BÓNG TỐI ĐI QUA (Kim Nhật): Quyển III

ĐOẠN KẾT

Những tiếng pháo 105 ly nổ gần làm tôi giật mình tỉnh giấc. Tôi mò lấy đèn pin, bấm soi đồng hồ tay. Mới 5 giờ sáng.

Suốt đêm qua, cái ý nghĩ mình được «thoát củi sổ lồng» làm tôi nôn nao không ngủ được. Một nỗi nôn nao rạo rực lẫn với sự hồi hộp, một sự pha trộn tình cảm và diễn biến tư tưởng mâu thuẫn buồn cười.

Tôi hết ở trạng thái này lại chuyển sang trạng thái khác như chong chóng. Cho đến lúc vừa mòn đi trong giấc ngủ chập chờn thì tiếng pháo lôi tôi tỉnh dậy.

Trong hầm nực nội quá, tôi bò ra miệng hầm đốt đèn lên ngồi hút thuốc lá. Hồi 10 giờ đêm, tôi đã đến nhà anh thợ may chờ lấy bộ đồ vừa may xong. Nón và xách mây thì còn gởi lại nhà bác nông dân đằng kia.

Đêm về sáng, nghe lành lạnh làm tôi tỉnh như sáo sậu. Và đêm nay sao dài. Thật dài.

Cậu thanh niên chiến sĩ của cơ sở thu mua cũng vừa thức dậy bò ra nấu cơm sáng.

6 giờ thì Bảy thức dậy, cùng ngồi vào ăn cơm sáng. Tôi quyết định, ăn cơm xong là tôi lên đường. Tôi sẽ thay bộ đồ mới, thế nào Bảy và cậu thanh niên này cũng thắc mắc, tò mò trước hành động có vẻ «lạ» và bất thường của tôi.

Nhưng còn biết làm sao bây giờ? Dịp may đâu thể có hai lần? Thời cơ đến, cơ hội nghìn năm một thuở, bằng mọi cách tôi phải nắm cho kỳ được. Tôi đã chờ đợi hơn ba năm trời để có được ngày hôm nay kia mà.

Trước 6 giờ sáng tôi không đi được đã đành. Nhưng sau 7 giờ khi nắng đã lên, những người «nông dân giả hiệu» bắt đầu chường mặt ra sát lộ và lúc đó, những người đi chợ sáng cũng đã đến chợ lâu rồi thì tôi làm sao thoát qua cái cửa ngõ của xóm này được trơn tru? Thời cơ của tôi được hạn định trong quãng thời gian ngắn ngủi đó.

Tôi nhai cơm mà tưởng chừng như mình nhai sạn, nuốt không trôi. Trống ngực cứ đánh thình thình.

Mắt cứ láo liêng, nhấp nhỏm nhìn kim đồng hồ. Từng tiếng «tích tắc» rất khẽ nhưng làm vang vội trong tim tôi.

Không thể đừng được. Tôi cố trấn tĩnh lấy mình, cố giữ cho giọng được tự nhiên bảo Bảy:

– Ăn cơm xong là tôi phải đi ngay đó anh Bảy!

Bảy hỏi tôi:

– Anh đi đâu mà sớm vậy? Đi ra khỏi nhà giờ này nguy hiểm lắm đó anh Tư!

– Anh có bao giờ nghe nói đến tên chị Sáu Xoa không? Trước đây có biệt danh là «chị Sáu y vụ» đó?

– Dạ, không! Sao anh?

– Trước kia chị Sáu Xoa là Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Đức, ở T6. Bây giờ rút về Miền là ủy viên Trung Ương Cục, nằm trong Hội đồng Cung Cấp Trung Ương. Hồi trưa hôm qua tôi gặp chỉ xuống công tác ở đây, chỉ dặn tôi hôm nay đúng 6 giờ rưỡi sáng đến nhà chị Hai trên kia, gặp chỉ để liên lạc với tôi vài công tác.

Cố vét hết miếng cơm trong chén cho vào miệng, tôi tiếp:

– Bây giờ 6 giờ hơn rồi. Tôi phải sửa soạn để đến gặp chỉ mới được. Vậy anh ở nhà coi dùm cái bồng của tôi nha. Ngoài quần áo đồ dùng còn có một ít tài liệu quan trọng. Có gì, anh chạy nhớ mang theo dùm tôi.

Bảy cười:

– Dữ hôn! Tưởng gì chớ chuyện đó, anh đừng lo. Anh yên tâm đi.

– Bữa nay, tôi sẽ bận đồ mới, bận đồ âu phục cho ra vẻ dân thành thị, làm lé mắt thiên hạ chơi.

Tôi cười, Bảy và cậu thanh niên cũng cười, vui vẻ. Không ai ngờ gì lời nói láo của tôi cả. Vậy là trơn tru rồi. Tôi nghe nhẹ nhỏm trong người như vừa trút được gánh nặng.

Tôi xách chén đũa ra sau rửa sạch và trở vào bắt đầu thay quần áo. Áo sơ mi bỏ ra ngoài, phủ sợi thắt lưng và khẩu P38 đeo lủng lẳng bên hông. Tôi xỏ chân vào đôi dép cao su trắng nõn, bước vội ra cửa, đi thẳng đến nhà bác nông dân đan rỗ trưa hôm qua để lấy nón và xách mây. Trên đường, lác đác có nhiều người đàn bào kẻo kẹt gánh hàng đi chợ sáng.

Bác nông dân đang ngồi trên bộ ván giữa nhà, uống trà một mình. Thấy tôi bước vào, bác ta cười thành tiếng:

– Chà! Bữa nay chú cởi lốt rồi. Giống hệt thanh niên ở đây. Coi cũng ra vẻ thầy chú dữ chớ!

Tôi thấy hả hê trong lòng, quên cả lời chào:

– Dạ, giống lắm hả bác?

– Ờ, giống lắm! Giống y khuôn! Ủa! Mà chú tính đi đâu bây giờ? Sớm quá vậy! Uống nước chú!

Tôi ngồi ghé xuống góc ván:

– Dạ, cháu có việc phải đi ngay bây giờ. Bác cho cháu xin cái xách mây với cái nón lá….

– Ờ, gấp vậy?

Tuy miệng nói thế, nhưng bác cũng vào trong mang cái xách mây và chiếc nón lá cũ ra trao cho tôi:

– Đâu! Chú đội nón lá rồi xách giỏ đi tới đi lui cho tui coi thử coi!

Tôi đỡ lấy nón đội lên đầu, đứng dậy xách giỏ làm theo lời bác. Bác cười ha hả:

– Bậy quá! Đội nón thành ra bậy. Giống cái gì cũng không biết nữa. Thêm cái xách, cha chả! Giống mấy thằng chệt chủ tiệm chạp phô ở ngoài Suối Sâu hết sức.

– Vậy càng tốt chứ, bác!

– Ờ, thì tốt. Nhưng dòm chú, tui thấy cười quá đi. Lớ quớ du kích nó tưởng lầm nó bắt chú cho coi.

Tôi vội vã:

– Dạ, bây giờ cháu đi nghe Bác. Trưa không chừng cháu về tới.

– Ờ! Chú đi! Trưa có về sớm, ghé nhà tui nhậu chơi!

Tôi đội nón xách giỏ bước ra đường. Từ trong nhà bác ta hỏi vọng ra:

– Ủa, chú đi đâu đó? Đường đó thẳng ra ấp chiến lược Suối Sâu đó!

Tôi nói với vào để bác khỏi thắc mắc:

– Dạ, cháu đến gặp mấy anh em an ninh, gác đường ở đằng kia!

– Ờ, chú có muốn gặp họ, giờ này họ còn ở trong nhà. Phải vô nhà mới gặp, chớ hổng có mạng nào ở ngoài đường đâu.

À! Thế lại hay. May cho tôi biết bao nhiêu. Tôi định bụng rằng nếu đi ngang đó, có ai kêu thì tôi sẽ chạy thục mạng túng quá tôi buộc lòng phải nhờ đến khẩu P38 giải vây. Vì định vậy tôi mới mang theo khẩu súng chứ không thì tôi mang theo làm gì cái thứ nguy hiểm giết người đáng ghét này.

Tôi bước nhanh hơn. Ngoài đám đất trống cạnh đường không có ai cuốc xới gì hết. Cách đường chừng vài mươi thước về bên trái, có hai gian nhà lá nhỏ, ẩn sau rặng trúc, khỏi toả nhẹ bay lên cao. Không biết trong đó, những đôi mắt lạnh lùng hiểm ác có trông chừng ra đường và quãng ruộng trống chạy dài đến ấp chiến lược?

Cửa ngõ đây rồi. Tôi hồi hộp vô tả. Tôi sửa lại chiếc nón, chuyền cái xách mây sang tay trái để tay mặt được rảnh, khi cần tôi có thể cho tay vào bụng rút súng một cách mau chóng. Giờ phút cực kỳ nguy hiểm cho tôi đã bắt đầu. Thần kinh tôi căng thẳng sẵn sàng trong tư thế chuẩn bị đối phó một mất một còn.

Con đường nghe như dài ra. Tôi bước mãi, bước mãi. Không khí buổi sáng sớm vẫn yên tĩnh, bình thường. Liếc mắt nhìn vào phía trong nhà thật nhanh, tôi không thấy gì cả. Tai tôi thoáng nghe có tiếng chén đũa, nồi niêu chạm nhau nghe lanh cách. Người ta đang ăn cơm đấy chắc!

Trước mặt tôi là khoảng ruộng trống và ven cây xanh um. Những chiếc xe đò chạy vun vút trên đường quốc lộ số 1. Đã ra đến đồng trống. Vượt qua cửa ngõ một cách an lành. Chân tôi rảo bước nhanh hơn và không dám nhìn quay lại.

A! Thế là thoát! Ấp chiến lược là đây. Những trụ sắt và những hàng rào dây thép gai sừng sững, chạy dài theo ven ruộng.

Tôi đã đợi chờ suốt ba năm trời, làm đủ mọi cách để có được giờ phút hôm nay. Cơn ác mộng và nguy hiểm rời xa trong phút chốc.

Nhìn lại rặng cây phía sau lưng, chỉ một cánh đồng con ngăn cách mà hai lối sống, hai khung trời khác biệt. Tôi thở một tiếng dài, nhẹ nhỏm, lâng lâng tưởng chừng có thể bay bổng tận chín tầng mây. Từ nay, tôi là của tôi, không thuộc về bất cứ ai. Tôi lột chiếc nón lá liệng xuống bờ ruộng. Liệng luôn cả cái xách mây. Tôi tháo sợi thắt lưng ra, khẩu P38 im lặng vô tri, tôi ngỡ ngàng nhìn nó một lúc, đoạn ném mạnh xuống mương sâu, dọc bờ rào.

Tôi không là con người của chiến tranh. Vũ khí ư? Xin trả về với đất!

Tôi phủi tay, sửa lại áo quần cho ngay ngắn, bước qua cửa rào, đi thoăn thoắt ra đường số 1, giữa hai hàng nhà dày đặc của ấp chiến lược Suối Sâu…

Nắng đã lên, nhuộm vàng khoảng đường trước mặt.

***

9 giờ 40 sáng, xe đò về đến Ngã Sáu Sài Gòn. Ngày tôi đi khỏi Sài Gòn, ngày mùng 4 Tết năm Quý Mão nhằm 28 tháng 1 năm 1963. Và hôm nay, tôi trở lại Sài Gòn là ngày 7 tháng 8 năm 1966. Tính ra, tất cả 1287 ngày mà tôi tưởng chừng như dài cả một đời người, với không biết bao nhiêu hoàn cảnh đã xảy ra.

Giờ, được nhìn thấy lại Sài Gòn, tôi ngỡ một thành phố xa lạ nào. Ngã tư Bảy Hiền đường Nguyễn văn Thoại, nơi xe chạy qua, trước kia là vườn cao su, là những bãi đất trống, những vũng sình lầy lội nay biến thành những dãy phố lầu, những cao ốc, những cơ sở thương mại, kỹ nghệ, và những cơ quan nhà nước.

Tôi ngơ ngáo như một chú Mán rừng, nhìn mãi không thôi.

Suốt trên quãng đường từ Suối Sâu về đến Sài Gòn, may mắn thực, tôi không một mảnh giấy lộn trong lưng, qua rất nhiều trạm kiểm soát, xe ngừng lại để cảnh sát khám xét nhiều lần nhưng tuyệt nhiên không người nào hỏi đến tôi.

Có lẽ sự hưởng thụ tự do làm cho tôi có một khuôn mặt rạng rỡ, trong sáng, hiền lành. Nó biến tôi trở thành một con người đặc hiệu, không thể lầm lẫn với những bộ mặt héo hắt u ám, đầy những dấu vết tàn bạo, hung hãn đáng nghi ngờ.

Tôi gọi Taxi về thẳng nhà tôi như một người du lịch xa mới về. Con đường quen thuộc. Nhà tôi vẫn như xưa. Duy có cửa đóng im ỉm. Tôi thoáng chút băn khoăn: không biết hai em tôi còn ở đây hay nhà đã bán cho người khác? Những gì đã xảy ra ở căn nhà đó trong ba năm trời qua?

Tôi xuống xe. Trên đường, xe cộ vẫn tấp nập, nối đuôi nhau qua lại như đàn kiến khổng lồ.

Tôi xoay quả nắm, đẩy vào. À, cửa không khoá. Trong nhà, đồ đạc bày biện vẫn như xưa. Cũng vẫn bộ xa-lông màu đỏ, chiếc tủ búp-phê mi-ca xanh điểm trắng, cũng những bức tượng bằng thạch cao và những đồ chơi của hai em tôi gắn trên tường, trên giá sách ngăn giữa nhà. Tôi chạy thẳng vào nhà sau, vào trong bếp với niềm vui vô hạn.

Nhà vắng hoe. Trên bếp, hai chiếc nồi nhôm đậy kín với những đốm thau hồng. Tôi quay ra, ba chân bốn cẳng nhảy sầm sập lên thang gác.

Tôi chợt nghe tiếng quen thuộc thân yêu của má tôi vọng xuống:

– Làm gì mà con chạy đùng đùng dữ vậy, Dũng?

Câu nói của má tôi vừa dứt thì tôi vừa ló đầu lên gác. Má tôi ngồi quay lưng về phía cầu thang, đang lột cam trên ghế. Người chưa hay tôi đã về.

Nghe tiếng động sau lưng, má tôi quay lại. Bỗng má tôi giật mình, sững sốt buông rơi dao xuống bàn:

– Trời ơi! Con! Hùng!..

Má tôi oà lên khóc. Nước mắt tuôn trào chảy dài xuống đôi má nhăn nheo. Hai vai người run run. Hai tay đưa về phía tôi.

Tôi cũng chỉ thốt lên được:

– Má!

Hai má tôi nóng hổi. Nước mắt bỗng nhiên ràn rụa. Và tôi đứng chết sững ở đó nghẹn ngào:

– Má ơi!

Tình yêu thương và nỗi vui sướng ngập tràn đã làm tôi như trẻ con bé bỏng thuở còn thơ ấu. Mẹ tôi, hai em tôi mừng không sao xiết kể.

Chiều lại, sau khi cho gia đình tôi biết chuyện tôi và Hiền, tôi đi hớt tóc, tắm rửa, mở tủ ra lấy quần áo của tôi còn để lại ngày trước, vận thật sang, chải chuốt để đến nhà Hiền.

Cúc buổi chiều không đi dạy học, nó đòi theo:

– Anh Tư! Anh cho em đi với. Cho em gặp mặt chị dâu em với mà.

Tôi gạt đi:

– Để tối đã! Tối tao sẽ đưa chị em bây đi chơi. Tha hồ mà nói chuyện. Còn bây giờ…thôi để mình tao đi.

Nói xong tôi ra đường đón xe. Nắng trên đường rạng rỡ.

Xe qua lại không ngừng, nhưng tôi chờ mãi hơn mười lăm phút không gặp một chiếc taxi, xích lô máy nào còn trống. Cả xích lô đạp cũng không. Những năm trước, đón xe đâu có chờ lâu thế này? Thiên hạ Sài Gòn đi đâu mà lắm thế, đến nỗi không chừa cho tôi một chuyến xe?

Tôi nôn nao, sốt ruột lạ. Tôi muốn gặp Hiền của tôi ngay bây giờ. Năm ngoái nàng đã trốn thoát ở đường 13. Nhưng nàng không được may mắn như tôi. Cảnh vệ bắn nàng bị thương. Không biết vết thương ấy trúng nơi nào nhỉ? Tôi băn khoăn lắm. Hiền bây giờ làm gì? Có nhớ tôi nhiều và đã chuẩn bị những gì để chờ đợi tôi?

Tôi nhớ đến đôi mắt, đôi môi, mái tóc hết quăn pha màu cỏ cháy vì nắng gió của trời Đồng Nai Thượng.

Tôi khẽ hát bài «Qui sait! Qui sait». Tiếng hát lẫn với tiếng động cơ xe chạy ồn ào trên đường.

Nhà của Hiền tôi đây rồi. Tôi ra hiệu cho xe dừng lại. Trả tiền xong, tôi đứng tần ngần một lúc, nghe lòng mình nôn nao, ngượng ngập như tình yêu vừa đến thuở ban đầu. Lúc ở nhà, tôi hăng hái bao nhiêu, giờ đến cổng nhà nàng tôi e dè lúng túng bấy nhiêu.

Đến đây, đâu phải chỉ có riêng hai đứa tôi trong ngôi nhà này? Còn có ba nàng, má nàng, anh chị nàng, em nàng. Tôi sẽ tự giới thiệu làm sao? Tôi đối với gia đình nàng hoàn toàn xa lạ, chưa có chút cảm thông, chưa có chút tình cảm…Khó đấy chứ!

Ngày xưa, trong rừng sâu chỉ có hai đứa, thực dễ dàng. Bây giờ, còn gia đình, còn có bao nhiêu là liên hệ.

Nhưng dù sao chắc Hiền cũng tôi cũng đã thú thật cho gia đình biết hết cả rồi. Những điều tôi lo ngại âu là lo vẩn lo vơ?

Tôi trấn tĩnh tinh thần mình bằng cách ưởn ngực ra, ngẩng mặt lên bước từng bước một, chậm chạp, cố lấy lại «phong thái» ngày xưa.

Nhà nàng là một biệt thự rộng. Trước sân có trồng một vườn hoa nhỏ.

Hai đường trải sỏi vòng hai bên. Cửa nhà mở rộng. Bên hông nhà phía mặt chiếc xe Peugeot 403 đen quay đầu ra, 2 đèn xe như 2 con mắt trắng dã trợn trừng. Nhà sao vắng quá? Không thấy ai thấp thoáng. Hay nàng đi chơi rồi chăng?

Tôi đưa tay nhấn chuông. Từ trong cửa, một mái đầu quăn thò ra nhìn. A! Hiền của tôi đây rồi! Tôi suýt la lớn lên gọi nàng. Nhưng khi cả mái đầu, khuôn mặt và chiếc «rốp xắc» hiện thân ra khỏi cửa, tiến về phía cổng thì…tôi đã lầm.

Không phải Hiền! Không phải Hiền nhưng giống Hiền làm sao.

Vân đây chăng? Chắc là Vân! Bởi Hiền có cho tôi biết, nàng có một người em gái tên Vân, nhỏ hơn nàng một tuổi. Hai chị em giống nhau như đúc. Vân ngoan lắm, thương chị lắm. Lúc Hiền còn ở nhà, hễ đi đâu chơi đều có chị có em. Cho đến bất cứ một «âm mưu vặt» nào trong nhà là y như hai chị em đều thảo luận «mưu mô» với nhau.

Vậy là Vân rồi! Tuy chưa gặp Vân lần nào nhưng sao tôi nghe như thân thiết lắm. Tôi chợt loé lên ý nghĩ phá Vân một chút chơi. Chắc là vui lắm. Tôi thấy mình dạn dĩ lên, quên mất cái tâm trạng bất bình thường khi vừa đến.

Vân ra đến, nàng không mở cổng, chỉ gật đầu nhẹ chào tôi rồi hỏi:

– Thưa ông hỏi ai ạ?

Tôi cười, nheo nheo mắt, trêu lại:

– Em là Vân phải không?

Mặt nàng đột ngột cau lại. Hai hàng chân mày xếch lên. Đôi mắt bất mãn, khó chịu nhìn chòng chọc vào mắt tôi. Giọng nàng nặng chình chịch:

– Xin lỗi ông! Ông là ai?

Tôi chỉ cười không trả thời, thư thả móc thuốc ra châm hút. Tôi thấy mắt nàng như có lửa:

– Ơ hay! Ông là ai? Tôi chưa hề quen biết ông mà! Sao ông biết tôi? Có chuyện gì thế ông?

– Gì mà cau có vậy Vân? Chưa biết anh thì…cứ mở cổng rồi vào nhà sẽ biết anh chứ gì!

– Cái ông này! Xin lỗi ông. Ông nên lịch sự một chút! Ông muốn hỏi ai?

Tôi lại cười:

– Anh hỏi Vân. Mà này, đừng nóng. Chưa chi đã giận hờn một cách lãng òm. Có chị Hiền ở nhà chứ Vân?

Đột nhiên, nàng giật mình sửng sốt, mở mắt lớn nhìn tôi. Thái độ giận dữ thoáng cái đã biến đi mất, trở thành kinh dị. Nàng thở hổn hển đưa tay lên đè ngực:

– Trời ơi! Ông là…anh là…

Tôi cười lớn thành tiếng, vui vẻ thật sự

– Gì mà em ngạc nhiên dữ vậy, Vân? Ừ! Anh là Hùng đây. Chắc Hiền đã kể cho em và gia đình biết chuyện anh và Hiền rồi chớ gì? Em giống Hiền quá. Em là Vân, anh biết ngay mà!

– Dạ….em là Vân. Em đâu ngờ…

– Chị Hiền có nhà chứ em?

– Dạ…mời anh vào. Chị Hiền em đi vắng. Anh vào nhà chơi rồi gặp chị Hiền em sau.

Vân lách cách mở cộng. Nàng đi trước, tôi theo sau vào nhà. Sỏi dưới chân tôi kêu rào rào, nghe vui tai làm sao.

– Ba má có nhà chứ Vân? Tôi hỏi.

– Dạ ba má đi Cấp chơi với mấy em. Có lẽ tối lắm mới về tới, ở nhà có mỗi mình em với dì Năm.

Ngồi xuống ghế xa-lông ở phòng khách, Vân mang đến cho tôi một cốc nước trà để trước mặt:

– Mời anh uống nước! Anh chắc mới về đến Sài Gòn phải không anh?

– Anh về đến hồi trưa này.

Nàng ngồi đối diện với tôi, nhìn tôi đăm đăm.

Dường như nàng muốn tìm xem tôi có gì khác lạ, có còn dấu vết nào của núi rừng vương lại trên gương mặt, mái tóc, làn da, cách phục sức cũng như giọng nói, đặc biệt của cái thế giới mà nàng chưa biết.

Đột ngồi Vân hỏi tôi

– Anh về chiêu hồi phải không anh?

Tôi nhìn sững nàng

– Em nói gì, anh không hiểu? Sao lại chiêu hồi? Suốt nhiều năm trời nay anh chưa hề nghe đến danh từ đó. Lúc anh còn ở Sài Gòn cũng như lúc anh ở trong rừng anh cũng chưa được nghe chưa được biết.

– Ủa sao kỳ vậy? Vậy anh không có nghe đài phát thanh, không có coi vô tuyến truyền hình, cũng không đọc báo, truyền đơn, bươm bướm máy bay rãi xuống sao?

Tôi cười

– Vô tuyến truyền hình thì trong rừng làm gì có Vân? Còn radio thì cấm nghe đài Sài Gòn, đài quân đội cả những đài thuộc thế giới tự do. Ngay cả đài Phát thanh giải phóng đài Hà Nội, đài Bắc Kinh, đài Mạc Tư Khoa anh còn không nghe lần nào nữa kia. Sách báo thì không bao giờ có. Còn truyền đơn bươm bướm mà em nói đó, anh cũng chưa được thấy, chưa biết gì cả. Nơi anh ở đâu có rải truyền đơn.

– Bộ anh ở nơi nào xa lắm sao?

– Xa! Gần biên giới Miên. Nơi anh ở là cơ quan đầu não chỉ huy cuộc chiến tranh ở miền Nam này.

Vân có vẻ e dè, thắc mắc:

– Vậy…Anh không về…Vậy anh còn hoạt động cho đằng kia nữa sao?

– Không! Anh không còn dính líu gì hay hoạt động gì cho bên kia. Anh chỉ biết có mỗi một điều, trước kia anh bị họ bắt buộc, đe dọa phải đi theo họ. Anh là nạn nhân chiến tranh. Chính quyền, quân đội không bảo vệ được cho anh, anh phải đi. Bây giờ có cơ hội trốn được là anh trốn về. Nhà anh ở Sài Gòn. Đời sống bình thường của anh là một sinh viên Luật Khoa ở Sài Gòn. Anh trở về tiếp tục lại đời sống đó.

– Nói như anh, vậy đâu được. Những cơ quan an ninh đâu có để anh yên. Người ta sẽ bắt anh về cái tôi theo VC.

– Anh có theo VC đâu? VC bắt anh phải theo họ mà. Ai muốn gán ghép cho anh cái gì cũng được. Người ta lại buộc anh phải chấp nhận điều người ta có quyền nghi kỵ thì…quả là chua xót cho anh. Buồn lắm đó. Nhưng thôi! Chị Hiền có nói với em chị Hiền đi chừng nào về không? Mà chị Hiền đi đâu vậy?

Vân bối rối, mất tự nhiên. Đôi mắt nàng không dám nhìn tôi mà nhìn xuống đất. Tôi thắc mắc, lấy làm lạ về thái độ đó của Vân. Hiền đi đâu, Hiền làm gì mà Vân phải bối rối muốn giấu tôi?

Hay Hiền đã….đã có chồng?

Trời ơi! Hiền đã có chồng rồi sao? Hiền đã quên tôi quên những lời hứa và mối tình gắn bó ngày nào. Tuy chưa cưới hỏi, tuy gia đình đôi bên chưa biết nhưng tôi và Hiền đã là vợ chồng.

Đã sống như một đôi vợ chồng với đầy đủ nghĩa của nó. Hai đứa biết nhau từ a tới z, chung chăn gối, chung một cuộc đời, chung một nghịch cảnh và cũng chia sẻ với nhau, nương tựa vào nhau mà sống trong vui buồn cay đắng có nhau.

Tình đó, nghĩa đó thoắt chốc biến thành sương khói. Tôi nghe nghèn nghẹn ở cổ, đau buốt trong tim. Một nỗi chán chường, chua xót từ đâu kéo đến làm tôi như kẻ mất hồn:

– Vân! Việc gì em phải giấu anh, Vân? Nếu…nếu sự thể nó xấu, nó buồn cho anh đến ngần nào đi nữa, anh vẫn chịu được mà. Anh là con trai. Anh không hèn đâu. Anh có thể chết nhưng anh không thể hèn. Ừ, anh không thể hèn…

Vân nhìn tôi với đôi mắt thật buồn, cũng thoáng chút ngơ ngác. Nàng hơi nhíu mày:

– Anh nói gì em không hiểu?

Tôi nghĩ mau và quyết đoán rằng, chắc chắn Hiền đã có mặt ở nhà sau, chứ nàng không hề đi đâu vắng. Có thể, còn có một người đàn ông nào đó nữa, cho nên nàng không muốn tôi gặp mặt. Không muốn tiếp, không muốn nói chuyện với tôi. Hừ! Nàng đẩy cho em nàng cái trách nhiệm nói thay nàng…

Vân đưa ngón tay lên miệng, cắn giữa hai hàm răng, nàng cúi đầu có vẻ khó nghĩ, ngồi im. Một lúc, nàng từ từ đứng dậy:

– Xin mời anh theo em!

Vân định bày trò gì nữa đây? Đi đâu? Theo nàng để làm gì? Tự dưng tôi mỉm miệng cười – cái cười chua chát và ngạo mạn. Được! Đi thì đi! Thử xem người ta muốn bày trò gì nữa?

Vân bước qua cửa ở cuối phòng khách, vào trong. Tôi cho hai tay vào túi áo veste, lửng thửng bước theo. Phía sau phòng khách, hai bên có lẽ có buồng ngủ, cửa khép kín. Giữa nhà là gian phòng trống, để hai cái bàn thờ. Một cái lớn, một cái nhỏ.

Hai chiếc đèn chong leo lét, lạnh lùng.

Vân đến trước bàn thờ nhỏ, đôi mắt đăm đăm nhìn lên tấm bài vị vải kim tuyến đỏ và khung ảnh, đứng im.

Qua cửa cuối phòng khách, thấy cử chỉ Vân như vậy, lạ quá, tôi bỗng nghe lòng mình dao động, linh cảm một chuyện bất thường. Đang ở trạng thái cau có bực dọc, khinh thường, đột nhiên tôi run lên, hồi hộp. Gì đây? Tôi sợ…

Tôi bước đến gần Vân, cùng nhìn lên bàn thờ…

Trời ơi! Bài vị đề tên Hiền. Khung ảnh của Hiền dựng ở đây. Bàn thờ này để thờ Hiền. Trời ơi! Trời ơi! Hiền của tôi chết rồi. Tôi hốt hoảng kêu lên:

– Trời ơi! Vân! Vân! Sao thế này Vân?

Tôi nghe như trời đất quay cuồng. Gian phòng đang sáng bỗng tối om. Tôi đứng sững như một pho tượng. Nước mắt tôi trào ra, chảy không ngừng. Hai dòng nước mắt trào xuống má, vòng theo mũi vào miệng. Vị nó mằn mặn. Tôi nuốt lấy.

Những giọt nước mắt của tôi. Tôi khóc cho tôi. Tôi khóc cho Hiền. Tôi khóc cho một phần đời tôi vụn vỡ. Hiền đi, Hiền đã mang theo nửa phần đời của tôi. Nửa phần đời đó chất chứa những nụ cười, chất chứa yêu thương và khung trời rạng rỡ của tình yêu và hạnh phúc.

Thế là hết, Hiền để lại cho tôi nửa phần đời oán hờn, thương nhớ với muôn ngàn vạn ức tầng cay đắng chất chồng lên mái tóc đang xanh.

Tuy chân dường như rủ liệt, tôi thất thểu như kẻ không hồn đến sát bàn thờ trân trối nhìn vào khung ảnh Hiền đang cười. Hiền ơi! Em đây hả em? Em đang nhìn anh đấy phải không em? Nhưng em đang ở đâu? Đang đứng nơi nào Hiền? Sao anh không sờ đụng em, không nghe hơi em thở, không được ôm cái thân thể nóng bỏng của em vào vòng tay của anh? Hiền! Hiền! Em ở nơi nào?

Không biết bao nhiêu khắc thời gian đi qua. Tôi như sống lại những ngày yêu đương tuyệt diễm với Hiền, với rừng xanh heo hút của trời Đồng Nai Thượng. Ngày đó, ngày đó vợ chồng mình vui quá phải không Hiền? Chúng mình sống, chúng mình cười, chúng mình quên thời gian trong ái ân, chúng mình dạy học, chúng mình làm rẫy…Rồi em đi trước, rồi anh đi sau. Em bàn anh điều này, em khuyên anh điều nọ, em bảo anh yên lòng, em chê anh bi quan…

Cái hôm mà anh bị sốt rét bên bờ suối, em đến tìm anh rồi chúng mình hôn nhau, nhìn hàng hoa chuối nước…Em còn nhớ chứ?

Tôi chợt nghe tiếng khóc oà lên bên tai và một bàn tay lay mạnh vai tôi. Tôi mới hay mình đang khóc.

Tôi lau nước mắt và không khóc nữa. Tôi rút mấy cây nhang và châm vào ngọn đèn, rồi cắm lên lư hương. Những sợi khói xanh, thơm mùi trầm, vẽ thành những đám mây nhỏ tản mạn bay lên trần nhà rồi biến mất. Ấy thế mà, trước đây mấy phút tôi đã nghĩ oan cho Hiền, nghĩ xấu cho vợ tôi, người vợ đã cưới rồi nhưng chưa cưới.

Tôi vừa bước trở ra phòng khách, gieo mình xuống ghế, Vân cũng rón rén theo sau. Tôi ngậm ngùi:

– Em biết về cái chết của chị thế nào? Em kể cho anh nghe đi, Vân!

Nước mắt nàng rưng rưng. Nàng thẩn thờ nhìn ra khoảng sân nhạt nắng.

– Tháng ba năm ngoái, một buổi trưa, có một sĩ quan ở Bộ Tổng Tham Mưu đến nhà báo tin cho ba má biết là chị Hiền muốn gặp mặt ba má tại Tổng y viện Cộng Hoà. Gấp lắm! Cả nhà chưng hửng, ngơ ngác và sợ sệt hết sức, không biết chuyện gì xảy ra. Bởi chị Hiền đi vào khu mấy năm nay, do anh Hai em cho người về rước. Thì làm gì có chuyện chị Hiền em có mặt ở Sài Gòn?

– Lúc đó em có mặt ở nhà chứ?

– Dạ, có! Cả nhà đang ăn cơm. Ở nhà ai cũng hồi hộp. Ba má thì sợ điếng hồn. Thứ nhất là thấy ông sĩ quan đó bảo là làm việc ở Tổng Tham Mưu. Ba sợ bị dính líu vào một vụ chính trị nào đó, và cơ quan tình báo họ biết gia đình có người vào khu. Những vụ như vậy, ba có thể bị điều tra rắc rối lắm.

Vân lấy khăn tay lau mắt, tiếp:

– Lúc đầu ba bối rối, chối là không biết, không quen với người nào tên Hiền. Con của ba không có người nào tên Hiền. Ông ta cười, lật sổ tay và quả quyết là không lầm. Rồi ông ta nhấn mạnh là chính chị Hiền lặp đi, lặp lại hai ba lần địa chỉ này cho ông ta biết.

– Ông ta không giải thích thêm gì sao?

– Có! Sau đó ông ta mới giải thích thêm, cho biết chính chị Hiền yêu cầu nhờ ông ta đến nhà cho ba má hay chị trốn thoát Việt Cộng ở đường 13 để về Sài Gòn, nhưng bị họ rượt bắn gãy tay trái và lủng bụng. Bị thương nặng như vậy, nhưng nhờ trốn vào lúc ban đêm, trời tối nên họ tìm không thấy. Sáng ra, đoàn xe tuần tiểu của tiểu Khu Bình Dương đến đó, gặp chị nằm mê man bất tỉnh giữa đường mới chở về Bình Dương cấp cứu rồi gọi phi cơ trực thăng chuyển ngay về Tổng y viện Cộng Hoà.

Vân lại cắn môi, cánh mũi phập phồng, lắc đầu không nói nữa. Tôi cố gắng để nói cho được trọn câu:

– Rồi…rồi Ba có nhận không em?

– Có!…Có! Ba…khóc. Còn má thì xỉu trong tay em. Cả nhà đều khóc ồ lên

– …Em có đi thăm chị Hiền hôm ấy không? Chị…chị có đau đớn nhiều không em? Chị ra sao hả em?

– Có! Em cùng đi với ba má. Em…có gặp chị và lúc đó chị đã tỉnh lại rồi. Người ta vừa mổ cho chị xong. Người ta…cắt mất cánh tay và quấn băng trắng lốp quanh bụng. Người ta đang truyền máu và để chị nằm ở phòng lạnh. Cấm không cho ba má và em vào thăm. Má phải khóc lóc năn nỉ mãi cả giờ sau mới được vào.

– Chị có nói được câu nào không, em?

– Có! Anh ơi…chị nói nhiều lắm, chị tỉnh lắm. Chị có kể lại chuyện chị và anh cho ba má em nghe. Nhưng…nửa chừng…nửa chừng…

Vân oà lên khóc lớn. Nàng tức tưởi:

– Nửa…chừng…chị…la lên một…tiếng rồi…trợn mắt…đi…luôn.

Không biết đến bao lâu sau, khi Vân ngừng khóc và tôi thở được một tiếng dài, thoát được hơi nất nghẹn trong buồng ngực ra thì Vân tiếp:

– Trước khi chị tắt hơi, chị nhìn em. Chị khóc, thều thào yêu cầu em, khi anh về thì….thì…

Tôi đập tay xuống mặt nệm ghế ngồi như một kẻ mất trí:

– Thôi, Vân!…Anh xin em! Anh không đủ can đảm để nghe hết đâu. Trời ơi! Anh đâu có ngờ là chị chết như thế này! Vô lý! Vô lý quá đi.

– Anh! Kìa anh! Cả nhà còn đau đớn hơn anh nữa kia! Bác sĩ cho biết chị mất máu nhiều quá, lại qua một thời gian dài mới được cấp cứu nên chị bị shock nặng nề, và đuối sức nên không sao cứu kịp.

– Mộ chị ở đâu Vân?

– Bên Gia Định. Nghĩa trang của gia đình bên đó.

– Anh nhờ em đưa anh đến thăm mộ chị. Đem cho chị mấy cành hoa, thắp vài nén hương để hồn chị đỡ bơ vơ nghe Vân?

– Dạ…

Vân đứng dậy, đưa tôi đi rửa mặt, đoạn khép cửa dẫn tôi ra đường. Ngừng xe ở chợ Bà Chiểu, tôi ghé vào mua vội một bó hoa Glaïeul. Màu hoa đỏ như màu máu. Nhìn hoa tôi nhớ khôn nguôi. Những cành hoa chuối nước đỏ rưng rưng bên suối ngày nào, kỷ niệm của ngày đầu hai đứa yêu nhau.

Ngày mới yêu, rừng dâng hoa cho hai đứa. Bây giờ tôi dâng hoa cho người tôi yêu, cho người vợ trẻ mãi mãi nằm trong lòng đất lạnh.

Nó là một kỷ niệm tuyệt vời, làm sao nhìn hoa, mà không nhớ đến người phải không Hiền?

Một khu mộ nằm yên tĩnh trong vuông tre xanh. Những đám hoa mười giờ cằn cỗi, mọc đó đây, lẫn với hàng cúc dại và mấy cây mãng cầu ta trái sai oằn.

Vân đi đến góc trong cùng, đứng trước nấm mộ xi-măng sơn vôi trắng toát, thì thào:

– Chị nằm đây, anh!

Tôi để bó hoa trên đầu mộ. Giữa mộ chí bằng đá cẩm thạch có gắn một đĩa tráng men, in ảnh Hiền. Ảnh màu, bản thân, với chiếc miệng cười thật tươi, thật vui. Tôi quỳ xuống, nhìn không thôi. Em cười với anh đó phải không Hiền?

Em đón mừng anh đó phải không? Anh đến với em đây!

Qua màn lệ nhoà, tôi thấy ảnh Hiền trở thành lớn hẳn lên, thật lớn. Tôi thì thầm với Hiền:

– Anh đã về với em rồi đây, Hiền! Từ hôm nay, mỗi chiều anh sẽ đến với em, em nhé! Em có còn nhớ không? Trước đây người ta thách thức anh. Anh đã chấp nhận lời thách thức. Em đã biết em phải làm gì. Anh lại càng biết mình phải làm gì để được nhiều hơn. Tự do phải đánh đổi bằng máu mới có được. Chính máu của em đó. Đời em đó. Từ ngày mai, anh sẽ bắt tay vào việc thực hiện phần thách thức còn lại.

Mỗi chiều, anh sẽ đến với em. Mỗi tối anh sẽ ngủ với em nhưng những giờ khác, anh phải làm việc, làm cho anh, cho em, cho vòm trời tự do của chúng ta đầy ánh sáng, rạng rỡ tiếng cười. Tiếng cười làm vỡ toang khung trời ma quỉ chập chờn âm u mà ta đã sống qua.

Em vui lòng chứ? Chắc chắn là em sẽ hài lòng khi thấy anh làm việc cho anh, cho em và cho chúng ta.

Qua bờ mi giăng nước, Hiền mỉm miệng cười. Trên cao, không gian bỗng sáng….

Sài Gòn, Đông Kỷ Dậu – 25-07-1969

KIM-NHẬT

– HẾT-

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, KIM NHẬT: Bóng Tối Đi Qua. Bookmark the permalink.

6 Responses to BÓNG TỐI ĐI QUA (Kim Nhật): Quyển III

  1. yen kapitan says:

    Câu chuyện quá hay và cảm động
    Cám ơn chị đã đánh máy và chuyển đến cho cộng đồng Việt được đọc

    Like

    • Lê Thy says:

      @ yen kapitan

      Không có gì mà cám ơn YK ơi. Còn thở được, mấy ngón tay chưa bị chứng đau khớp, thì ráng hết sức phổ biến những tác phẩm xưa để mọi người được đọc lại (nếu đã đọc rồi chắc cũng đã quên!)
      Mến,
      Lê Thy

      Like

  2. Lão họ Lục says:

    Cảm ơn Chị Lê Thy đã nhiều công đánh máy để đưa tác phẩm BÓNG TỐI ĐI QUA của T.G. Kim Nhật được lưu cữu trong lòng người dân Cờ Vàng. Một câu chuyện rất thật và rất hay. Tháng 7/1969 tôi bước vào quân trường rồi ra SĐ1 chiến đấu. Tôi đã không biết tác phẩm này, và sự ghê tởm của bọn cầm quyền cộng sản bắc việt. Rất cảm ơn Chị.

    Like

  3. yen kapitan says:

    Cám ơn chị Lê Thy đã đánh máy chuyển tải câu chuyện đến người đọc, câu chuyện quá cảm động, anh Kim Nhật quá thông minh và chung tình, một chuyện tình quá đau thương mà hai anh chị đã gánh chịu vì không còn cách nào khác dưới bàn tay thâm độc dã man của cộng sản khát máu , mong anh Kim Nhật có thêm nhiều chuyện nữa, chúng tôi đã đọc gần hết chuyện của anh trong mục lục mà chị Lê Thy chuyển đến

    Like

  4. yen kapitan says:

    Không biết bây giờ anh đang sống tại nước nào , hy vọng không phải tại VN
    Mong anh có được cuộc sống hạnh phúc và một mái ấm gia đình vì anh deserve for that

    Like

  5. Le chi says:

    Đoạn kết quá thuong đau. Mong là anh Vũ Hùng được sống bình an ở một nơi nào đó. Hiền quá bất hạnh !

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s