NHÀ AI (Nguyễn Đức Chính): ĐOẠN KẾT

ĐOẠN KẾT

Thiếu một thằng Tề chứ không thì đông đủ cả nhà. Nhưng cái tiểu gia đình của ông ký Thảo không phải vì thế mà bớt đông đúc, huyên náo.

Một buổi tối mùa lạnh, tính từ ngày bà Ký ở nhà quê cùng bốn đứa con lên đã được mười năm. Quãng đời mười năm ngồi đếm từng ngày thấy nó dài nhưng chính ra nó qua lúc nào người ta không hay.

Ông ký Thảo bốn mươi tuổi, tóc trên đầu đã thấy có nhiều sợi trắng, mỗi buổi trưa ông phải thuê mấy đứa con nhổ mỗi xu một chục, như vậy cũng đã mất chán xu. Trông người ông gầy hơn ngày trước nhiều, trông nghiêng đã thấy hơi khom khom, ấy là kết quả của những đêm thức đánh tổ tôm chứ không phải vì lo nghĩ. Tâm tính ông so với mười năm xưa cũng không thay đổi mấy tí. Cái ông Ký nhà băng ấy vẫn hiền lành thực thà và hơi gàn gàn cho nên vẫn theo cái đạo Tin Lành, ở Bắc- giang có một mình ông theo được lâu nhất. Thỉnh thoảng một đôi khi đi ở sở về nhà chợt nhớ lại buổi chiều ngày xưa, cái buổi chiều chủ nhật ông thủng thỉnh vừa đi vừa suy tính cho vợ con lên và cái chương trình mười lăm năm, ông bất giác thở dài. Ông thở dài nhưng không phải là ông buồn, chuyện đời xảy ra mới đến thế chứ nữa thì ông cũng đành.

– Có một người vợ đảm, có những đứa con ngoan, là may, bằng không nữa cũng phải chịu, thiên hạ người ta như vậy chứ có phải chỉ một mình mình đâu, việc gì mà giận, việc gì mà khổ.

Ông vẫn tự nhủ như vậy và trong câu truyện với ai, ông cũng tỏ ra ý ấy. Thằng con lớn ông là thằng Đức theo như ông tính thì chưa biết chừng đã đổ diplôme rồi cả Tú Tài, thằng con thứ hai là thằng Tề ngoan ngoãn ra lại có thể hơn nữa, nhưng bây giờ thằng Đức lông bông và thằng Tề đi theo một ban hát cải lương, sự đời xảy ra đến thế, hẳng biết thế. Ông không trông mong vào chúng nó chút nào nên ông cũng chẳng cần, nuôi được chúng nó bằng ngần ấy, học được ít nhiều có thể cần ở những năm học một cách sinh nhai, ông cho thế là đủ bổn phận lắm rồi. Còn lúc tuổi già của ông cũng không cần đến chúng nó, ông mới no đủ. Đi làm mươi mười lăm năm nữa lấy ra được hơn nghìn bạc đủ làm cái vốn duỡng lão, muốn được chắc chắn hơn nữa, mỗi tháng lại để dành ra hơn chục bạc; ấy là số tiền lương phụ cấp cho sáu đứa con ông mới xin được nhân kỳ ông Chánh sở đổi đi. Chỉ có bà Ký và thằng Đức không được.

Nhiều lúc, ông Ký ôn lại gia đình cụ Cử sinh ra ông ngày trước và so sánh với gia đình của mình hiện thời. Thì cụ Cử ngày trước đã chẳng lo tính cho các con mãi đấy ư, nhưng rồi sự đời có đến như ý muốn của Cụ đâu, rút cục lại, cụ cũng đành theo cái phương pháp cổ điển của những người cha là trai dựng vợ, gái gả chồng. Và gây dựng cho tám người con trai và bảy người con gái, đến lúc tuổi già, hỏi đứa nào đã nuôi cơm cụ được ngày nào chửa !

Buổi tối mùa lạnh ấy, ông Ký ngồi ăn cơm với thằng Hưng ở giường bên trong khi cả gia đình quây chung quanh ngọn đèn đặt giữa bàn. Thiếu một thằng Tề chứ không thì đông đủ. Con Dung mười bốn tuổi, năm trước trượt một lần Sơ-học Pháp-Việt ở Bắc-ninh, lúc ấy đang ngồi đan áo cho em:

– Con đan cái áo này cho thằng Hưng nốt hôm nay rồi con hẵng nghỉ, con còn bận nhiều bài lắm, nó mặc cái áo cổ lọ cũng được làm gì mà u cứ dục rối lên thế.

Bà Ký quay mắng con:

– Mày hư quá, có thế mà cũng ngại, mày thì có mấy bài, chẳng qua lại chúi vào quyển tiểu thuyết chứ gì.

Thằng Bân con ông cai Mai, ở nhà bác tính đến năm nay là sáu, ngày mới lên nó học lớp năm, bây giờ đã học lớp nhất, đang ê а học một bài học thuộc lòng, nhưng tay vẫn vân vê hòn bi. Thằng Vượng ngày mới lên được bốn tháng, lúc này đã học lớp nhì dưới. Con Ân Điển đẻ ngày ở gần nhà ông bà Mục-sư cũng lên tám và học lớp tư rồi. Thằng Hưng đẻ năm sau đã ăn cơm xong ngồi đánh vần bên cạnh bố đang đọc báo. Cả mấy đứa, mỗi đứa một việc nhưng thỉnh thoảng lại ngừng lại để gẫu chuyện làm anh lớn chúng là thằng Đức phải gắt lên:

– Chúng mày có mỗi đứa làm một việc, rồi lát nữa đi ngủ không. Phải đòn cả bây giờ.

Con bé Ân Huệ lên ba, đứa con út của bà Ký ngồi trong lòng mẹ nghe anh mắng, đang bập bẹ nói cũng im.

Thằng Đức mới về nhà được mấy hôm. Đã hai năm nay, nó không mấy khi ở nhà lấy tuần lễ. Từ ngày nó bỏ cái kỳ thi Brevet élémentaire, đã nộp đơn nhưng không đến trường, thì ông Ký không gửi cho một xu nào nữa. Tự nó kiếm lấy cách sống, cách học. Chỉ khi nào cùng bất đắc dĩ mới về xin cha mẹ một vài chục bạc. Năm đầu, nó còn bồng bột hăng hái thì tin rằng thế nào mình cũng phải đỗ cái bằng gì đấy, cho mọi người chung quanh, tính từ cha mẹ trở đi, không còn ai nói vào đâu nữa. Đến năm thứ hai, nó đã bắt đầu chán nản và đến năm nay là năm thứ ba, đứa con trai mười chín tuổi ấy thấy lòng nguội lạnh. Nó chán cả gia đình và chán cả nó nữa. Nhất là từ ngày thằng em nó bỏ nhà đi và theo ban hát cải lương. Người ta đã hỏi thăm nó mãi đến nỗi nó phải phát cáu một mình:

– Thế này thì không gọi là có gia đình nữa, thật là “bị có” gia đình.

Cái thằng Tề em nó ấy, kém nó ba tuổi giá nó đi làm rồi thì thể nào nó cũng đem về nuôi cho học mấy năm nữa. Nhưng tìm được việc làm có thể nuôi được em có phải dễ đâu! Không có bằng cấp này, lại ít tuổi, làm việc gì cũng chỉ đủ một mình hai bữa một ngày là cùng.

Ngay đỗ diplôme rồi, đi làm secrétaire về Résidence nào hay một ngạch nào cùng cadre ấy mỗi tháng cũng chỉ có ba mươi chín đồng!

Tự nhủ như vậy, nó thấy cái sự cần phải đỗ Bac (Baccalauréat= Tú Tài). Cần phải đổ tú tài. Nhưng đã đến lúc nó không còn cái thích thi đỗ và không có đủ điều kiện thi đỗ nữa.

Gia đình nó đã làm cho nó hằn học nhiều, lúc này nó lại càng băn khoăn dữ. Nó thấy thầy nó không xấu, u nó cũng không xấu nhưng nó bực vì thầy u nó không sao hòa thuận với nhau được. Những vợ chồng nhà khác họ yêu quý nhau không thì cũng kính mến nhau, không ai giống như cha mẹ nó. Kể lại cho một người bạn nghe, nó kết luận:

– Tôi cho sở dĩ có những sự bất hòa ấy vì thầy u tôi lấy nhau ngoài bổn phận ra không có một chút tình nào. Đúng như vậy chứ không phải hai người trái tính, trái nết nhau. Trên đời này làm gì có hai người giống nhau cũng như trên rừng xanh không có hai cái lá giống nhau như người ta thường nói. Hai người vì hoàn cảnh phải sống bên nhau thì thật lắm chuyện khó chịu. Sinh ra một lũ con nữa… giá thầy u tôi đừng lấy nhau thì phải. Tôi và thằng em, cả hai đứa cùng coi gia đình nhẹ như cái lông chim. Không phải chúng tôi không ưa gia đình, nhưng cái gia đình của chúng tôi khác kia, có những người cha người mẹ khác kia, nghĩa là cha mẹ tôi phải thay đổi tính nết nhiều lắm.

Người bạn cười, nó lại nói tiếp:

– Mọi người cùng cho chúng tôi là những đứa con hư, chính tôi cũng nhận như vậy. Ai lại có gia đình mà cứ bỏ đi lang thang. Nhưng có xét đến hoàn cảnh mới biết, giá đặt chúng tôi vào hoàn cảnh khác, có lẽ chúng tôi cũng ngoan như ai… Nhưng cái tiếng hư với ngoan từ cửa miệng thế gian thì có làm gì, điều tôi bực bội khó chịu nhất là mẹ tôi cứ phải ở gần cha tôi. Hai người đã không chịu được nhau, người nọ có lẽ đều làm người kia đau khổ mà không thể, không có cách nào phân rẽ mỗi người một nơi. Lại còn những chuyện lặt vặt như thầy tôi theo đạo Tin Lành, u tôi không theo, nhà tôi nghèo…

Đi lông bông từ nơi nọ đến nơi kia, thằng Đức lấy làm phiền bực vì những nỗi thiếu thốn về vật chất, nó sốt ruột muốn về nhà, nhưng về đến nhà, nó lại sốt ruột muốn đi. Cái gia đình của thầy nó, chỉ khéo tổ chức ra là vui vẻ lắm mà dường như ông Ký bây giờ bỏ mặc. Hôm vừa rồi, có ông Mục-sư ngày trước đi qua vào thăm, hỏi đến thằng Tề, ai lại ông Ký trả lời như thế này:

– Nó đi hát cải lương. Tôi bảo nó thích đi thì cho nó đi.

Sao lại có người cha không hiểu tâm lý con chút nào thế! Đi lang thang với mười sáu tuổi trên đầu, gần chết đói mới phải đâm vào gánh hát mà ông bố kêu là thích được.

Buổi tối mùa lạnh này, thiếu một thằng Tề thì đông đủ cả gia đình trong ba gian nhà. Ông ký Thảo đứng dậy mặc áo, với cái khăn và cái “can” trên mắc áo rồi nói gióng:

– Nào ra “séc” xem tờ báo một cái nào.

Bà Ký đưa mắt nhìn con, đợi chồng ra rồi mới bảo:

– Thầy mày vẫn có cái lệ như thế đấy, đi đánh tổ tôm nhưng cứ phải nói giáo là ra “séc” xem báo cơ. Mà vẫn đi đạo Tin Lành, thầy mày có đến chết cũng không bỏ được cái đạo ấy, tao lại càng khó chịu.

Con Dung ngừng đan nói trèo vào:

– Dạo mùa nực thì thầy bảo ra “séc” tắm. Tắm gì mà đến nửa đêm mới xong.

Thằng Bân cũng nói theo :

– Độ này bác chỉ hay đánh ở “séc” chứ không đánh ở nhà ông Văn Lẫm như năm ngoái.

Bà Ký mắng con và cháu:

– Chúng mày trẻ con biết gì mà cũng nói trèo vào.

Hai đứa tiu nghỉu lặng im, bà Ký lắc đầu thở dài :

– Chỉ tội nghiệp cái thằng Tề, rét mướt như thế này thì khổ sở đến đâu, may được cái chăn tao may cho và cái áo mày cho, có lẽ cũng đỡ. Giận nó thì giận thật nhưng mà tao vẫn thương. Giá những tao thì nó cũng chẳng đi đâu. Nhưng thầy mày tệ lắm kia.

Ngừng lại một chút để nhổ quết trầu, bà Ký lại tiếp :

– Nó hư nó đã biết lỗi của nó rồi mà thầy mày còn đay nghiến mãi. Một tiếng “thằng ăn mày kia”, hai tiếng “thằng ăn cắp kia”, chẳng tính cho nó đi học gì cả, nó ở nhà nó bực nên mới đâm đi.

Đến lượt thằng Vượng nói leo:

– Thầy bảo anh ấy “thằng Tề ở nhà thay vào thằng nhỏ bưng chậu nước giải”

Bà Ký bĩu môi

– Đấy mày cứ hỏi trẻ con thì biết chẳng lại bảo tao nói sai. Thầy mày cư xử có ra cái gì đâu. Đã cái thằng nó hay phẫn. Giá thầy mày cứ tính cho nó đi Hà-nội học hẳn hoi thì nó đã ngoan ngay.

Thằng Đức hỏi lảng sang truyện khác:

– Bà cụ Ấm độ này còn ở trên này không hử u? Ông bà ký Thu đã được đứa con nào chưa? À trong nhà bà thừa Minh thế nào, dạo này u có hay vào chơi không ?

– Bà cụ Ấm về nhà quê những dạo xưa rồi, ông bà ký Thu vẫn hiếm hoi, nhưng từ năm ngoái đến nay tao không hay ra chơi, ông bà ấy giàu, mình nghèo, tao không thích, chỉ trong bà Thừa, thỉnh thoảng tao vào một lúc, bà ấy năm nay được cái ty muối tháng lãi bốn năm chục, nhàn lắm rồi.

Thằng Đức chớp mắt bảo mẹ :

– Kể gia đình thì chẳng gia đình nào vui cả. Mỗi nhà lại buồn một cách.

Bà Ký cau mày :

– Nhưng mày xem có vợ chồng nhà ai như thầy mày với tao không ? Vợ chồng người ta quý mến nhau nhiều, vợ hơi ốm một chút là chồng đã tíu tít thuốc nọ thuốc kia, chứ tao thì đau bụng từ năm nào đến giờ, thầy mày có để ý gì đến đâu. Lại từ khi thầy mày theo cái đạo Tin Lành, tao lại càng khó chịu. Thầy mày nói nhiều câu khinh bạc chẳng ra làm sao cả.

Mấy tháng trước, tao thấy bà Phương bà ấy nói truyện rằng thầy mày được mười lăm đồng lương trẻ con, tao mới bảo đưa thêm cho tao lăm đồng nữa, không bây giờ nó đắt đỏ; thế mà thầy mày nhăn mặt bảo ; “Mình đã biết ngay, không cho biết thì thôi, chứ hở ra là nằng nặc đòi ngay, không chịu được !” Tao bực lắm, thầy mày cho tao như là một người làm hạnh, làm hại…

Thằng Đức ngắt lời mẹ:

– Con lại muốn đi u ạ. Ở chỗ khác thì sốt ruột muốn về nhà, nhưng về đến nhà, lại sốt ruột muốn đi. Con ở nhà mỗi tháng u lại tốn thêm chục bạc nữa thì u lấy vào đâu?

Bà Ký sầm mặt :

– Thì mày muốn đi thì mày đi tao giữ làm sao được. Đã một thằng Tề, tao buồn cả ruột, lại mày nữa, tưởng mày ở nhà rồi tính học hành, làm ăn gì.

– Nhưng ở nhà như thế thì u bảo con ở làm sao được.

– Thầy mày cả, chứ tao còn có sự gì. Không phải chỉ chúng mày như vậy đâu, những đứa bé lớn lên, đến tuổi đi được nó cũng đi chứ cũng chẳng ở gần thầy mày được đâu. Tao cũng tính cho tao rồi.

Hai mẹ con lặng im mỗi người buồn một cách.

Thằng Đức lắc đầu chán rồi chép miệng thở dài. Cảnh xẻ nghé tan đàn có thể xảy tới cho gia đình nó lúc nào không biết. Bà mẹ đã nói ra miệng đến như thế, thì ông bố chắc cũng không lạ gì. Vậy mà không ai nghĩ đến cách chữa. Ngẫm nghĩ chán, nó hỏi mẹ :

– Nghĩa là u nhất định ở riêng chứ gì ! Nhưng nếu thầy đổi tính nết thì trong nhà có vui vẻ được không. Theo u thì thầy phải cư xử như thế nào ?

Thong thả, bà Ký trả lời :

– Thầy mày chỉ khéo một chút thôi, ở những câu nói, ở những cử chỉ. Thầy mày bỏ cái đạo Tin Lành và những cái khó chịu đi, chăm chút vào gia đình vào con cái, thế là tự khắc chẳng đứa nào bỏ đi cả.

– Thế ngộ thầy nói trái lại rằng u cứ theo cái đạo Tin Lành cho trẻ con đi nhà giảng chủ nhật …

Bà Ký ngắt lời con, một vẻ khó chịu trong câu nói :

– Mày đừng nói vậy nữa để tao bực. Tao thì cái đạo ấy không thể nào tao theo được nữa. Ngày nọ bà Mục-sư về chơi ngủ đây, bà ấy cũng cứ khuyên như vậy, nhưng tao biết không thể theo được thì tao không theo.

Lũ trẻ con đã lần lượt đi ngủ cả, hai mẹ con cũng mỗi người vào một giường nhưng vẫn chưa thôi bàn tính.

– Con tính chỉ có một cách là u về nhà quê, giá có mấy mẫu ruộng cầy cấy đủ ăn, mấy sào đất còn đấy, làm cái nhà rộng rãi, sáng sủa, rồi u chăn nuôi trồng trọt gì tùy ý u, như thế họa may mới được vui vẻ chút nào, chứ ở gần thầy con mãi không được.

– Thì tao cũng chỉ mong như vậy thôi. Ở đâu đủ ăn, có đồng ra đồng vào không phải đụng đến lương của thầy mày, chúng mày lớn lên, còn phải tính vợ con. Tao buồn lắm, ở với thầy mày, mỗi tháng, thầy mày hạn cho ngần ấy tiền ăn, chẳng lọi ra đồng nào, đến nỗi trông thấy mày ăn mặc lôi thôi, không có tiền may cho bộ quần áo như con người ta…

Trong đêm khuya tịch mịch, giọng nói buồn bã của hai mẹ con cùng rõ mồm một. Sau cùng, thằng Đức hỏi mẹ:

– Thế u tính cách nào bây giờ ! Con tính chỉ có tiền, làm sao có tiền mới nói đến chuyện sung sướng được. Có tiền để u chữa xong cái bệnh đau bụng đi rồi ở riêng ra một nơi mà buôn bán.

– Tháng trước, có bà cụ Căn, bà cụ Căn là mẹ chồng cái bà Tiếp đi đạo Tin Lành mày cũng biết đấy, bà cụ mới ở Sài-goòng về, lên chơi. Nghe bà cụ nói trong ấy dễ làm ăn lắm, người trong ấy thực thà chứ không như người ngoài ta, mình vào trong ấy có cơ sống được. Tao định thu xếp một vài trăm, đến ra giêng tao vào trong ấy. Có mày là lớn tao mới cho mày biết, chứ thầy mày vẫn không hay gì đâu.

– Nhưng còn lũ em ngoài này, u để mặc chúng nó được à?

– Tao cũng ngại chỗ ấy lắm, tao đi thì chúng nó khổ, nhưng không liều một lần không được. Trước kia tao cũng cứ ngại thì, nên mới ở với thầy mày đến bây giờ. Nhờ Trời, em nó lớn lên, chẳng ai trông nó cũng lớn. Thầy mày chẳng thường nói: u mày đi đâu, mười đứa tao trông cũng được.

Đứa con của gia đình thấy lòng sầu thêm một độ: Hai con người đã đến lúc đứng bóng cuộc đời vẫn thấy cần phải xa nhau để tránh những sự đụng chạm. Nó vẫn nghĩ như vậy nên nghe mẹ nói, nó ngẫm nghĩ rồi nói:

– U tính như vậy chưa chắc đã được đâu, nhưng tính thì ta hẵng biết tính. Thầy u phải mỗi người ở một nơi mới được, con cũng thấy thế. Vậy đến sang giêng nếu u vào Sài-goòng cũng cho con đi với. U chỉ mất tiền tàu thôi, vào trong ấy, tự khắc con có việc làm. Con sẽ nhờ một thằng bạn buôn bán ở trong ấy tìm hộ một việc. Vào trong ấy ít năm, kiếm ít tiền, tậu mấy mẫu ruộng ở Sắn, u về ở đấy là yên. Con nghĩ như vậy đó, u chỉ về nhà quê là hơn cả.

Bà Ký đáp lời con bằng một giọng vui vui:

– Ừ đi đâu có mẹ, có con, nó cũng hơn. Bà cụ cũng khuyên tao như vậy, tao chỉ ngại mày không đi, vào trong ấy ít lâu yên chỗ rồi, tao viết thư cho cái thằng Tề nó vào trong ấy nó học. Trong ấy cũng có trường như ngòai này chứ?

Đứa con mười chín tuổi ấy thở dài:

– Tính thì cứ biết tính, việc bàn nó vẫn đẹp, nhưng đến lúc làm, biết có được như vậy không? Hay hai mẹ con đi du lịch một chuyến rồi về cũng chưa biết chừng.

– Nếu như vậy thì ta lại tính cách khác, nhưng việc đi đã nói thì thế nào cũng đi. Mày không đi, tao đi một mình với người ta cũng được. Có định đi thì cuối tháng này, hai mẹ con đến đằng ông Trưởng Phố nhờ ông ấy lấy cho cái “tít”. Mai con đưa u đi chụp ảnh nhé!

Có tiếng động cổng; bà Ký lặng im rồi bảo con:

– Đấy thầy mày đã về đấy. Hôm nay chắc thầy mày ở nhà, hay là trong túi hết tiền nên mới về sớm thế, chớ những đêm dạo nọ thì còn lâu!

Ông ký Thảo mở cửa vào trong nhà, bỏ khăn, cởi áo vừa cười vừa nói với vợ:

– Vừa ở chơi bên ông Giáo Thái xong, ông ấy nói chuyện hỏi vợ con. Thằng con học trường Tham biện lục lộ sắp lấy con ông Phủ Lạng. Đấy nó đi học, nó đỗ, nó như thế đấy. Thằng Đức nhà này cứ lông bông mãi, thôi nếu không đỗ thì một vài năm nữa, kiếm chỗ nào xòang xòang, đứa nào nó biết làm ăn, buôn bán, hỏi lấy cho nó yên thân, muốn làm gì thì làm, bố mẹ không phải nghĩ.

Người đàn ông ấy vô tình không hiểu cuộc âm mưu trong gia đình của mình. Bà vợ không nói gì nhưng đứa con hằn học đáp lại:

– Lấy vợ rồi một ít năm sau sinh mấy đứa con, thế là thành một gia đình. Các cụ ngày trước hồ đồ, nên mới có những ông chồng bà vợ ở bên nhau một cách bất đắc dĩ, và những đứa con oán trách cha mẹ, không nên cho chúng ra đời để chúng khổ. Thầy nói vậy nhưng con, con không thể dễ dãi. Lập một cái gia đình để về sau như gia đình nhà ta thì không đời nào con lập.

Khởi sự viết ở Hải-Dương
xong ở Phủ-lạng-thương
Novembre 1941
NGUYỄN ĐỨC CHÍNH

This entry was posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.

1 Response to NHÀ AI (Nguyễn Đức Chính): ĐOẠN KẾT

  1. Lechi says:

    Truyện này thật là hay. Cám On chị Lê Thy đã đánh máy đăng lên đây để lớp hậu sinh biết về cảnh sống của nguòi công chức nghèo truóc đây

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s