựu sinh viên luật khoa ở Sài Gòn. Đại tướng nhìn kỹ tôi một lần nữa, lúc sửa soạn ngồi dậy. Rồi cười nụ, cảm ơn tôi theo kiểu xã giao.

Đoạn đại tướng hỏi tôi mấy câu về chương trình giáo dục ở các đại học Sài Gòn, về đời sống của các giới và ý thức chính trị của nhân dân đô thị.

Trong cuộc nói chuyện gần một giờ đồng hồ, lần đó, tôi không hề nghe đại tướng Nguyễn Chí Thanh phát biểu một ý kiến nào. Lẳng lặng ngồi nghe, nghe một cách chăm chú, thỉnh thoảng đặt câu hỏi và cười nụ, làm những vết nhăn hai bên khóe miệng hằn sâu kéo dài ra.

Chỉ lần ấy rồi thôi.

Vào những ngày cận Tết đầu năm 1966, Năm Thạch tức thiếu tướng Hoàng Cầm từ công trường 9 về họp ở Bộ Chỉ huy. Trong lúc ngồi uống trà với anh Ba Long, tình cờ tôi được nghe qua câu chuyện là đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã về Hà Nội họp Bộ chính trị Đảng, ở ăn Tết xong mới vào.

Và sau đó, những ngày của tháng ba 1966, khi phái đoàn Cu Ba do nữ ký giả Martha làm trưởng đoàn sang thăm «chiến khu» lên đường trở về thủ đô La Havane thì, một buổi tối một đồng chí cảnh vệ thì thầm cho tôi biết bà Đại tướng đau nặng lắm.

Tôi hỏi cậu ta:

– Sao cậu biết?

Cậu ta nhướng mắt, khoa tay:

– Thì em mới dẫn đường, đưa ông bác sĩ Ba Nhân với ông bác sĩ Ba Kính từ Phòng Thường Trực vào bệnh xá 70 nè. Hai ông đó ở K70 được điện khẩn của Bộ Chỉ huy kêu về gấp. Trên đường đi em nghe hai ổng nói chuyện với nhau.

– À! Tôi thốt lên.

Thì ra, sau Tết từ Hà Nội trở về căn cứ Bộ Chỉ huy Ba Cục, đại tướng Nguyễn Chí Thanh không vào một mình mà còn có cả vợ đi theo. Rồi bà Nguyễn Chí Thanh ngã bệnh. Dĩ nhiên, Bộ Chỉ huy, Quân ủy phải cấp tốc triệu hồi thầy thuốc đến điều trị.

Dù sao đi nữa, bệnh xá 70 vẫn là loại bệnh xá dã chiến, đặc biệt, dành cho các tướng lãnh trong Bộ Chỉ huy. Từ trước đến nay tuy chưa phải cứu cấp cho một tướng nào, nhưng hẳn thuốc men không bao giờ thiếu.

Và những phương tiện tối tân tuy không có, ít ra nó cũng có những phương tiện «tự tạo» đủ để làm những cuộc cứu cấp thông thường.

Kể ra, Bộ Chỉ huy gọi Ba Nhân, Ba Kính đến điều trị cho bà Nguyễn Chí Thanh cũng đã quá đủ về phương diện «chuyên viên» rồi.

Ba Nhân tức bác sĩ Nguyễn Thiện Thành mà Đại trước đây từng bảo đó là một trong những sư tổ y khoa. Còn Ba Kính tức bác sĩ Vũ Trọng Kính cũng là một sư tổ y khoa, phó Tiến sĩ y học Liên Xô về chấn thương mà tôi đã gặp ở bệnh viện đội 17 của Khu A.

Bây giờ, Kính đã về Khu B, «cư trú» tại bệnh viện K71 cùng với Ba Nhân, cho nên cả hai được lệnh triệu hồi đến điều trị cho bà Đại tướng.

Không biết kết quả của một cuộc điều trị ra sao và bà Đại tướng bị bệnh gì, để sau đó hai bác sĩ thượng tá Nhân và Kính phải «hộ tống» bệnh nhân vượt biên giới Mimot đưa đến tận Nam Vang. Rồi bệnh nhân được chuyển thẳng về Hà Nội trên chuyến phi cơ Iliouchine vào một ngày thứ sáu của hàng hàng không dân dụng Liên Xô.

Lượt về, vì lý do «chiến thuật» đổi lộ trình về qua ngã Sway-riêng, làm khi đến biên giới Tà Băng cậu vệ sĩ của Nhân bị bom B52 văng mất xác. Suýt tí nữa, Nhân và Kính cũng phải đi chầu trời sau một lần đi….chữa bệnh cho bà Đại tướng.

Không như Khu A với rừng sâu hoang vu, bóng cả cây già, rừng Khu B toàn rừng chồi, cây thấp, nhiều trảng tranh tiếp nối chạy ngút ngàn, suốt dọc vùng biên giới. Phần lớn toàn rừng le.

Do đó, những con đường mòn ngang dọc trên Khu B tiếp nối từ chiến khu Dương Minh Châu từ khu C «tam giác sắt» Long Nguyên, Hố Bình, Núi Cậu cho đến bên kia biên giới Miên là những con đường lộ thiên, luôn luôn bị phi cơ theo dõi không ngừng.

Sau chiến dịch Đồng Xoài tháng 6 năm 1965, cục diện chiến tranh miền Nam đã chuyển sang một hình thái mới. Mức độ ác liệt của chiến tranh đột nhiên leo thang, bằng thang máy, vì sự tham gia trực tiếp quân đội Mỹ và đồng minh Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn v.v…

Hơn lúc nào hết, Trung Ương Cục và Quân ủy không ngớt nhắc nhở, đề cao ý thức chịu đựng gian khổ cao độ, đề cao sự hy sinh tuyệt đối cho Đảng. Cuộc chỉnh huấn toàn quân 1966, Quân ủy đưa tài liệu nghị quyết Trung Ương ra cho từ trên xuống dưới học tập, thảo luận,

Nghị quyết đó có thể gồm vào mấy chữ «tình hình mới», «nhiệm vụ mới». Cách mạng miền Nam bước vào giai đoạn khó khăn về mọi mặt nhất là về phương diện hậu cần, phải tổ chức lại, phân tán mỏng, phải áp dụng triệt để tư tưởng chiến tranh nhân dân với chiến thuật du kích chiến v.v…

Về tình hình căn cứ ở chiến khu, Bộ Chỉ huy cũng báo cho biết bây giờ không có nơi nào được coi là an toàn, là hậu phương vững chắc nữa. Nơi nào cũng có thể là chiến trường. Tiền tuyến và hậu phương lẫn lộn vì sức cơ động và hoả lực tối đa của quân đội Mỹ, đồng minh, tham gia vào cuộc chiến.

Lệnh báo động toàn Khu B, cấp một, cấp hai của Cục Tham Mưu (tức B1) cứ thông báo liên miên. Toàn Khu B trong tình trạng chuẩn bị chống càn thường trực. Kế hoạch bảo vệ Khu B, kế hoạch chống càn B1 đưa ra là chính Ba Long trực tiếp chỉ đạo chung.

Ngoài việc điều động công trường 9 về bảo vệ căn cứ và kết hợp các trung đoàn thực binh từ miền Bắc vào như Trung đoàn 140, Trung đoàn 116…thành lập công trường 7 để đối phó, tất cả các cán bộ tham mưu của B1 được lệnh tập trung phân phối đi khắp cơ quan, đơn vị R đóng ở Khu B để hướng dẫn, huấn luyện tất cả mọi người, mọi đơn vị công tác chiến đấu, bảo vệ, chống càn, rút lui….

Mặt khác, Bộ Chỉ huy R cho một trung đoàn vượt qua rừng Mimot xây dựng căn cứ hai cho R, chuẩn bị cho những ngày sẽ tới. B1 cũng cho nghiên cứu toàn bộ kế hoạch phân phối căn cứ đóng quân cho toàn các đơn vị trực thuộc R đóng trên đất Khu B. Đơn vị nào cũng phải có căn cứ dự bị. Các đơn vị trực thuộc R, ngoài những đơn vị chiến đấu, bảo vệ, còn vô số cơ quan, bộ phận tĩnh tại của Ba Cục. Cục có nhiều đơn vị trực thuộc nhất là Cục Hậu Cần với những hệ thống tiếp liệu, kho dự trữ, thu mua, hệ thống quân y, bệnh viện, xưởng dược v.v…nhưng Cục cũng có nhiều cơ quan, đơn vị bí mật, ít người biết đến nhất lại là Cục Chính Trị.

Ngoại trừ những Đảng ủy viên của Đảng ủy Cục Chính Trị hay ủy viên Quân ủy, không ai có thể biết được Cục Chính Trị gồm có những cơ quan nào, bộ phận nào, công tác ra sao trong việc điều hành Quân ủy, quản lý cán bộ, các trường huấn luyện, thông tin quốc nội, quốc ngoại, báo chí, phát thanh, binh địch vận, văn công, giáo dục v.v…cho đến cả các trại tù binh, trại giam an dưỡng. Cán bộ lãnh đạo đơn vị trực thuộc này không hề biết cán bộ lãnh đạo đơn vị trực thuộc khác là chuyện thường. Bởi chưa bao giờ có chuyện hội nghị toàn Cục Chính Trị. Công tác ai nấy biết, thế thôi.

Ngược lại Cục Tham Mưu thì ai cũng biết, cán bộ cứ đụng đầu nhau chan chát, đơn vị trực thuộc chẳng có bao nhiêu, ngoài những Phòng cố định. Duy chỉ có Phòng nghiên cứu quân báo và hệ thống này, dĩ nhiên vấn đề bí mật là một nguyên tắc bất khả kháng. Bởi nó là vấn đề sinh tử, sống còn, thắng bại của cuộc chiến tranh.

Suốt bao năm trời qua, kể từ ngọn lửa chiến tranh tái phát năm 1966 là năm đầu tiên căn cứ nếm mùi sóng gió, bị ảnh hưởng cao độ của chiến tranh. Cái thời vàng son, ung dung, ngất ngưởng, nhàn hạ của những tướng tá, của «thần dân Khu B» đã qua rồi.

Chiến tranh thực sự rồi đây.

Song song với những lệnh báo động cấp một, cấp hai, thử nguy hiểm mới làm căng thẳng thần kinh mọi người cho đến cả trong giấc ngủ say, đe dọa thường trực từng giờ, từng phút là phi cơ B52.

Tin quân báo hàng ngày điện về cho biết những cuộc oanh tạc của B52 cất cánh từ đảo Guam. Những tin tức đó báo trước cho biết ngày giờ oanh tạc cũng như vùng mà phi cơ sẽ đến. Có những chuyến tin báo cho biết trước đến 18 giờ.

Thông thường, tin báo chỉ có tính cách chung, không xác định rõ chi tiết. Nhưng cũng có nhiều lần, những tin trên còn xác định giờ phút, vị trí và số lượng phi cơ tham gia vào cuộc oanh kích hủy diệt. Có lần sai và cũng có nhiều lần đúng. Như vậy là những bí mật trên đây đã có một khe hở để chui qua.

Do đó, Cục Tham Mưu bận rộn không ít vì phải thông báo hàng ngày, điện đi các nơi lệnh báo động B52, hoặc cho cảnh vệ cởi xe đạp mang tin đến tận tay những đơn vị đóng gần khu căn cứ thiếu bộ phận điện đài. Mặt khác còn phải chỉ thị, ra mệnh lệnh đối phó, phòng bị cho từng nơi di chuyển, tản cư.

***

—>Chương XVII (tiếp theo)

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, KIM NHẬT: Bóng Tối Đi Qua. Bookmark the permalink.

6 Responses to BÓNG TỐI ĐI QUA (Kim Nhật): Quyển III

  1. yen kapitan says:

    Câu chuyện quá hay và cảm động
    Cám ơn chị đã đánh máy và chuyển đến cho cộng đồng Việt được đọc

    Like

    • Lê Thy says:

      @ yen kapitan

      Không có gì mà cám ơn YK ơi. Còn thở được, mấy ngón tay chưa bị chứng đau khớp, thì ráng hết sức phổ biến những tác phẩm xưa để mọi người được đọc lại (nếu đã đọc rồi chắc cũng đã quên!)
      Mến,
      Lê Thy

      Like

  2. Lão họ Lục says:

    Cảm ơn Chị Lê Thy đã nhiều công đánh máy để đưa tác phẩm BÓNG TỐI ĐI QUA của T.G. Kim Nhật được lưu cữu trong lòng người dân Cờ Vàng. Một câu chuyện rất thật và rất hay. Tháng 7/1969 tôi bước vào quân trường rồi ra SĐ1 chiến đấu. Tôi đã không biết tác phẩm này, và sự ghê tởm của bọn cầm quyền cộng sản bắc việt. Rất cảm ơn Chị.

    Like

  3. yen kapitan says:

    Cám ơn chị Lê Thy đã đánh máy chuyển tải câu chuyện đến người đọc, câu chuyện quá cảm động, anh Kim Nhật quá thông minh và chung tình, một chuyện tình quá đau thương mà hai anh chị đã gánh chịu vì không còn cách nào khác dưới bàn tay thâm độc dã man của cộng sản khát máu , mong anh Kim Nhật có thêm nhiều chuyện nữa, chúng tôi đã đọc gần hết chuyện của anh trong mục lục mà chị Lê Thy chuyển đến

    Like

  4. yen kapitan says:

    Không biết bây giờ anh đang sống tại nước nào , hy vọng không phải tại VN
    Mong anh có được cuộc sống hạnh phúc và một mái ấm gia đình vì anh deserve for that

    Like

  5. Le chi says:

    Đoạn kết quá thuong đau. Mong là anh Vũ Hùng được sống bình an ở một nơi nào đó. Hiền quá bất hạnh !

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s