CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Saigon 1…4

4-Nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi (Cimetière Européen)
Đường Phan Thanh Giản
Quận 1,Sàigòn

Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, ngày xưa thời Pháp có tên là Cimetière Européen ( Nghĩa trang Âu Châu) và hai tên kế tiếp sau đó : Cimetière Bangkok, Cimetière Massiges. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi còn được gọi trong ngôn ngữ dân giã Sàigòn là Đất Thánh Tây.

Dựa vào Plan de Saigon en 1871,tài liệu [1] viết rằng Cimetière Européen được thành lập vào năm 1859 ở bên mặt đông đường National (sau là đường Hai Bà Trưng, khu Tân Định- Đa Kao).

Tuy nhiên , theo Plan de Saigon en 1867, bốn (4) năm cũ hơn, tham khảo bởi tác giả bài này, nghĩa địa Cimetière Européen nằm trên đường Impériale (mũi tên xanh lá cây trên bản đồ).

Plan de Saigon en 1867

Như thế,người ta có thể viết rằng đường National (đường Hai Bà Trưng) là đường Impériale đổi tên.

Đoạn văn dưới đây trích từ tài liệu [2] cho phép xác nhận điều này : “Nhắc lại, con đường Hai Bà Trưng, đời Napoléon III, tên Route Impériale, sau năm 1870 đổi lại thành Rue Nationale, từ năm 1902 lấy tên Paul Blanchy, rồi từ năm 1952 là Trưng Nữ Vương đến năm 1955 mới thiệt thọ là đường Hai Bà Trưng’’.

Theo tài liệu [1,3,4] : Cimetière Européen được thành lập bởi người Pháp ,theo phong cách Âu Châu , nằm trong một khu đất rộng 7,5 mẫu tây , khung cảnh thôn dã ,nhiều cây cối êm ả, đơn giản, lạ lùng và uy nghiêm.

Ngay từ đầu lúc thành lập, Cimetière Européen được hải quân Pháp quản lý, như một nghĩa địa quân đội , để chôn cất các binh lính, bộ binh, thủy thủ và sĩ quan Pháp trong cuộc chinh phục Sàigòn.

Nguyên do trực tiếp dẫn đến việc thành lập nghĩa địa này, theo tài liệu [4], là để mai táng những người Âu Châu tử trận trong trận đánh phá Thành Gia Định (Citadelle de Gia Dinh) vào năm 1859 bởi quân đội Pháp Quốc. Thành này nguyên thủy là “Thành Phụng” xây năm 1836 ở Sàigòn bởi vua Minh Mạng. Pháp gọi thành này là Citadelle de Saigon.

Chi tiết về Thành Phụng và sơ lược trận đánh phá Thành Phụng năm 1859 trình bày trong Phụ đề dưới đây.

Sau năm 1859, Cimetière Européen đã nhận thêm những người Pháp tử nạn trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Tiêu biểu có :

– Đại úy thủy quân lục chiến Nicolas Barbé,bị chặt đầu tại chùa Khải Tường vào 7 tháng 12 năm 1860. Theo tài liệu [5] : Nhiều người thời đó và cả thế hệ sau này đều kể lại : U hồn Barbé vẫn lang thang vào những đêm mưa gió hay sương mù phủ thành phố, ở quanh khu Hai Bà Trưng và Lê Quý Đôn (nơi chùa Khải Tường) gõ cửa nhiều nhà gọi tên người yêu Thị Ba bằng giọng trọ trẹ của người ngoại quốc nói không sõi tiếng Việt ! Hai cây viết người Pháp Le Vedier và De Maubryan đã thuật lại thiên tình sử này trong “Scènes De La Vie Annamite – Ky Hoa” (Cảnh đời An nam ở Kỳ Hòa- nhà xuất bản P. Ollendorff, Paris 1884);

– Trung tá Jean-Ernest Marchaisse, bị giết tại Tây Ninh vào ngày 14 tháng 6 năm 1866;

– Đại úy Savin de Larclauze ,cũng thiệt mạng tại Tây Ninh trên 7 tháng 6 năm 1868;

– Nhà thám hiểm sông Cửu Long, đại úy L. Doudart de Lagrée,qua đời ngày 12 tháng 3 năm 1868 trong khi dẫn đầu một cuộc khảo sát địa lý và thăm dò của sông Cửu Long sang Lào và Trung Quốc;

– Trung úy Francis Garnier , thanh tra chánh trị bản xứ, tác giả bộ sách hiếm có Annuaire de la Cochinchine Française pour l’année 1866, chết ngày 21 tháng 12 năm 1873 tại Hà Nội.

Hình hai ngôi mộ của Doudart de Lagrée và Francis Garnier trong Cimetière Européen chụp năm 1928 Hình hai ngôi mộ của Doudart de Lagrée và Francis Garnier trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi chụp năm 1970 bởi Frederick P Fellers (Indianapolis, USA)

Cho tới năm 1895, nghĩa trang Cimetière Européen chứa 239 ngôi mộ nhân viên quân sự.

Hình tượng Đài Kỷ Niệm quân đội Pháp trong nghĩa trang Cimetière Européen Bia tưởng niệm binh lính Pháp trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi chụp năm 1970 bởi Frederick P Fellers (Indianapolis, USA)

Cuối thập niên 1860, thường dân bắt đầu được chôn cất ở nghĩa trang Cimetière Européen vì trong những năm đầu của thuộc địa, tỷ lệ tử vong do các bệnh nghiêm trọng như dịch tả, sốt rét, ký sinh trùng đường ruột và kiết lỵ rất cao . Một bản báo cáo năm 1889 viết rằng ‘’Mặc dầu trên thuộc địa chúng ta, không có những bệnh dịch khủng khiếp ,thường gây khổ sở cho việc chiếm hữu của chúng ta ở hải ngoại, một cuộc đi thăm viếng nghĩa trang Cimetière Européen có thể phát hiện ra một cách đau đớn sự thật về những nạn nhân của khí hậu thổ nhưỡng’’ (‘Nguyên văn : A report of 1889 noted that “although there exist in our colony none of the terrible epidemics that all too often afflict our possessions across the seas, a visit to the European Cemetery in Saigon may painfully reveal the truth about the victims of the climate – tài liệu [1]).

Năm 1870, nghĩa trang Cimetière Européen được gọi với một tên bình dân ‘’Vườn của Cha Ormoy’.’

Nguồn gốc của danh hiệu này được viết trong tài liệu [6] : Vào thưở ban đầu, sở Sức Khỏe của quân đội viễn chinh Pháp gồm có nhân viên thuộc binh chủng hải quân quốc gia và của bộ chiến tranh cùng những y tá nói tiếng ‘’tagal’’ tới từ Phi Luật Tận với những đơn vị của đại tá Lanzarotte.

Những nhân viên này chăm sóc tận tình lính quân đội và luôn cả dân sự. Trong số thầy thuốc hành nghề của sở này,có bác sĩ trưởng hải quân Lachuzeaux d’Ormoy (1863-1874). Để khoe khoang cá tính độc đáo, ông bác sĩ này thường gởi các bệnh nhân vô kỷ luật (nguyên văn là indisciplinés) đi làm lao dịch ở nghĩa trang Cimetière Européen. Chẳng bao lâu, nơi này được biết với tên ‘’ Jardin du Père d’Ormoy ‘’(Vườn của Cha Ormoy).

(Phụ chú: Trên bản đồ Sàigòn 1928 ,có một đường tên Rue d’ Ormay, sau là đường Nguyễn Văn Thinh. Vậy thì d’Ormoy và d’ Ormay, có thể là một).

Và sau đây là một giai thoai thoại thứ hai về ông Ormay (d’Ormoy) trích từ tài liệu [2] : ‘’Ông d’Ormay làm chủ sở Y tế cho đến năm 1874, bịnh nhơn của ông phần nhiều về nằm nơi nghĩa địa, nên lớp Tây cũ nói chơi với nhau, muốn trù ai chết sớm, thường nói : ‘’qu’on l’envoye à Bangkok’’( gởi nó đi Bangkok giùm) hay là : ‘’ qu’on l’envoye dans le jardin du père d’Ormay ‘’ (cho nó vô nằm vĩnh viễn nơi hoa viên lão già d’Ormay)’’.

Một điều lạ lùng là nghĩa trang Cimetière Européen có một số lượng tương đối lớn các ngôi mộ với các tên người Đức, phản ánh ưu thế kinh doanh của thương gia Đức ở Sàigòn, đặc biệt là trước năm 1870.

Trong một góc của nghĩa trang này cũng có một nhóm mộ của các thủy thủ người Nga bị thương, đã chạy trốn đến vịnh Cam Ranh vào năm 1894 sau khi thất trận trong trận Tsushima và sau đó đã chết trong bệnh viện quân sự ở Sàigòn.

Mộ kiến trúc sư Foulhoux thiết kế Bưu điện Sàigòn, Pháp đình Sàigòn và nhiều toà nhà khác ở Sàigòn

Từ cuối thế kỷ 19, các tiêu chuẩn về vệ sinh được cải thiện và thuộc địa phát triển thịnh vượng, nghĩa trang Cimetière Européen đã trở thành nơi an nghỉ cuối cùng lựa chọn bởi các chính trị gia thuộc địa và các viên chức quản trị Sàigòn, trong số có kiến trúc sư Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892) và thị trưởng thành phố Sàigòn Paul Blanchy (1837-1901).

Sự kiện thay đổi nghĩa trang Cimetière Européen thành một nơi chôn cất cho tầng lớp thượng lưu thuộc địa đã được nhắc trong một bài phê bình của tờ báo Courrier Saigonnais ngày 14 tháng 12 năm 1912.

Số lượng những ngôi mộ đồ sộ của các công chức cao cấp ngày càng tăng trong khi các ngôi mộ của nhiều người lính và thủy thủ ban đầu bị bỏ phế cỏ mọc um tùm. Đã có những lời chỉ trích việc làm phạm thần, phạm thánh khai quật các ngôi mộ của người nghèo trong thời hạn bảy hay tám năm và di dời ở một nơi khác, có lẽ là để nhường chỗ cho những người giàu có và nổi tiếng.

Năm 1880 , Hải quân Pháp chuyển Cimetière Européen cho chính quyền thành phố. Sau đó nghĩa trang này được quản trị bởi văn phòng bảo tồn nghĩa trang , trực thuộc văn phòng sở vệ sinh Sàigòn có trụ sở số 67 đường Massiges.

Đường Bangkok
Avenue de Cimetière de Saigon
chụp từ phía đường Sohier
( sau là Tự Đức)

Theo tài liệu [1,3] : Qua đầu thế kỷ 20, những con đường nhỏ quanh co ngoằn ngoèo, cắt những đường chánh vuông vức , cho phép đi tới mọi góc cạnh của nghĩa trang được thiết lập. Hai bên đường được trồng cây khuynh diệp và bụi cây kiểng bởi các nhân viên của thào cầm viên Sở Thú Sàigòn. Đây là nghĩa trang sạch nhất và được bảo trì tốt nhất ở Sàigòn.

Xe điện trên đường Massiges nhìn từ cổng nghĩa trang Cimetière Européen
(Năm chưa xác định được )

Nghĩa trang lúc này được bao bọc bởi một vòng tường bằng gạch màu vôi trắng ngà cao 2,5 thước, cô lập tách rời nghĩa trang xa khỏi các khu lân cận chung quanh tấp nập ồn ào. Cổng chính Cimetière Européen ở phía nam đường Legrand de la Liraye,nằm đối diện trực tiếp cuối phía bắc của đường Bangkok. Vì vậy được gọi là nghĩa trang Bangkok.

Sau năm 1920, khi đường Bangkok được đổi tên thành đường Massiges, nghĩa trang được biết đến với cái tên mới là nghĩa trang Massiges.

Trên Plan de Saigon 1928 dưới đây, khu đất nghĩa trang Cimetière Européen (mũi tên màu xanh dương) được bao quanh bởi bốn đường : Legrand de la Liraye, Paulin Vial, Mayer và Paul Blanchy.

Plan de Saigon 1928

Mặt trước của nghĩa trang
Cimetière Européen trên đường Legrand de la Liraye –
Cổng chính nằm bên tay phải của hình
Cổng chính nghĩa trang
Cimetière Européen
trên đường Legrand de la Liraye ngó thẳng ra đường Massiges

Nhiều nhân vật nổi tiếng của cuối thời kỳ thuộc địa đã được chôn cất ở đây, bao gồm cả sĩ quan hải quân Pháp Alain Penfentenyo de Kervéréguin (mất 12 tháng 2 năm 1946), nhà truyền giáo Grace Cadman (qua đời ngày 24 tháng 4 năm 1946) và nhà báo kiêm chính trị gia Henri Chavigny de Lachevrotière (qua đời ngày 12 tháng 1 năm 1951). Tuy nhiên, trên tất cả, ngôi mộ hùng vĩ nguy nga nhất của thời gian này là lăng mộ của ông Nguyễn Văn Thinh (qua đời ngày 10 tháng 11 năm 1946), Chủ tịch đầu tiên của Cộng hòa Nam Kỳ tự trị (République de Cochinchine Autonome, 1 tháng 6 năm 1946 đến 8 tháng 10 năm 1947).

Vào tháng Ba năm 1955, đường Massiges được đổi tên thành đường Mạc Đĩnh Chi. Vì lý do cổng chính nghĩa trang ngó ra đường này nên được đặt tên là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi . Bốn đường bao quanh nghĩa trang thời Pháp : Legrand de la Liraye, Paulin Vial, Mayer và Paul Blanchy đổi tên thành đường Phan Thanh Giản, Phan Liêm, Hiền Vương và Hai Bà Trưng (Mũi tên màu đen trên bản đồ dưới đây).

Cổng chính nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi năm 1968 Đường Phan Thanh Giản đi tới cổng chính nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi
– Bên trái hình là đường Hai Bà Trưng
Đường Hai Bà Trưng- Bên phải là tường nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi Mộ trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi nhìn từ qua tường trên đường Hai Bà Trưng
Các ngôi mộ này trông rất là nhỏ bé đơn sơ

Tác giả bài này, cư dân nguyên gốc ở khu Tân Định gần ngã ba đường Lý Trần Quán -Hiền Vương, sát bên hông sau nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ,vào cuối thập niên 50, lúc đó còn dưới 10 tuổi, thường nghe những người lớn trong gia đình và hàng xóm gọi nghĩa trang này là Đất Thánh Tây.

Tài liệu [7] dùng tên Đất Thánh Tây để chỉ nghĩa trang nằm trên đường Legrand de La Liraye (sau đổi thành Phan Thanh Giản). Theo tài liệu này tên Đất Thánh Tây có thể đến từ việc nghĩa trang này dành cho người Pháp và người Việt thuộc theo đạo Thiên Chúa.

Cùng cũng quan niệm này, một tài liệu khác [8] đã viết ‘’ Đất Thánh của nhà thờ Cầu Kho’’ để chỉ nghĩa trang Cầu Kho.

Theo thiển ý của tác giả ,hai chữ Đất Thánh, , có thể được dịch từ Cimetière Saint-… (thí dụ Cimetière Saint-Georges, Cimetière Saint-Charles).Tuy nhiên từ lúc nào có tên Đất Thánh Tây thì chưa biết được.

(Phụ chú : Xin đừng lầm lẫn Đất Thánh Tây với Đất Thánh Chà ,nghĩa địa láng giếng lân cận, tên Tây là Cimetière Annamite. Xem thêm chi tiết trong bài Cimetière Annamite (Cimetière Indigène)- Đất Thánh Chà Tân Định của cùng tác giả).

Sau đây là ngoại cảnh (ambiance) và các cơ sở giáo dục, tôn giáo, và thương mại ít nhiều nổi tiếng chung quanh nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, vào những năm thập niên 50 và 60 còn trong trí nhớ của tác giả :

– Dọc theo bốn bức tường bao quanh nghĩa trang hoàn toàn không có nhà cửa, bên kia đường là nhà ở, không làm thương mại buôn bán. Lại nữa , đường Phan Thanh Giản phía trước nghĩa trang và đường Hiền Vương phía sau được trồng nhiều cây cổ thụ cao lớn, tàng cây rậm rạp, nên khu này, vào xế chiều tối, ngoài tiếng ve sầu ca, rất âm u vắng vẻ. Trẻ em trong đó có tác giả bài này, mỗi khi đi ngang đây, đi rất nhanh bước ,gần như chạy vì rất sợ ma.

– Trên đường Mạc Đình Chỉ, gần cổng chính nghĩa trang có Hội Việt Mỹ dạy Anh Văn;

– Đường Phan Liêm bên hông nghĩa trang có trường trung học Huỳnh Khương Ninh;

– Trên đường Hiền Vương , mé sau nghĩa trang, ngay góc ngã ba với đường Phan Liêm có xưởng bào chế dược phẩm Nguyễn Chí Nhiều, bên kia đường có đền thờ Đức Trần Hưng Đạo (xem thêm chi tiết trong bài Nghĩa trang Bắc Việt của cùng tác giả), sau đó là Sở vệ sinh thành phố, trường trung tiểu học Michelet, trường dạy lái xe hơi Nguyễn Văn Thập (sau làm nghị viện hội đồng Đô Thành và chủ nhiệm báo Cái Còi), văn phòng luật sư Nguyễn Phước Đại (Thượng Nghị sĩ, Phó Chủ tịch Thượng Nghị Viện của Việt Nam Cộng Hòa vào hồi cuối thập niên 1960 ), trường trung học La San Đức Minh;

– Trên đường Hai Bà Trưng có trường trung học Nguyễn Công Trứ, nhà thờ Tân Định, tiệm hòm Tobia và tiệm hòm Vạn Thọ ,trường trung tiểu học Thiên Phước và xa hơn một chút nữa là chợ Tân Định.

(Phụ chú : Các trường trung học và chợ Tân Định kể trên đã được trình bày trong bài Trường trung học ở Sàigòn, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 Các ngôi chợ ở Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 của cùng tác giả).

Mậu Thân năm 1968, lợi dụng hưu chiến để cho người dân ăn ba ngày Tết, Việt cộng đã mở những cuộc tấn công vào Sàigòn và các thành phố lớn ở miền Nam. Một nhóm đặc công Việt cộng đã đột nhập ẩn náu trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Theo tài liệu [9], chập tối ngày 8 tháng 2, Việt cộng từ hướng nghĩa trang, dùng súng cá nhân bắn quấy rối vào tư dinh Đại Sứ Hoa Kỳ nằm ở góc đường Phùng Khắc Khoan và đường Phan Thanh Giản. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã vào đây để tảo thanh và trừ khử các tên phá hoại an ninh người sống và khuấy động yên tĩnh người quá cố. (Xem hình dưới đây).

Xe thiết giáp M 113 của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa trên đường Mạc Đĩnh Chi ngã ba với Phan Thanh Giản

Quân đội Việt Nam Cộng Hòa truy lùng Việt cộng trong nghĩa trang
Bức tường trên hình nằm phía bên đường Phan Liêm
Tòa nhà sau tường là trường trung học Huỳnh Khương Ninh

Trong hai thập niên tiếp theo, 1955-1975, gia đình các chính trị gia lãnh đạo quốc gia, các cấp chỉ huy quân đội , các nhân vật nổi tiếng và các gia đình thượng lưu cũng như trung lưu khá giả, Công giáo cũng như Phật Giáo , của xã hội miền Nam Việt Nam đã chọn nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi để án táng người thân. Tiêu biểu có :

1- Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa,ông Ngô Đình Diệm và bào đệ ông Ngô Đình Nhu bị ám sát vào ngày 02 tháng 11 năm 1963.

Huyệt mộ trong hình trên đã được xây xong trên lô đất số 3 của nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi để án táng Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu dự định vào ngày 3 tháng 11 năm 1963, nhưng không thực hiện được. Theo tài liệu [10], hai ông đã được chôn tạm thời trong đất của Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở quận Tân Bình-Gia Định. Sau khi làn sóng chống đối tạm lắng xuống, hai ông mới được chôn cất tại nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi .

Mộ hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu khá đặc biệt, chỉ có tấm đan bê tông đặt bên trên cao hơn mặt đất vài chục phân. Hai ông được chôn trong kim tĩnh (hộp bê tông dày và kín) rất khô ráo. Suốt từng ấy năm cho đến 1975, hai ngôi mộ nằm lọt thỏm, đìu hiu giữa nghĩa trang bộn bề những ngôi mộ kiên cố (tài liệu [11]).

Mộ Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi

2- Thống tướng quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông Lê Văn Tỵ ;

3- Chuẩn tướng không quân Lưu Kim Cương chết trong trận Mậu Thân 1968 (Xem thêm chi tiết trong bài Nghĩa trang quân đội Pháp ở Tân Sơn Nhứt của cùng tác giả) ;

4- Thân phụ của các ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ (tài liệu [11]);

5- Ngoài ra còn có một số lượng nhỏ của người nước ngoài được chôn cất như phóng viên François Sully , làm việc cho báo Time và Newsweek,qua đời vào tháng 2 năm 1971, nhà truyền giáo Hoa Kỳ Grace Cadman.

Mộ ông Lê Văn Tỵ Mộ người thường dân chụp năm 1961 bởi một nhiếp ảnh báo Life magazine
Mộ người thường dân Công giáo trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi
(Năm chưa xác định được)
Mộ người thường dân Phật Giáo trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi
( Năm chưa xác định được)

(Phụ chú : Tài liệu [12] và vài tài liệu khác trên mạng đã cường điệu thái quá khi viết rằng : Ở Sàigòn, nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi được xem như nghĩa địa “quý tộc” dành riêng cho quan chức từ thời Pháp và những người thuộc giới thượng lưu. Ngày nay, dưới chế độ cộng sản, so với một (1) và chỉ một (1) lăng tẩm của một (1) tên đảng viên cấp trung ương thôi, toàn thể khu đất nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi chỉ là một góc nhỏ, không thấm thía gì cả ! Tên đầu sỏ hcm (Sic), xác đã khô quằm từ mấy chục năm nay vẫn được tôn thờ trong một cái lăng vĩ đại giữa thành phố Hà Nội. Đó là chưa kể biết bao tượng hình của nó gắn đủ mọi chỗ, mọi nơi trên đất nước Việt Nam.

Mặc dầu tự xưng là vô sản, vô thần trong suốt đời làm cách miệng, nhưng khi chúng chết, chúng tổ chức đám mà linh đình còn hơn đám ma của vua chúa ngày xưa. Quý tộc chính là bọn này .Chúng thuê cả trăm nhà sư tới cầu siêu tịnh độ cho chúng. Làm sao mà siêu được trong khi đó bàn tay của chúng còn đẫm máu dân lành.

Bọn ngụy quyền cộng sản sau khi chết còn quan liêu hống hách hơn khi còn sống. Chúng đã xây nhiều nghĩa địa hoàn toàn dành riêng cho đảng viên của chúng , bởi vì chúng không muốn nằm chung với người dân thường . Rõ ràng đây là một hành động phân biệt giai cấp. Chết mà chưa hết chuyện).

Vào đầu thập niên 1980, sau khi đã cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam, bọn ngụy quyền cộng sản Việt Nam tuyên bố rằng nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi gợi lại hình ảnh thối nát xấu xa của chế độ cũ.

Tài liệu [13] cũng viết tương tự như thế : Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi làm nhớ lại cái quá khứ thuộc địa đắng cay (Nguyên văn : as the cemetery was seen as a bitter reminder of the colonial past).

(Phụ chú : Theo một tài liệu trên mạng, chính tên đại tướng công an cộng sản ác ôn Mai Chí Thọ (Sic) đã ra lịnh san bằng nghĩa địa Mạc Đỉnh Chi để trả thù dân Sàigòn).

Năm 1983, ngụy quyền cộng sản thành phố đã ra chỉ thị xoá bỏ toàn bộ nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Tất cả mồ mả ở đây bị khai quật và dẹp bỏ.

Các gia đình có hai tháng để lấy lại thân xác người thân. Còn lại nếu không có người nhận, thì được hỏa táng và di dời nơi khác. Hài cốt của những người lính Pháp được đưa về Pháp chôn cất ở Fréjus, xứ Pháp.

Sau đó tất cả lăng tẩm, bia mộ đã bị san thành bình địa bởi các xe chiếc xe ủi đất (bulldozer) để xây một công viên. Trong thời gian khai quật để di dời các ngôi mộ tại đây người ta đã phát hiện tấm bia mộ của đại úy Barbé là tấm bia của Phạm Đăng Hưng được khắc phía sau. Thì ra tấm bia do vua Tự Đức ra lệnh cho các danh thần Phan Thanh Giản và Trương Quốc Dụng viết bia văn vào năm Tự Đức thứ mười (1858) và được chở từ Huế vào Gò Công để dựng trước mộ Phạm Đăng Hưng. Nào ngờ hải quân Pháp chặn ghe bắt được và dùng ngay vào việc lập bia cho Barbé mới chết dù đã chôn nhưng còn thiếu cái bia tươm tất. Lính Pháp lúc đó chẳng hiểu bia của ai (tài liệu [5]) .

Sau khi nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi đã bị giải tỏa , ngụy quyền xây một công viên. Công viên này trở thành nơi vui chơi giải trí và được chọn để tổ chức các triển lãm nghệ thuật và hội chợ ẩm thực thu hút nhiều du khách .Tuy nhiên,những người dân địa phương có thể vì mê tín dị đoan nhưng biết lịch sử quá khứ của khu nghĩa địa này, đã chọn không bước vào đây (tài liệu [1]).

Công viên này mang tên Lê Văn Tám, một kẻ hoàn toàn không có thật.Nó đã được bịa đặt và chế ra nhằm mục đích tuyên truyền bởi Trần Huy Liệu, nhà văn , nhà báo và sử gia cở bự của ngụy quyền cộng sản, bộ trưởng bộ Thông tin Tuyên truyền, chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Đông Đức.

Theo tài liệu [14] : “Trong bài viết đăng trên tạp chí Xưa và Nay số ra tháng 10 (năm 2009), giáo sư sử học Phan Huy Lê nói rằng ông đã được ông Trần Huy Liệu, Viện trưởng Viện sử học và cũng là Bộ trưởng Tuyên truyền hồi thập niên 1940 kể cho nghe nhân vật Lê Văn Tám là do ông Liệu dựng lên để cổ vũ tinh thần chiến đấu của người Việt. Ông Phan Huy Lê cũng nói rằng ông Trần Huy Liệu đã nói với ông và hai người khác trong một cuộc gặp: Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa…”.

Tài liệu [1] cũng có một đoạn văn viết về chuyện gian trá này : ‘’In 2005, leading historian Professor Phan Huy Lê of the Hà Nội National University showed that the story about Lê Văn Tám was a fictional one, written by then Propaganda Minister Trần Huy Liệu’’.

Một người được mệnh danh là ‘’sử gia’’, lại có thể bẻ ngòi bút quá dễ dàng để viết theo đơn đặt hàng của một cái đảng sống chui rúc trong một cái hang Pắc Bó, thì còn gì liêm sỉ. Nay có ăn năn hối hận thì đã quá muộn rồi.

Sau năm 1975, dưới chế độ cộng sản Ba Đình, với hàng trăm, hàng ngàn dư luận viên tuyển chọn từ bọn tay sai, văn nô, bồi bút, mồm loa mép giải ,đần độn, côn đồ, thô bạo và tai ngược (Chữ ‘’tai ngược’’ này được mượn từ tài liệu [15]). Tai ngược là nói không thành có, nói có thành không. Tai ngược là điêu ngoa, có nghĩa là chụp mũ, là vu khống”), những hiện tượng khả ố này đã được nâng lên hàng quốc sách, để biến xứ Việt Nam dưới chế độ cai trị của cộng sản thành vương quốc ma quỉ của tất cả những sự xảo trá, đểu giả thượng thừa. Nhưng may mắn thay, dưới thời đại thông tin Internet, người dân Việt Nam đã hiểu qúa rõ bộ mặt thật của ngụy quyền cộng sản , những trò tuyên truyền rẻ tiền này không còn một chút hiệu quả nào cả.

Phụ đề : Trận đánh phá Thành Phụng năm 1859 bởi quân đội Pháp

Theo tài liệu [2] : Năm 1835, sau khi dẹp xong loạn Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng hạ lệnh phá hủy toàn bộ thành Phiên An (Quy Thành của Gia Long xây cất năm 1790). Năm sau, 1836, cho xây một thành khác nhỏ hơn phía đông bắc thành cũ, gọi là “Thành Phụng”, tức thành Gia Định.

Thành Phụng tọa lạc trên một khu đất, nếu đặt trên bản đồ Đô thành Sàigòn – Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975, sẽ có một chu vi bao bọc bởi bốn đường sau đây :

– Đường Phan Đình Phùng (Richaud cũ),

– Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Rousseau cũ),

– Đường Nguyễn Du (Mossard cũ),

– Đường Mạc Đĩnh Chi (Massiges cũ).

Thành Phụng (màu tím) trên bản đồ

Chiếu theo bản dịch Gaspardone của bộ Gia Định thông chí Trịnh Hoài Đức thì ‘’Thành 1836’’ (Thành Phụng) có bốn cửa, chu vi 429 trượng, cao 10 trượng 3 thốn, hào thành sâu 7 xích, bề ngang hào 11 trượng 4 xích. Thành 1836 tại làng Nghĩa Hòa – Bình Dương.

(Phụ chú : Ngày 2 tháng 6 năm 1897, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã ra sắc lệnh quy định, kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1898, ở địa bàn Bắc Kỳ thống nhất tất cả các loại thước thành một loại thước ta bằng 0,40 mét. Theo đó, một trượng dài 4 mét. Tuy nhiên, ở Trung Kỳ vẫn dùng chuẩn cũ với chiều dài 1 trượng = 4,7 mét. Ngoài ra,một trượng Tàu dài 3,33 mét).

Tài liệu [14] viết : Theo Đại Nam nhất thống chí, thành Gia Định có chu vi khoảng 1960 thước (gần hai cây số).

Sau đây là sơ lược trận đánh Thành Phụng theo tài liệu [16,17,18,19] :

Năm 1858, sau sự thất bại của phái đoàn ngoại giao Charles de Montigny , theo lịnh của Napoléon III, đô đốc Charles Rigault de Genouilly tấn công Việt Nam. Nhiệm vụ này được tuyên bố là để làm ngừng những việc áp hại các nhà truyền giáo và bảo đảm tự do tín ngưỡng.

Để đổ bộ vào Việt Nam, đô đốc Charles Rigault de Genouilly có dưới tay một lực lượng hải quân 14 tàu chiến và lực lượng bộ binh liên minh (thủy quân lục chiến ?) gồm có 1000 lính người Pháp, 550 lính người Tây Ban Nha và 450 lính người Phi Luật Tân, tổng cộng 2000 lính.

Lực lượng lính liên minh đồ bộ xuống cảng Tourane (Đà Nẵng) tháng 9 năm 1958 và sau một trận pháo kích ngắn đã chiếm được cảng này. Tuy nhiên chẳng bao lâu, lực lượng này bị quân lính Việt Nam bao vây và vì thế không thể tiến vào đất liền.

Bị cầm chân ở Đà Nẵng, ngày 29 tháng 1 năm 1859, đô đốc Charles Rigault de Genouilly gửi thư về Bộ Hải quân Pháp ở Paris đề xuất đánh Thành Phụng (thành Gia Định) với nhiều lý do : Sàigòn ( danh từ Sàigòn do tướng Genouilly viết trong thư) nằm trên một con sông mà chiến thuyền của chúng ta dễ vào, và hễ quân lên bộ thì đánh thành ngay, không phải lưng cõng, vai mang, băng đồng mệt nhọc; Sàigòn lại là một vựa thóc. Nhân dân và binh lính ở kinh thành Huế sống một phần nhờ gạo Sàigòn. Đến tháng Ba thì thuyền chở thóc gạo, sẽ kéo buồm từ Sàigòn ra Huế. Chúng tôi quyết chặn thóc gạo đó lại…; Thương gia Hong Kong thúc giục nhà cầm quyền Anh đánh Sàigòn…

Theo tài liệu [16] : Đô đốc Charles Rigault de Genouilly chỉ huy đoàn chiến hạm gồm có : 2 hộ tống hạm Phlégéton và Primauget, và 1 thông pháo hạm El Cano, 3 pháo hạm, 3 quân vận hạm chở 2176 thủy quân lục chiến ồ ạt tấn công Cửa Cần Giờ để vào nội địa Gia Định. Trong khi đó ,theo tài liệu [17,18,19] ,số lượng tàu chiến và số lính có phần khác : Đô đốc Charles Rigault de Genouilly lấy 8 trong số 14 tàu chiến và toàn bộ lính bộ binh liên minh (tức 2000 người) để vào đánh chiếm Sàigòn.

Bốn ngày sau, ngày 2 tháng 2, lực lượng lính liên minh và tàu chiến rời Đà Nẵng tiến về biển Vũng Tàu. Tám ngày sau, ngày 10 tháng 2, quân liên minh tấn công Vũng Tàu.

Ngày 11 tháng 2, lính liên minh Pháp – Tây Ban Nha tiến vô sông Cần Giờ, pháo kích nặng nề hệ thống phòng thủ của quân đội Việt Nam tại cửa Cần Giờ. Nhưng chúng gặp phải sự chống cự mãnh liệt từ hàng chục đồn trại của quân đội Việt Nam mặc dù mỗi đồn chỉ vài chục đến 100 quân. Cuộc tiến quân của lính liên minh đi qua chặng đường này mất gần 5 ngày. Chúng thắng trận nhưng không đổ bộ, chỉ phá cản để vượt sông Lòng Tảo thẳng đường vào Sàigòn.

Ngày 15 tháng 2 năm 1859, hải quân Pháp kéo binh vào đến Nhà Bè.Chiều tối ngày này, chúng đi vào tầm nhìn của hai đồn xây bởi kỹ sư Pháp vào thời Gia Long ở hai bên sông Sàigòn để bảo vệ phía Nam Sàigòn. Đó là đồn Vàm Cỏ hay Đồn Nam (tên chữ là ụ Hữu Bình) nằm ở góc sông Sàigòn – cầu Tân Thuận sau thuộc Quận 4 thời Việt Nam Cộng Hòa và đồn Cá Trê hay Đồn Bắc ở bên kia Thủ Thiêm thuộc Quận 9, xã An Khánh (Tả Định – bên rạch Cá Trê ở Thủ Thiêm hiện nay, hiện cá nơi đây người dân câu được vẫn chủ yếu là cá trê. Nhiều cầu nơi đây vẫn đang mang tên Cá Trê 1, 2, 3, 4, Cá Trê Lớn, Cá Trê Nhỏ). Suốt đêm, lực lượng quân đội Việt Nam không chỉ đấu pháo dữ dội mà còn dự tính đánh hỏa công bằng thuyền gỗ chở thuốc súng và rơm (nhưng bị lính liên minh Pháp phát hiện đốt trước khi thuyền hỏa công xáp gần tàu chiến Pháp).

Rồi hôm sau, vào rạng đông ngày 16 tháng 2 năm 1859 ,các tàu chiến Phlégéton , Primauguet , Alarme và Avalanche thả neo cách hai đồn Vàm Cỏ và Cá Trê khoảng 800 thước.Các đại đội lính liên minh, chia làm hai mặt , đổ bộ lên bờ tấn công hai đồn này.Sau vài giờ bắn phá, chúng đoạt được xã An Khánh và vào 8 giờ sáng thì hai đồn này rơi vào tay lính Tây Ban Nha.

Sau đó vào xế muộn của cùng ngày này, Đô đốc Rigault de Genouilly cử Capitaine de frégate (tương đương cấp trung tá) Bernard Jauréguiberry (về sau lên chức đô đốc và làm bộ trưởng bộ Thủy quân lục chiến), Thiếu tá công binh Dupré Dédroulède và Đại úy pháo binh Lacour đi trên tàu Avalanche đi trinh thám tình hình Thành Phụng.

Sau khi chỉnh đốn hàng ngũ , rạng sáng 17 tháng 2 năm 1859, toàn bộ lực lượng lính liên minh dừng quân trên sông Sàigòn, trực diện cổng thành Gia Định (ngã tư đường Thống Nhất – Đinh Tiên Hoàng). Các tàu chiến trên sông Sàigòn chỉ cách cổng chính hướng đông của Thành Phụng khoảng 500 thước, sau khi Đô đốc Rigault de Genouilly đã ra lịnh, đã mở các cuộc pháo kích dữ dội vào Thành Phụng để mở đường cho bộ binh.

Hình vẽ cảnh các tàu chiến hải quân Pháp pháo kích Thành Phụng
(Prise de Saïgon par Charles Rigault de Genouilly le 17 février 1859, peinte par Antoine Morel-Fatio)

Hai trăm (200) khẩu pháo trong Thành Phụng đáp trả mãnh liệt, ít nhiều gây tổn thất cho lực lượng liên minh.

Thiếu tá thủy quân lục chiến Martin der Pallières xua hai đại đội đổ bộ vào thành. Đồng thời cánh quân trừ bị của Đại tá Lanzarotte và một cánh khác của Thiếu tá Breschin cũng ồ ạt đổ quân tấn công các mặt thành.

Công trường Mê Linh
trên Bến Bạch Đằng

Theo tài liệu [2] : Bộ binh liên minh đổ bộ, do ngả Luro (Cường Để) kéo lên công hãm Thành Phụng. Lúc đổ bộ, tàu chiến Pháp thả neo trên sông Sàigòn tại một địa điểm sau này là công trường Mê Linh. Cũng theo tài liệu này, Trào Pháp đặt tên là Place Rigault de Genouilly, có dựng tượng đồng to lớn để ghi chiến công Thuỷ sư Đề đốc này. Vì vậy, từ năm 1863 chỗ này xưa gọi Công trường Một Hình nhưng tượng của De Genouilly năm 1879 mới dựng.

Hướng tấn công chính của liên minh nhằm vào cổng Thành nằm ở hướng đông nam (đường Thống Nhất).

Sau đó lính liên minh bắc thang leo vô Thành khá dễ vì Thành chỉ cao 4,7m. Cổng thành phía đông vỡ. Lính liên minh không chỉ xáp lá cà mà còn dùng súng bắn liên tục vô quân Việt Nam vốn dùng súng hỏa mai, nạp đạn rất chậm… Lính Việt Nam trong Thành khoảng 1000 người lao vô giặc đánh cận chiến bằng tất cả gươm, súng mình có trong tay, đã có gắng đánh chống trả lại. Đô đốc Charner đã tự mình chỉ huy các lực lượng lính người Phi Luật Tân của đại tá Lanzarote đẩy lùi các cuộc phản công của lính Việt.

Bức phác họa cảnh lính liên minh leo vô Thành Phụng ngày 17 17 tháng 2 1859
(Croquis envoyé par M. I. Roux (?) ,secrétaire de l’amiral Charles Rigault de Genouilly)

Vào lúc 10 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1859, Thành Phụng (thành Gia Định) thất thủ. Đến 13 giờ , lính liên minh chiếm được Thành, tịch thu của ta 200 khẩu đại bác, 58000 kí lô thuốc súng trường và nhiều giáo mác, 13000 quan tiền và vô số thực phẩm.

Những nguyên nhân trực tiếp gây ra sự thất thủ này có thể tóm tắt như sau :

– Quân số lực lượng bộ binh liên minh Pháp – Tây Ban Nha nhiều gấp hai lần quân số Việt Nam bảo vệ Thành Phụng;

– Hơn nữa lính liên mình được pháo binh từ 8 tàu chiến hải quân yểm trợ;

– Vũ khí lính liên minh tối tân hơn;

– Và sau cùng ở Gia Định bấy giờ tuy có nhiều binh khí nhưng quân lính không luyện tập, việc võ bị bỏ trễ nải.

Sau khi lấy được Thành Phụng, Pháp gọi Thành này là ‘’Citadelle de Saigon’’ (tài liệu [2]).

Citadelle de Saïgon quá rộng lớn, liên minh lại không đủ lính để giữ thành, lại không nhận được sự hỗ trợ từ các giáo sĩ và giáo dân Thiên Chúa giáo , hơn nữa luôn bị các đội nghĩa quân ngày đêm bám sát, do đó vào ngày 8 tháng 3 năm 1859 , Đô đốc Rigault de Genouilly đã quyết định phá hủy thành Gia Định,bằng cách đặt chất nổ ,sau khi cho lính di tản quân sĩ đến đóng tại một đồn ở bờ sông (ở khoảng Bộ Tư Lịnh Hải Quân).Quân sĩ Pháp đặt 35 ổ cốt mìn pha tan tành Thành Phụng.

Tiếng mìn nổ vang ầm làm rung động cả một góc trời. Nhiều tảng đá và mảnh vụn văng tứ phía. Lửa bốc cháy cao ngùn ngụt đến cả tháng mới tắt.

Theo tài liệu [2], quân đội Pháp đã tiêu hủy một cách đáng tiếc :

– Hai mươi ngàn (20.000) cây súng tay đủ cỡ, và một số binh khí như gươm giáo v.v… nhiều không thể đếm.

– Tám mươi lăm (85) thùng thuốc súng và vô số kể nào bì súng, hỏa pháo, diêm sanh, tiêu thạch (salpêtre), chì v.v…

– Một số lúa trữ trong kho đủ sức nuôi từ sáu đến tám ngàn (6.000 – 8.000) nhân khẩu trong vòng một năm.

– Lại với một số tiền bản xứ (điếu và kẽm) để trong kho ước định và trị giá bằng 130.000 quan tiền lang sa thời đó.

Về lúa đốt bỏ, có sách đã trị giá trên ba triệu quan Pháp (3.000.000 francs) và thuật lại rằng có nhóm Hoa kiều trong Chợ Lớn đưa đề nghị xin mua mà tướng Rigault de Genouilly không chấp nhận sợ rằng số lúa này không may lại lọt vào tay binh lính Việt thì khác nào giúp giáo cho giặc. Thà cho họ đốt bỏ số lúa mà bọn Hoa kiều trả giá đến tám triệu quan (8.000.000 francs). Ba năm sau, đến 1862, trận lửa đốt lúa còn ngún ngấm ngầm… Ông Charles Lemire thuật lại rằng: ngày 27 tháng Giêng năm 1862, ông có thí nghiệm, thử thọc cây gậy cầm tay vào đống tro tàn, khi rút gậy ra thì đã cháy thành than (Bulletin de la Société des Etudes Indochinnoises, năm 1935, trang 8). Charles Lemire thuật tiếp rằng về sau chính bên phe Pháp có người tỏ ra hối tiếc hành động hủy hoại vô ích của Thủy sư Đề đốc Rigault de Genouilly nhưng đã muộn (B.S.E.I. 1935 kể trên, trang 96-97).

Phá tan thành Gia Định xong, De Genouilly chỉ để lại một số quân đóng giữ ở đồn Nam (đồn Hữu Bình), còn bao nhiêu rút hết xuống các tàu chiến.

Ngày 20 tháng 4 năm 1859, viên tướng De Genouilly giao quyền cho Đại tá hải quân Jauréguibery chiếm giữ Gia Định, rồi lui tàu trở lại mặt trận Đà Nẵng, vì lúc này quân Pháp ở đó đang bị nguy khốn vì thương vong và dịch bệnh…

Sau khi triệt hạ thành “Citadelle de Saigon”, binh lính Pháp dùng sắt và vôi gạch xây thành lính “Sơn đá” của họ, tục danh “Thành 11è R.I.C” (Caserne du Onzième Régiment de l’Infanterie Coloniale – Trại Bộ Binh Thuộc địa đội thứ 11; trại này nằm gần đúng vị trí Citadelle de Saigon . Thời Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, thành này có tên là thành Cộng Hòa và sau cuộc đảo chánh năm 1963 thì bị dẹp bỏ. Khu vực thành Cộng Hòa cho Bộ Giáo dục để thiết lập một khu Đại học (mà sau này là Đại học Văn Khoa và Dược Khoa). Trên khu vực này, về sau còn thành lập thêm cơ sở của Cao đẳng Nông Lâm Súc và Đài truyền hình. Một con đường được mở xuyên qua thành Cộng Hòa cũ, nối thông đường Đinh Tiên Hoàng và đại lộ Cường Để (tài liệu [20]).

Điều đáng tiếc là các tài liệu [16,17,18,19] trên không có ghi thiệt hại nhân mạng của quân lính Việt Nam và của liên minh Pháp và Tây Ban Nha trong trận đánh chiếm thành Phụng năm 1859.

Theo tài liệu [2] , các lính tử trận của liên minh được chôn ở một địa điểm sau này gần trụ sở hãng Shell trên đường Thống Nhất, tức là ở ngay trên chiến trường Thành Phụng. (Xem thêm chi tiết trong bài Ancien Cimetière của cùng tác giả).

Sau đó,chẳng bao lâu trong cùng năm 1859, người Pháp mở Cimetière Européen (màu tím) chỉ cách Thành Phụng (mũi tên đen) khoảng độ cây số ( Hai khu phố của ba đường : Phan Đình Phùng ,Tự Đức và Phan Thanh Giản. Hông Thành Phụng bên đường Mạc Đĩnh Chi chạy thẳng vào cổng chính nghĩa trang- xem bản đồ trên). Những người lính tử trận của liên minh được cải táng ở nghĩa trang này. Có thể chính vì những người này gốc gác Âu Châu , nghĩa trang được đặt một tên chung là Cimetière Européen – Nghĩa trang Âu Châu.

Tài liệu tham khảo :

  1. Tim Doling – Le Van Tam Park – Former Massiges Cemetery, 1859– 23/09/2014.
  2. Vương Hồng Sển- Sàigòn Năm Xưa -Sống Mới-1968.
  3. Quê hương ta nhớ-Nhớ lại Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi giờ đã thành dĩ vãng-11/09/201.
  4. Wikipédia, l’encyclopédie libre Cimetière Mạc Đĩnh Chi – Mạc Đĩnh Chi Cemetery.
  5. Chu Nguyễn- U hồn trong Đất Thánh Tây– 06/09/2018 by hongoccan2017.
  6. Willis – Parachutistes militaires, les Régiments, les Brevets, nos Anciens – Le service de santé en Indochine, 1858-1945
  7. Huỳnh Hiếu Hạnh-Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca chú thích (Bài cuối)-09/07/2015.
  8. Bình Nguyên Lộc-Những bước lang thang trên hè phố- Hui nhị tỳ 1– Mạng Bảo Vệ Cờ Vàng- 23/09/2020.
  9. Khối Quân Sử- Phòng 5-Bộ Tổng tham Mưu-Tổng công kích-tổng khởi nghĩa của Việt cộng Mậu Thân 1968.
  10. Mạng http://www.hinhanhlichsu.org : Tang lễ tổng thống Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu năm 1963.
  11. Hồ sơ quý hiếm An táng hai Ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu- Những điều chưa biết về Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi xưa.
  12. Trang Nguyên-Nghĩa địa ở Sàigòn ngày trước– dòng sông cũ- 19/05/2017.
  13. Mac Dinh Chi Cemetery (Defunct)- Également appelé Cimetière Européen.
  14. Bách khoa toàn thư- Trần Huy Liệu.
  15. Bằng Phong Đặng văn Âu-Thời đại tai ngược.
  16. Huỳnh Minh – Gia Ðịnh xưa và nay – Nhà xuất bản Khai Trí – 1973.
  17. Tuổi trẻ Online – Nếu còn thành cũ, Gia Định không dễ thất thủ ngày 17-2-1859-17/02/2016.
  18. Wikipédia- Siège de Saigon
  19. Bách khoa toàn thư –Trận thành Gia Định, 1859.
  20. Bách khoa toàn thư – Thành Cộng Hòa.

—>5…10
<—Mục Lục

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s