NHÀ AI (Nguyễn Đức Chính): Phần V

PHẦN THỨ NĂM

THẾ LÀ CUỘC ĐỜI

-I-

Thế này thì không biết lúc về nhà quê mấy mẹ con làm thế nào mà sống đây ? Còn sáu sào ruộng đồng và ba sào ruộng bãi bán nốt rồi, may mà ba sào vườn đất giữ lại được chứ không thì thật là không có một tấc đất cắm dùi! Bà ký Thảo già đi đến ba bốn tuổi ; da bà vì mới ốm dậy trông tái xanh, lại mấy đường nhăn vì lo nghĩ, ai gặp cũng phải hỏi thầm :

– Trông bà dạo này không được mạnh.

– Trông bà yếu đấy, bà nên uống mấy thang thuốc bổ đi thì phải.

Bao nhiêu câu nói của bao nhiêu người khác cũng đều tương tự như vậy, dường như người ta nghĩ giống nhau cả. Bà cụ Ấm, bà thừa Minh, bà ký Thu, mấy người đàn bà có thể gọi là thân với cái gia đình ấy, không một ai hiểu tâm sự bà Ký. Mấy sào ruộng bán rồi, số tiền một trăm bốn mươi và năm đồng bạc lẻ chỉ đủ để trang trải các món nợ lặt vặt. Nhất tội, nhì nợ, dù món nợ của vợ hay của chồng cũng không tới năm chục bạc, nhưng ông bà Ký đều lấy làm bực dọc lắm. Ý bà Ký là khi nào bà về nhà quê với mấy đứa con, bấy giờ mới bán ruộng để kiếm cái vốn nho nhỏ, nhưng sự đã đến lúc bất đắc dĩ thì cũng đành chịu. Thế này thì việc đi ở riêng lại khó khăn thêm một chặng nữa ! Bà cứ nghĩ mà ngao ngán. Nhất là những lúc đêm khuya, ông chồng trở về gõ cửa, mấy đứa trẻ ngủ say cả, thằng nhỏ ngủ dưới bếp, lại chính bà trở dậy châm cái đèn ra soi cái gióng ngang, những lúc ấy, bà Ký chỉ biết thở dài trút bớt nỗi ưu tư.

Ông Ký dạo này hay đánh bạc lắm, ai nấy đều công nhận như vậy. Vợ không giữ nỗi đã đành, cả đến cái đạo Tin Lành nghiêm khắc cũng không sao cảnh tỉnh được con người ấy. Chính ông Ký cũng ngạc nhiên vì sự thay đổi ở trong lòng mình. Những khuya mùa lạnh, ở chiếu bạc ra về, đi giữa đường phố vắng gió bấc lùa vào trong người, chỉ những lúc ấy ông thấy hối hận, và tự giận, tự trách. Còn những buổi tối, ăn xong bữa cơm, thế nào ông cũng phải lấy khăn áo ra đi. Không khí căn phòng có chiếu bạc vẫn dễ thở hơn không khí của cái gia đình tẻ lạnh vì không hòa thuận, vì nghèo, vì mùa đông.

Việc đánh bạc ấy một lần đã thành đầu đề cho hai vợ chồng chỉ đợi một cớ để cãi nhau. Đêm đó, mở cửa cho chồng vào, bà Ký đã nói một câu như thế này :

– Thầy mày đánh bạc làm gì để người ta bàn tán chê bai khắp cả. Đánh chẳng biết có được gì không, nhưng đêm nào cũng thức như vậy thì ốm mất.

Nói câu ấy, bà Ký lại nhớ lại năm còn ở nhà quê, một lần, chồng bà đem ba chục định để cho vợ nộp thuế, nhưng bà chưa kịp lấy, chỉ có một buổi trưa đã hết nhẵn. Bởi vậy, chưa thấy chồng nói sao, bà lại tiếp :

– Thầy mày có nhớ cái lần thầy mày định đưa tiền cho tôi nộp thuế, rồi lại thua đỗ mười hết ở bên bác Cựu không.

Không ngờ, ông Ký nói ra một câu hết sức khinh bạc :

– Những người giữ được chồng phải là những người lập được nghiệp.

Cũng bởi hôm ấy là hôm ông mất ù mấy ván tổ tôm, đang tức sẵn, bà Ký không nhớ lời khuyên “có can chồng thì đừng can vào lúc thua” nên chuốc ngay cái khó chịu vào mình. Rồi đáng lẽ im đi, bà lại cãi:

– Những đứa chồng đường vợ sá nó cũng vẫn giữ nữa là .. Sao thầy mày nói câu khó nghe thế nhỉ.

– Thôi im đi, mặc người ta.

Không buồn nghe nữa ông Ký kết liễu câu truyện như vậy. Từ hôm đó, chồng muốn đi đâu cũng mặc, – có hôm trưa thứ bảy, ở sở ra, ông Ký đi đánh bạc liền cả buổi chiều thứ bảy, cả ngày chủ nhật rồi đến sáng thứ hai mới về nhà – bà Ký định không hé môi.

Không biết bao giờ mới ở riêng ra được, để tránh sự khó chịu của người chồng xung khắc này ? Không biết về nhà quê mấy mẹ con làm thế nào mà sống đây? Buổi sáng, buổi chiều, lúc nào ngơi tay, bà Ký lại đem hai câu hỏi ấy ra để mà băn khoăn. Bà không biết giải quyết bằng cách nào nữa. Bà không chịu nổi chồng, bà cũng không dám liều ra ở riêng ngay. Phần thương con, phần lo đói, lo là lo mấy đứa trẻ theo mẹ, bà lưỡng lự. Giá có một mình bà thì lại xong thì lại dễ tính lắm !

– Tôi cứ mở cái hàng nước, tôi cứ kiếm gánh hàng rong độ vài ba đồng bạc vốn cũng đủ miệng tôi ăn.

Có lúc tức mình quá bà đã bảo chồng như vậy.

Thằng Đức đi Hà-nội học được hơn bốn tháng rồi. Trong quãng thời gian ngắn ấy, cũng có mấy truyện chẳng hay xảy ra: bà Ký suýt chết vi đau vú và sảy mất một đứa bé. Nhớ lại, bà Ký không biết nên buồn hay nên vui. Hai việc đó nói là may hay là không may cũng đều có nhẽ cả. Giá bà cứ chết ngay đi – có thể lắm, lúc vào nhà thương cắt miếng vú thối, ông đốc tờ đã bảo nếu để chậm một buổi chiều hôm ấy thì đành chịu – có lẽ lại nhẹ nợ ! có lẽ lại là may ! Chỉ tội sáu đứa con, chưa chi đã mắc cảnh mồ côi sớm ! Giá bà không sảy và đứa bé kia cũng sống, chưa chắc đã may mắn gì, sáu đứa con, rồi thêm một đứa nữa càng thêm tội !

Tâm trí người đàn bà ấy không lúc nào được bình tĩnh, lúc nào cũng hỗn loạn, nghĩ không ra thì thành nghĩ quẩn; con người đã đến lúc nghĩ quẩn thì thực là tai hại, tội lây cả đến lũ trẻ và thằng đầy tớ. Bà Ký đâm ra gắt gỏng hay bẳn tính. Một lỗi nhỏ đủ để bà gắt ầm nhà.

Chỉ nửa tháng hay một tháng một lần, thằng Đức ở Hà-nội về là gia đình vui được hôm đó. Ông Ký nể con ở nhà không đi đánh bạc. Bà Ký thấy con cũng tươi vẻ mặt hơn một chút. Rồi hai mẹ con bàn tính với nhau.

– Con cố học đi mấy năm nữa thi đỗ đi làm, rồi ở đâu, u ở đấy. Ở với thầy mày không được rồi, tính đến về nhà quê cũng khó lắm, con ạ. U về thể nào cũng phải đem theo mấy đứa trẻ, chưa biết làm gì mà sống. Chỉ có cách buôn bán thì vốn lại không có, cái chỗ chín sào bán được hơn trăm bạc trả nợ hết rồi. Còn chỗ đất thì thể nào u cũng để đấy, không có lại như nhà bà thừa Minh thì buồn lắm…

– Thằng Tề một vài năm nữa thi xong cũng phải đi Hà-nội học, lúc ấy con cũng mới có năm thứ ba, rồi con Dung nữa, chúng nó lần lượt theo nhau. Con chưa đi làm ngay được để dắt đứa nào như thầy vẫn bàn đâu, mà nhà ta cũng chỉ có một cách là đi học. Con tính có cách này tiện nhất, hay là sang năm u sang Hà-nội rồi kiếm mấy đứa nữa ở trọ…

Thằng bé bàn cho mẹ nghe xuôi lắm. Bà Ký khấp khởi mừng. Nhưng bà có biết đâu đứa con bà chỉ nói miệng được như thế còn trong tâm hồn nó cũng nhiều sự biến đổi đáng ngại rồi. Chính nó còn đang bận tìm cách giải quyết cho mình không xong, hai người làm cha mẹ có biết đâu.

Ở nhà ông phán Mẫn là bác được hai tháng, thằng Đức mới thấy rõ rằng cái ý của cha không cho con ở nhà anh là phải. Tránh cái buồn của gia đình cha mẹ, nó lại gặp cái quá tội của gia đình ông bác. Và đứa anh họ nó là thằng Hinh với bộ mặt bánh dầy , từ ngày thi trượt vào trường dù bị chú mắng, thằng bé này vẫn được một tháng mấy đồng bạc đi học tư, nhưng đáng thương cho nó, ông chú kia gửi tiền, ông chú này cứ tiêu mất đi ; thằng cháu nằm khoèo ở nhà khóc người cho sao vội chết đi chán lại tủi phận và giận hờn mấy ông chú. Đang lúc cố trở lại làm đứa con ngoan, gặp cái hoàn cảnh này, thằng Đức gần giống như hồi cuối năm trước. Kết được mấy đứa bạn bè đi cinéma, ăn cao lâu những ngày nghỉ, nó bắt đầu khổ tâm vì không có bộ quần áo tây và số tiền kha khá cha mẹ cho mỗi tháng.

Rồi bắt đầu tới những sự thiếu thốn, – đi học về không có đủ cơm ăn, có khi sắp đi học chiều, bà bác vẫn chưa có tiền đong gạo, buổi tối học bài sờ đến ngọn đèn thì phao dầu đã cạn, – nó càng buồn, càng bực, càng chán. Sự khủng hoảng của tâm hồn ấy – không một ai biết – là những bước đầu dẫn tới quãng đường lầy.

Lần về nhà cuối cùng trước khi tết Nguyên Đán tới, thằng Đức đã nhỉ nhẩm tính những cái gì thiếu. Nó đếm đốt ngón tay: một chỗ ở khác dễ chịu hơn, một bộ quần áo tây độ mười lăm đồng bạc, hai đồng rưỡi bạc trả nợ tiền quà trên trường. Phải ngần ấy thứ thì nó mới có thể bình tĩnh mà học được.

Một chỗ ở khác đủ cơm ăn hai bữa đúng giờ, đủ ánh sáng đến chín giờ đi ngủ không phải dễ có với số bốn đồng bạc mỗi tháng, chỉ có lại đằng ông Mục-sư, nhưng đến lúc gặp mẹ, nó lại lặng im không nói, người đàn bà ấy vẫn không ưa cái đạo Tin Lành. Mười lăm đồng bạc nó hỏi xin không được nên hai đồng rưỡi bạc quà nó càng không dám nói đến. Số tiền quà ấy dù chỉ là ăn trong khi bất đắc dĩ, những lúc nhà không có cơm, nó cũng có thành kiến là xấu, nên cứ dấu diếm tìm cách xoay sau. Xoay thì còn xoay vào đâu, nó không có một ông chú, ông bác nào có thể hỏi xin được. Sau cùng, suy đi tính lại mãi nó mới tìm được có một cách như sau này: cho thuê lại mớ sách thuê lúc đầu năm ở trường để đập vào chỗ thiếu.

Thành ra, tinh thần đứa con cũng suy đồi như cha mẹ. Mà khốn nạn nhất là không một ai rõ căn bệnh để tìm phương chạy chữa.

—>Phần V/2

This entry was posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s