NHÀ AI (Nguyễn Đức Chính): Phần III

-VII-

Hai vợ chồng ông Mục-sư đem giống Tin Lành gieo rắc ở Bắc-giang thế mà cũng được hơn hai năm rồi. Hơn hai năm kết quả cũng không được bao lăm, lúc đầu thì nhiều người cầu nguyện tin đạo lắm, nhưng chính những người ấy, những bông lúa đầu mùa lại là những kẻ hay lánh đạo nhất. Còn lại vài nhà trong đó gia đình ông ký Thảo.

Đời sống của những người truyền giáo ở cái xứ còn bán khai cố nhiên là không thể ở nguyên một chỗ. Hai vợ chồng ông Mục-sư là người Trung Kỳ ra Bắc-giang giảng đạo cố nhiên không phải để ở mãi cái tỉnh lỵ Phủ Lạng Thương nhỏ xíu.

Ông bà ký Thảo cũng biết như vậy và tính trước lúc ông bà Mục-sư đi. Với ông Ký thì việc ông bà Mục-sư đổi đi nơi khác không quan trọng lắm. Ông bà ấy có đổi thì cũng đến về Hà-nội là cùng chứ gì Hà-nội cách Bắc-giang có năm chục cây số, lúc nào gặp chẳng được ấy là ông Ký nghĩ thầm như vậy. Ông lại biết rằng cái việc đổi đi nơi khác là bước đường tiến thủ của ông Mục-sư, không có thể giữ lại được. Làm mục sư cai trị một cái nhà thờ lớn ở một thành phố lớn dĩ nhiên là hơn ở một tỉnh lỵ nhỏ, mỗi sáng chủ nhật, tín đồ họp lại không chật mấy hàng ghế đầu. Nhưng với bà Ký thì khác hẳn, ông bà Mục-sư sắp sửa rời bỏ Bắc-giang là bà Ký sắp rời bỏ đạo. Ý nghĩ ấy đã thành hình trong óc, nhiều khi thành ra lời và lời ấy nói với bà Mục-sư. Chính bà này cũng đã thấy, nên hơn một lần trong khi nói chuyện bà đã nói:

– Chúng tôi còn ở đây, chứ hễ chúng tôi đổi đi thì bà lại biếng đi nhà thờ ngay đấy chứ gì. Bà yếu đuối lắm nhé.

Bà Ký mỉm cười có dáng thẹn thò và thú thực ngay:

– Vâng, có lẽ như thế đấy, còn ông bà ở đây, ông bà là người tốt… Biết rằng ông bà đến thay ông bà có được như vậy chăng?

– Những người đi truyền đạo Chúa là người tốt cả, bà ạ. Với lại bà đi nhà thờ là để thờ phụng Chúa thì cần chi phải nghĩ ngợi lôi thôi.

Bà Ký nói chữa:

– Tôi thờ phượng Chúa thì tôi cứ ở nhà tôi thờ cũng được.

– Không được, bà ạ, Chúa đã dạy rằng: “Các con phải nhóm nhau lại mà cầu nguyện.” Nhưng mà bà ạ, hễ bà có nhớ đến tôi thì phải đi nhà thờ đấy. Trong lúc cầu nguyện tôi sẽ nhớ đến ông bà và các em luôn.

Ông Mục-sư cũng trông thấy rõ tình trạng ấy, nên vẫn nói với ông Ký:

– Bà yếu đuối lắm đấy, khó giữ vững được đạo Chúa lắm, ông phải liệu dìu dắt bà mới được. Tôi e rằng khi chúng tôi rời khỏi tỉnh Bắc-giang này thì bà cũng lập tức không đi nhà thờ.

Ông Mục-sư nói xong nhìn vẻ mặt suy nghĩ của ông Ký. Hai người đã thân nên những việc gia đình vẫn thường bàn lẫn. Đúng ra chỉ có ông Mục-sư bàn hộ cái gia đình của ông Ký có nhiều truyện phải tính lắm.

– Còn các em nữa, nếu bà không giữ được thì các em cũng không giữ được. Đời mình đã đành nhưng đời các em, nếu Chúa không tái lâm sớm thì các em vất vả lắm đấy. Em Đức một vài năm nữa về Hà-nội học, ông bà hẳn khó lo cho đủ được, để tôi liệu giúp ông bà xem. Nếu chúng tôi không ở Hà-nội thì chúng tôi cũng gửi em vào ông bà tín đồ nào đấy.

Nói chán những chuyện gia đình, ông mục sư liền bàn đến việc xây nhà thờ:

– Tôi nghĩ rằng còn tôi ở đây thì tôi làm được, vậy ý tôi định bàn xây một cái nhà thờ. Tức là căn bản cho đạo Chúa ở đây.

Ông Ký sẽ lắc đầu:

– Làm cái nhà thờ cũng mất nhiều tiền mà tín đồ ở đây ít quá. Quyên các nơi khác cũng khó mà đủ được.

– Cái ấy thì ông chớ ngại quyên được bao nhiêu thì quyên, còn thì mẫu hội giúp. Mình tính sao để những khoản chi tiêu đừng tốn quá. Độ vào năm sáu trăm thì thế nào cũng được.

– Vâng nếu có năm sáu trăm thì nhất định được rồi. Đất ở đây cùng rẻ, chỉ vài trăm là được mấy sào đất ngay.

Bàn xây cái nhà thờ rồi nhưng cũng đến gần một tháng mới xong việc mua đất. Ba sào đất mua bằng giá đắt là hai trăm ba cũng hàng rào vây tạm vào đã. Đợi đến mười hôm sau mới có gạch xe đến. Đất nhờ một ông tín đồ mua hộ, gạch cũng nhờ ông ấy. Ông Ký biết mình không giúp được gì nên chỉ thỉnh thoảng mới cùng ông Mục-sư dắt hai đứa con lớn ra xem “đất làm nhà giảng”. Về nhà mấy đứa trẻ kể lại cũng khiến bà Ký nghĩ ngợi.

– U ạ, đất làm nhà giảng rộng lắm cơ.

– Hôm nay người ta đang đào ao lấy đất làm nền. Cũng đang đào móng rồi đấy.

Bà Ký không lấy việc xây nhà thờ làm vui. Bà lắm lúc cũng cười cái ý nghĩ lẩn thẩn của mình: ông bà Mục-sư đổi đi thì đừng có ai đổi về nữa. Cái đạo Tin Lành mất hẳn ở tỉnh Bắc-giang này. Bà bỏ không theo nữa. Và chồng bà cũng bỏ không theo nữa. Bà Ký cứ tự hỏi thầm xem tại sao bà không theo lại muốn cả chồng không theo. Chính ra thì bà cũng lờ mờ thấy rằng trong một gia đình mà vợ chồng hai tôn giáo khác nhau thế nào cũng có sự bất hòa.

– Nhà thờ đã xây thì chẳng bao giờ thầy nó bỏ được đạo!

Nếu không bỏ đạo cả hai vợ chồng thì ông bà Mục-sư cứ ở nguyên đây, chứ ông bà ấy lại đổi đi chỗ khác, để vợ chồng cái ông lạ nào về thì chán lắm. Ấy là tâm lý của bà ký Thảo lúc bấy giờ.

Đứng trước cái nền nhà đang xây dở dang, bà Ký đã bảo bà Mục-sư:

– Giá xây xong nhà giảng ông bà cứ ở lại đây thì vui quá.

Ông Mục-sư đứng coi thợ tô vôi nghe thấy liền quay lại cười:

– Chúng tôi không ở đây nhưng chúng tôi ở Hà-nội thì cũng gần. Chúng tôi sẽ sang thăm ông bà luôn.

Bà Ký lặng im không nói gì. Bà Mục-sư nhìn vẻ tần ngần mỉm cười nói tiếp:

– Chúng tôi sang thăm ông bà và ông bà sang thăm chúng tôi thì ta gặp nhau luôn chứ gì. Vả lại rồi em Đức cũng phải sang học chứ!

Hôm ấy về nhà, bà Ký phân vân mãi. Bà thấy cái việc bỏ đạo nó cũng rắc rối nhiều điều. – Bây giờ mình bỏ đạo thì đối với ông bà Mục-sư ra sao đây ? Bà không tìm được câu trả lời.

Nhưng cái tường nhà thờ xây cao lên dần dần. Kỳ hạn ông bà Mục-sư về Hà-nội càng ngắn. Mỗi ngày đi chợ qua, bà Ký lại ngậm ngùi nhìn bọn thợ nề làm việc.

Một ngày tới, cái nhà thờ bắt đầu lợp mái. Thêm một tuần lễ nữa là cửa lắp, vôi quét, thế là hoàn thành. Ông Mục-sư cùng ông ký Thảo đứng bên kia đường ngắm cái nhà với một vẻ thỏa mãn.

– Kiểu của ông Khải vẽ, tôi sửa đi chút ít, ông coi thế nào?

Ông Thảo gật đầu:

– Trông đẹp đấy, nhưng tôi nghĩ rằng không bền. Cái mái trông yếu quá.

– Ông tính xem, tiền có vậy thôi, cái gì cũng phải tùng tiện chứ. Một vài năm nữa, tín đồ ở đây nhiều, các ông liệu quyên tiền sửa lại cho vừa ý. Nhờ Chúa nhiều chứ tôi tính sức mình khó lắm.

Trong lúc ấy, ở nhà, bà Mục-sư và bà Ký đang soạn lại đồ vật. Hai người vừa làm vừa nói chuyện. Quanh quẩn cũng lại ở sự chia biệt.

– Độ đến hôm nào thì ông bà về Hà-nội nhỉ ? Bà Ký hỏi như vậy.

– Cũng phải hơn tuần lễ nữa, bà ạ. Còn chờ ông bà Tường dọn đi đã… Nghĩa là sau ngày khánh thành nhà thờ.

Hai người còn bận việc nên câu chuyện cũng hơi rời rạc. Chậm rãi bà Ký lại hỏi tiếp.

– Đến hôm nào thì khánh thành hử bà? Hôm ấy chắc các ông bà ở Hà-nội về đông lắm.

– Chủ nhật này bà ạ. Hôm ấy vui lắm. Ít nhất cũng có năm chục người về đây, họ nghe tin chúng tôi sẽ về nên họ lên đón.

Bà Ký cứ thắc thỏm chờ hai ngày : một ngày là khánh thành nhà thờ và một ngày, ông bà Mục-sư về Hà-nội. Không mấy ngày bà không sang chơi bên bà Mục-sư để bàn tính cuộc chia ly.

– Ông bà về Hà-nội thì phải thuê ô-tô nhỉ?

– Ông bà về, đồ đạc cũng nhiều đấy nhỉ?

Cái giây bạn bè giữa hai người cũng đã khá chắc. Bà Ký buồn nao nao khi nghĩ rằng ngày mai tới, người bạn mình sẽ đi và chắc gì trở lại. Riêng bà Mục-sư, tuy rằng trên bước đường truyền đạo, bà đã gặp nhiều người, nhiều bạn, đã nhiều lần ly biệt, nhưng trông vẻ mặt bà Ký, bà cũng thấy cảm động. Bà Ký nói một cách thành thực:

– Bà đi còn gặp người này, người khác. Chứ tôi thì… không còn ai là bạn nữa.

Đến ngày khánh thành nhà giảng, bà Ký còn vì người nọ người kia bớt buồn được một chút. Hôm ấy cũng vui lắm, làm bà nhớ lại cái ngày hội đồng ở Hà-nội. Cái nhà giảng mới rộng hơn mà vẫn không chứa đủ người; những tín đồ ở Hà-nội về thăm cả những tín đồ ở Bắc-giang nguội lạnh gần như bỏ hẳn vì thấy vui nên đến họp. Bên ngoài cửa lại treo cờ cho thêm phần long trọng. Nhân dịp khánh thành, ông Mục-sư có ý giảng liền mấy hôm thật đặc biệt mong có thêm người vào đạo.

Trái với mọi lần, buổi họp không vào buổi sáng nhưng vào lúc ba giờ chiều. Cả một ban âm nhạc giúp vui; mấy cây đàn violon, mấy cái kèn hòa lẫn với cái đàn harmonium tiếng vang đưa xa đến mấy phố. Lại bao nhiêu cái miệng hát hòa lẫn với nhau, giá hôm nào cũng như vậy thì có lẽ chẳng mấy lúc cả tỉnh Bắc-giang theo đạo hết cả. Lúc giảng xong lần này cũng có chụp ảnh.

Ông thầy giảng mới ở Ninh Bình đổi về cũng đã tới. Ông này cũng là người Trung kỳ nhưng bà Ký không có cảm tình như ông Mục-sư cũ. Cả nhà bà ta, người nhỏ nhắn và ít nói trông không được dễ mến như bà Mục-sư.

Nhưng còn có cuộc vui nào mà không có hồi tàn. Sau buổi khánh thành ấy, bà Ký lại buồn mông mênh. Còn có mấy tối giảng nữa là ông bà Mục-sư về Hà-nội. Đồ đạc thứ nào thứ ấy đã xếp gọn ghẽ cả thành từng hòm, từng bó. Ông Mục-sư đã về Hà-nội thuê ô-tô.

Chờ đến buổi sáng hôm thứ tư ấy. Chiế ô-tô chở hàng gầm mạnh lên một cái rồi dừng lại. Mấy đứa con ông bà ký Thảo trong nhà chạy ra reo lên:

– A, ô-tô hàng đã đến rồi!

Ông bà ký Thảo trong nhà bước ra vừa gặp ông Mục-sư trên xe bước xuống.

– Xe này tôi thuê ở Hà-nội. Rẻ hơn ở đây và đỡ một công họ đánh xe về.

Cả mấy người đứng ngắm cái xe rộng sẽ dọn những đồ đạc của ông bà Mục-sư về Hà-nội.

Ông Ký đi quanh một vòng rồi hỏi:

– Xe như thế này liệu có chất đủ chăng? Không có chỗ ngồi. Bà và em lại phải đi xe hỏa à?

Ông Mục-sư mỉm cười:

– Đồ đạc bằng hai của chúng tôi chất cũng vừa, ông ạ. Trông thế nhưng chứa được nhiều lắm. Trước kia, tôi cũng tưởng như ông nhà tôi và cháu đi xe hỏa, nhưng chịu chật một tí còn đỡ phiền hơn. Còn con Việt thì ngồi đằng sau trông đồ với hai người “ét” kia.

Bà Ký cũng hỏi một câu:

– Ở Hà-nội chắc các ông bà ấy đang đón ông bà. Thưa ông, nhà đã quét dọn cả rồi ạ.

Ông Mục-sư trả lời được một tiếng vâng rồi vẫy hai người phu trên xe xuống cùng đi vào khuân đồ. Bà Ký và đứa con lớn cũng theo vào để chuyển ra ngoài giúp ít đồ vật nhẹ. Chưa tới cái giờ buồn.

Mất đến gần hai giờ đồng hồ mời xếp hết lên xe. Mọi người ra cả bên ngoài, vừa lúc mấy ông tín đồ và ông thầy giảng mới cũng đến để tiễn biệt. Còn có bà Mục-sư và bà Ký trong căn gác trống. Bà Ký thở dài, ngậm ngùi nói như những kẻ lãng mạn nhất:

– Hôm nay là cuối cùng, tôi ở trên cái gác này với bà. Từ mai ông bà đi về Hà-nội thì chẳng bao giờ tôi lên đây nữa.

Bà Mục-sư gượng mỉm một nụ cười nhưng cũng không dấu được vẻ buồn:

– Chúng tôi xa ông bà nhưng linh hồn lúc nào cũng gần ông bà. Trong lúc cầu nguyện tôi sẽ nhớ đến ông bà và các em, cầu Chúa ban phước cho ông bà và các em.

Bà Ký không trả lời, mắt đã thấy long lanh. Khóc à, vô lý ! Gần bốn mươi tuổi đầu rồi có phải trẻ con đâu! Bà Ký nghĩ như vậy nhưng vẫn không sao cầm đươc lệ.

Khóc vẫn hay lây, bà Mục-sư thấy bà Ký khóc tự nhiên mắt cũng rưng rưng.

– Ông bà truyền đạo thay chúng tôi cũng là người tốt lắm. Bà chịu khó đi nhà giảng luôn, như vậy tức là bà không quên tôi.

Vẳng có tiếng ông Mục-sư gọi vợ ra cho xe chạy. Hai người đàn bà lau nước mắt giắt nhau xuống cầu thang.

Lên ô-tô xong, ông Mục-sư và đứa con mỉm cười, bà Mục-sư cũng mỉm cười tuy mắt vẫn nhòa lệ:

– Ông bà và các em ở lại và nhớ cầu nguyện cho chúng tôi.

Tất cả những kẻ tiễn đưa đều có dáng ngẩn ngơ:

– Chúc ông bà và em lên đường bình yên. Chúa sẽ dắt đưa ông bà.

Buồn nhất là bà Ký. Mọi người đã vào trong nhà rồi mà bà còn đứng trông theo đám bụi đằng xa. Bà cảm thấy mình đã mất một cái gì quý báu lắm không mong trở lại. Ý nghĩ bỏ đạo lại về đầy trí bà.

– Hết Phần III-

—> Phần IV
<— Mục Lục

This entry was posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s