CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Gia Định

18-Đất mộ phần dòng họ Trương Minh
Quận Gò Vấp – Gia Định

Đất mộ phần dòng họ Trương Minh là một nghĩa trang tư nhân dành riêng cho thân nhân của dòng họ Trương Minh Giảng. Nghĩa trang này đã bắt đầu với phụ mẫu của ông Trương Minh Giảng, tới ông Trương Minh Giảng, sau đó ông Trương Minh Ký cháu hai đời và cho tới nay các cháu chít hậu duệ.

(Xem Sơ lược tiểu sử Trương Minh Giảng trong Phụ đề 1 và Sơ lược tiểu sử Trương Minh Ký trong Phụ đề 2).

Năm thành lập mộ phần họ Trương Minh chưa xác định được. Tuy nhiên dựa vào năm ông Trương Minh Giảng qua đời, thì mộ phần họ Trương Minh phải được thành lập trước năm 1841.

Mặt khác, tài liệu [1], dầu không có đưa bằng chứng, đã viết rằng hai 2 ngôi mộ của cha mẹ ông Trương Minh Giảng, tức Thành Tín hầu Thượng thư Bộ Lễ Trương Minh Thành đã cổ xưa gần 200 năm. Nếu điều nầy xác thực thì nghĩa trang dòng họ Trương Minh phải hiện hữu vào khoảng năm 1820.

Theo lời kể của một người cháu đời thứ 5 hay 6 dòng họ Trương Minh, khuôn viên đất mộ phần dòng họ Trương trước kia rộng đến hàng mẫu. Cho đến ngày nay, giấy tờ quyền sở hữu tài sản này vẫn còn (tài liệu [2]).

Theo tài liệu [1] : Ngôi mộ của Trương Minh Giảng nằm ven con hẻm 102 đường Lý Thường Kiệt, phường 7, quận Gò Vấp. Trong khi đó, tài liệu [3] viết rằng ngôi mộ song táng của Trương Minh Giảng cùng phu nhân nằm tại hẻm 82/5 đường Lý Thường Kiệt cùng phường 7.

Theo tài liệu [1] : Ngôi mộ của Thành Tín hầu Thượng thư Bộ Lễ Trương Minh Thành (cha ruột Trương Minh Giảng), nằm ngoài khuôn viên nhà thờ gia tộc đến những 70 thước ,ngay góc ngã ba 2 con hẻm nhỏ,ở số 82/14A đường Lý Thường Kiệt.

Ngôi mộ của ông Trương Minh Ký và phu nhân, theo tài liệu [4] , nằm ở phía sau nhà thờ gia tộc họ Trương, trong khuôn viên của nhà dân ở đường Gia Long, cùng phường 7. Điều này có thể dễ hiểu bởi vì miếng đất nghĩa trang khá rộng lớn nên được nhiều đường bao bọc chung quanh.

Tài liệu [5, 6] miêu tả đất mộ phần dòng họ Trương Minh vào những năm trước 1975 như sau :

‘’Ai có đến vùng Gò Vấp để tìm di tích lịch sử, đều nghe nói đến ngôi phủ thờ xưa, tọa lạc ở quận này.

Nhà thờ họ Trương Minh xây cất đã trên trăm năm ở Gò Vấp. Phủ thờ cũ kỹ keo trinh mối leo cả dây.

Người trong gia tộc vẫn hằng sửa sang tu bổ, nên được tồn tại đến hôm nay. Trong nhà thờ này còn giữ được nguyên vẹn trên một trăm bài vị của tiền nhân. Mỗi bài vị chạm trổ sơn son phết vàng rất cổ kính. Dầu trải qua bao mùa chinh chiến, mà ngôi nhà thờ và các bài vị vẫn tồn tại với thời gian thật đáng ca ngợi.

Đặc biệt, trong nhà thờ còn lưu lại mấy bàn thờ, chậu lư hương, hoành phi, liễn đối nguyên xưa của nhà ông Thế Tải Trương Minh Ký, một học giả đồng thời với ông Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký.

Trong cuộc đất, có hai ngôi mộ xưa nhất của cha (Thành Tín hầu Thượng thư Bộ Lễ Trương Minh Thành) và mẹ của ông Trương Minh Giảng.

Ngôi mộ của ông Trương Minh Giảng, Bình Thành bá Thượng thư Bộ Hộ, bậc khai quốc công thần triều nhà Nguyễn, xây bằng vôi trộn hồ ô- dước theo thế kỷ 19. Giữa ngôi mộ có một núm tròn, kiểu khác hơn các ngôi mộ ở đây.

Đến ngôi mộ ông Trương Minh Ký mất vào đầu thế kỷ 20, kiểu kiến trúc theo lối Âu Tây, trên có chạm khắc bông lá hoa hòe kiểu cách giống các ngôi mộ người công giáo.

Cấp dưới là con cháu ông Thế Tải Trương Minh Ký. Mỗi ngôi mộ có để bia chạm khắc tên tuổi người quá cố theo tên thánh Joseph, Julie v.v… thêm đặt ảnh chụp lộng kiếng chơn dung người quá vãng.

Những ngôi mộ họ Trương Minh, chứng minh kiểu mồ mả qua ba thế hệ thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và trong thế kỷ 20 này.

Điều chúng ta nên biết thêm, dòng dõi Trương Minh vẫn là một họ lừng lẫy tiếng tăm từ xa xưa cho đến ngày nầy. Từ cụ tổ họ Trương Minh là cụ Trương Minh Thành, đến cụ Trương Minh Giảng, dần dần xuống đến cụ Thế Tải Trương Mình Ký, đều là bậc hữu danh trong lịch sử.Nhất là cụ Trương Minh Ký, học giả nổi tiếng chẳng kém gì cụ Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký.

Thời gần đây, hai họ Trương Minh và Trương Vĩnh khét tiếng ở miền Nam nói chung, Gìa Định nói riêng’’.

(Xem thêm Sơ lược tiểu sử Trương Vĩnh Ký trong bài Trường trung học ở Sàigòn, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975- Trường Petrus Ký của cùng tác giả).

Tình trạng mộ phần dòng họ Trương Minh vào những năm 2015, tức 40 năm sau năm 1975 :

1- Ngôi mộ song táng của Bình Thành bá Thượng thư Bộ Hộ Trương Minh Giảng và phu nhân, theo tài liệu [1,2,3,7]:

‘’Phía bên trái khu từ đường là một khu vườn um tùm lùm chuối, cau kiểng, mít và tràn lan cỏ dại. Mộ ông Trương Minh Giảng được xây bằng hợp chất ô dước. Một bờ thành hình chữ nhật có kích thước khoảng 10 thước dài , 6 thước rộng và cao 0,6 thước bao quanh mộ. Ngay cổng mộ, hai trụ đá vuông trên đầu trụ có chạm búp sen lớn. Bình phong phía trước gồm 3 ô hình chữ nhật (ô giữa nhô lên), hai bên bình phong có trụ dạng cuốn thư . Bình phong phía sau nối liền với bờ thành,cũng chẳng còn hình dạng nguyên thủy . Toàn bộ ngôi mộ hiện rêu phong phủ dày, cỏ và cây dại mọc khắp nơi. Mộ không có bia và không còn một dòng chữ nào để xác định tên, tuổi người nằm trong mộ.

Ngôi mộ kế bên là của phu nhân ông Trương Minh Giảng, được xây bằng đá ong xung quanh và cũng không có một tấm bia, một dòng chữ nào.

Trương gia từ (từ đường) kín cổng cao tường
(Hình trích từ tài liệu [1] )

Ngôi mộ của Bình Thành bá Thượng thư Bộ Hộ Trương Minh Giảng
(Hình trích từ tài liệu [1] )

Ngôi mộ của Bình Thành bá Thượng thư Bộ Hộ Trương Minh Giảng
(Hình trích từ tài liệu [7] )

Bình phong phía trước mộ của Trương Minh Giảng
(Hình trích từ tài liệu [7] )

Mộ phần phu nhân Trương Minh Giảng
(Hình trích từ tài liệu [1] )

Cả 2 ngôi mộ Trương Minh Giảng và phu nhân được vây quanh bởi 3 bức tường, bên trong khu đất từ đường rộng hơn 1000 thước vuông bao bọc bởi tường rào cao trên 2 thước, hiện nay đã bị người dân lấn chiếm, chất gạch đá bít lại và xây nhà lấn mất cả đầu mộ (tài liệu [2]).

2- Mộ của Thành Tín hầu Thượng thư Bộ Lễ Trương Minh Thành và phu nhân (phụ mẫu của Trương Minh Giảng) :

Tài liệu [1,3,7] viết như sau : ‘’ Người qua đường nhìn vào chỉ có thể đoán đây là một ngôi mộ cổ được khoanh vuông bằng một bờ thành bằng hợp chất ô-dước phủ rêu xanh (dài khoảng 10 thước, góc có trụ vuông), còn thì chỉ thấy mộ “rừng cây” um tùm và nơi đổ đồ phế thải (thùng mốp, cửa kính vỡ, khung nhôm, đồ sắt, gỗ tạp, chậu kiểng…). Hai ngôi mộ của Thành Tín hầu Thượng thư Bộ Lễ Trương Minh Thành và phu nhân đều không có bia.

Mộ của Thành Tín hầu Thượng thư Bộ Lễ Trương Minh Thành
(Hình trích từ tài liệu [7] )

Khó nhận ra đây là ngôi mộ cổ của Thành tín hầu,Thượng thư bộ Lễ ,Trương Minh Thành, cha của ông Trương Minh Giảng
(Hình trích từ tài liệu [1] )

Mặt tiền của ngôi mộ của Thành tín hầu Thượng thư bộ Lễ Trương Minh Thành bị che chắn kín mít bởi những thứ tạp nhạp xà bần .
Không thể tìm được lối vào mộ (mà có lối thì cũng chẳng ai dám vào vì quá um tùm, rậm rạp).

Phải gạt đám rau lang mới nhìn thấy 2 nấm mồ (mũi tên)
của ông bà Trương Minh Thành.
(Hình trích từ tài liệu [1] )

3- Ngôi nhà mồ song táng của Thế Tải Trương Minh Ký và phu nhân :

Theo tài liệu [2] : Ngôi nhà mồ của Thế Tải Trương Minh Ký và phu nhân đã bị hư hại trầm trọng. Ngoài ra, nhà mồ này còn bị lấn chiếm bao quanh bởi các nhà lầu bê tông.

Ngôi nhà mồ song táng của Thế Tải Trương Minh Ký và phu nhân
(Hình trích từ tài liệu [2])

May sao chiếc bia bằng đá hoa cương trên có ghi “CI GIT. Thế Tải Trương Minh Ký. Hàn lâm học sĩ, Tây chức thông sự” bị mẻ góc trên bên trái vẫn còn được con cháu họ Trương gìn giữ, dựng bên án thờ tạm bợ để có chỗ thắp hương tưởng nhớ một bậc tiền hiền.

Vào ngày 22 tháng 5 năm 2009, .bọn ngụy quyền cộng sản quận Gò Vấp đã ra kế hoạch giải tỏa tự nguyện (Sic) các nghĩa trang gia tộc trên địa bàn quận này.

Tuy nhiên, qua tài liệu [8], người ta được biết ngụy quyền cộng sản quận Gò Vấp đã được sự chấp thuận của bọn ngụy quyền cộng sản xếp ở TPHCM (Sic) về việc xây dựng tháp cốt trên diện tích 2000 mét vuông để lưu giữ những hài cốt sau khi đã hỏa táng từ các nghĩa trang gia tộc trong tổng số 345 nghĩa trang gia tộc đang chen cài trong khu dân cư, để tạo thuận lợi cho thân nhân thăm viếng.Tất nhiên phải được sự chấp thuận, đồng tình của những gia tộc này (Sic). Tháp cốt được xây dựng sau Chùa Nghệ Sĩ nhằm mục đích xây dựng một di tích văn hóa và việc hương khói, tế lễ được trang trọng hơn (Sic). Ngụy quyền cộng sản quận Gò Vấp sẽ giao cho Công ty Dịch vụ Công ích quận Gò Vấp quản lý công trình này.

(Phụ chú : Chi tiết về Chùa Nghệ Sĩ được viết trong bài Nghĩa trang Chùa Nghệ Sĩ của cùng tác giả).

Như thế việc chấp thuận, đồng tình của các nghĩa trang gia tộc không còn cần thiết nữa. Muốn hay không muốn, trước hay sau , người dân sẽ bị bắt buộc tự mình quật mồ đào mã ông bà, cha mẹ, vợ con thân quyến trong nghĩa trang của mình, hỏa táng hài cốt , đem tro cốt vào tháp cốt của ngụy quyền cộng sản, để sau đó đóng tiền lưu giữ . Phần đất để lại của các ngôi mộ này chắc chắn sẽ được giải tỏa ! Cũng cần viết thêm là từ nhiều năm nay, bọn ngụy quyền cộng sản đã phát động giải tỏa rất nhiều nghĩa trang tư nhân ở Sàigòn và Gia Định , chẳng hạn như nghĩa trang Cầu Kho , Nhị Tỳ Quảng Đông,Bắc Việt Tương Tế, Bình Hưng Hòa, Văn Giáp v.v… để cướp đất và làm ăn với bọn tư bản đỏ đầu cơ địa ốc.

Đất mộ phần dòng họ Trương Minh nằm trong địa bàn quận Gò Vấp, như thế số phận của nó đã được bọn ngụy quyền cộng sản định đoạt rồi !

Phụ đề 1:
Sơ lược tiểu sử Trương Minh Giảng

Theo tài liệu [9] :Trương Minh Giảng là công thần bậc nhất của nhà Nguyễn, vừa là võ tướng vừa là sử gia.

Ông sinh năm 1792, người làng Hạnh Thông, huyện Bình Dương, trấn Gia Định. Thân phụ của ông là Lễ bộ Thượng thư Trương Minh Thành (Thành Tín hầu). Ông là ông nội hai đời của Thế Tải Trương Mình Ký.

Ông đỗ cử nhân năm Kỷ Mão 1819 tại trường thi Gia Định, được bổ chức Tư vụ, dần thăng tới Lang trung bộ Binh, rồi đổi sang bộ Hình.

Năm 1821,ông được bổ Tư vụ ở ty Lại, rồi nhiều lần thăng đến Lang trung bộ Binh (1824), trải làm Thiêm sự bộ Binh (1825), thự Thị lang (1826), sung Đổng lý thanh tra phủ Nội vụ (1827) ; ít lâu đổi sang bộ Hình (5/1828).

Năm 1829, ông được thăng chức thự Tả Tham tri bộ Hình, được phái vào Nam công cán ở Gia Định, khi trở về kinh ông được bổ Tả tham tri bộ Hình (1830), thự Thượng thư kiêm quản Khâm Thiên giám (1831). Năm 1832 sung Phó chủ khảo khoa thi Hội, thăng Thượng thư bộ Hộ, quyền giữ ấn triện Viện Đô sát.

Năm 1832, ông cùng với Thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thực biên soạn bộ Liệt Thánh Thực Lục. Cũng thời gian này, ông giữ chức Tổng tài Quốc sử quán, chủ trì việc biên soạn bộ Đại Nam thực lục chính biên.

Ngày 18 tháng 5 năm Quý Tỵ (tức 5 tháng 7 năm 1833), Lê Văn Khôi nổi loạn chiếm giữ thành Phiên An, còn gọi là thành Bát Quái hay thành Quy. Trương Minh Giảng được sung chức Tham tán quân vụ, cùng Thảo nghịch tướng quân Phan Văn Thúy đem quân vào dẹp loạn Lê Văn Khôi.

Tháng 8 năm 1833, Trương Minh Giảng được cải bổ làm Thượng thư bộ Binh, lãnh chức Tổng đốc An Hà kiêm Bảo hộ Chân Lạp quốc thay Lê Đại Cương vừa bị cách chức do để mất thành An Giang.

Tuy nhiên, trước đó Lê Văn Khôi đã cầu viện với Xiêm La (Thái Lan ngày nay) nên vua Xiêm sai quân thủy bộ chia làm 5 đạo nhất loạt tiến đánh Hà Tiên, Nam Vang, Cam Lộ, Cam Cát và Trấn Ninh. Vua Minh Mạng cấp tốc điều động các tướng chỉ huy bảo vệ cả 5 mặt trận. Tổng đốc An Hà Trương Minh Giảng cùng Tán lý Nguyễn Xuân đánh thắng quân Xiêm trận đầu ở Thuận Cảng (Vàm Nao), tiêu diệt một phần sinh lực địch. Tin thắng trận tâu lên,tháng 12 năm 1833, ông được vua tấn phong tước Bình Thành Nam.

Thừa thắng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân phối hợp cùng quân của Lê Đại Cang (đang chiến đấu ở mặt trận Nam Vang) tấn công giặc, quân Xiêm thất trận phải bỏ Nam Vang, rút tàn quân chạy về nước, giúp Chân Lạp thu phục lại thành Nam Vang (Phnom Penh bây giờ). Nhờ chiến công này, tháng 1 năm 1835, Trương Minh Giảng được thăng tước Bình Thành Bá, thăng thự Đông các Đại học sĩ, gia hàm Thái tử thái bảo, vẫn lĩnh Tổng đốc An Hà kiêm giữ ấn Bảo hộ Chân Lạp.

Sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu ghi: “Vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua nghe tấu chương của Trương Minh Giảng, lập đất Cao Miên thành quận huyện của Đại Nam, đặt tên là Trấn Tây thành”. Vua phong Trương Minh Giảng chức Tướng quân kiêm chức Bảo hộ Cao Miên và phong Lê Đại Cang làm Trấn Tây Tham tán đại thần cùng lo việc trấn thủ.

Rất nhanh chóng sau đó, ông được phong hàm Hiệp biện đại học sĩ, lãnh chức Tổng đốc An Giang.

Do công lao trấn giữ Trấn Tây thành, khi triều đình dựng bia ghi công võ tướng năm 1838, tên ông được khắc hàng đầu trong Võ miếu ở kinh đô Huế.

Do tình hình Trấn Tây (gồm vài tỉnh đông nam Cao Miên, phía dưới Biển Hồ, Phnom Penh, Kandal, Takeo, Prey Veng) không yên vì gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của người bản xứ, năm 1841, vua Thiệu Trị quyết định rút bỏ Trấn Tây thành (tức thủ đô Nam Vang ngày nay) và toàn bộ Trấn Tây. Trương Minh Giảng theo lệnh rút quân về trấn thủ An Giang.

Tháng 9 năm Tân Sửu 1841, quan quân Đại Nam từ Trấn Tây rút về tới An Giang, Trương Minh Giảng vốn là người chỉ huy cao nhất của Đại Nam ở Trấn Tây, nay lại phải theo lệnh rút binh, nên cảm thấy xấu hổ. Chưa hết, triều đình còn cho rằng ông không làm tròn bổn phận, không dẹp yên nổi loạn, hao tốn tiền bạc. Đã vậy, sợ tốn kém tiền bạc lúc rút quân về An Giang, triều đình còn chỉ dụ cho quân lính giết voi ngựa để ăn. Trương Minh Giảng thấy quá hổ thẹn, không chịu gặp mặt các quan lại khác.

Trương Minh Giảng do uất ức, phát bệnh mà chết tại thành An Giang vào ngày 27 tháng 9 năm 1841 (tháng 7 năm Tân Sửu), thọ 49 tuổi. Vua Thiệu Trị nghe tin ấy, không những không thương xót mà lại thêm tức giận, bèn truy xét thêm tội trạng, tịch thu lại chức tước, bổng lộc.

Triều đình miễn nghị tội, giữ lại hàm Tướng quân, hàm Hiệp biện, cấp cho tiền tuất, nhưng tước cả lương bổng thất phẩm của con ông là Trương Minh Thị.

Đời Tự Đức thứ 11 (1857), Trương Minh Giảng được thờ ở đền Hiền Lương.

Trước năm 1975, thành phố Sàigòn đã đặt tên ông Trương Minh Giảng cho một con đường chạy từ ngã ba đường Lê Quý Đôn- quận 3 cho tới chiếc cầu bắc qua rạch Nhiêu Lộc. Cầu này mang tên Trương Minh Giảng. Bên kia cầu , phía tay trái có một ngôi chợ cũng được mang tên Trương Minh Giảng và bên phải là Đại học Vạn Hạnh. Sau năm 1975, con đường nay đã bị ngụy quyền cộng sản đổi tên

Quận Gò Vấp,những năm 2000 còn có đường mang tên Trương Minh Giảng.Nhưng ngày nay, con đường này đã bị ngụy quyền cộng sản đổi tên.

Phụ đề 2:
Sơ lược tiểu sử Trương Minh Ký

Theo tài liệu [4,10] :

Trương Minh Ký , tự Thế Tải, hiệu Mai Nham, là nhà giáo, nhà báo, nhà văn, nhà soạn tuồng Việt Nam. Cũng như thầy mình là Trương Vĩnh Ký, ông có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phát triển nền văn học Quốc ngữ, được xem là nhà văn viết chữ Quốc ngữ đầu tiên.

Trương Minh Ký nguyên tên là Trương Minh Ngôn. sinh ngày 23 tháng 10 năm 1855 (nhằm giờ Thìn ngày 13 tháng 9 năm Ất Mão dưới thời Tự Đức) tại làng Hạnh Thông, thuộc tổng Bình Trị Hạ, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc quận Gò Vấp) trong một gia đình buôn bán. Bảy tuổi, năm 1862, cũng là năm Nam Kỳ mất vào tay quân Pháp, ông mất mẹ. Cũng vì vậy mà ông được cha chăm sóc tốt, cho ăn học đàng hoàng. Sau này, khi được học với thầy Trương Vĩnh Ký vì kính phục và muốn noi gương thầy nên đã thêm chữ Kỷ vào sau tên Ngôn , đổi tên thành Trương Minh Ký.

Ông bắt đầu học chữ Hán với cha và bà nội, học chữ Quốc ngữ với giáo sĩ Puginier Phước là người thành lập giáo xứ Hạnh Thông Tây cách nhà ông chừng hai cây số. Dù đều được giáo sĩ dạy chữ nhưng khác với hai tiền bối nổi danh cùng thời là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký không cải đạo theo Công giáo.

Là người cực kỳ thông tuệ nên Puginier Phước trước khi ra Bắc nhận nhiệm sở mới đã giới thiệu ông vào trường Collège des Interprètes (Trường Thông ngôn) ngay sau khi trường này thành lập ngày 8 tháng 5 năm 1862. Và tại đây ông đã gặp thầy Trương Vĩnh Ký. (Phụ chú : Năm 1862 này ông mới có 7 tuổi thôi-Điều này cần phải xác định lại !)

(Phụ chú : Theo tài liệu [5] , trường Collège des Interprètes là trường dạy các quan cai trị (tham biện), ở chỗ gọi nhà trường Sở Cọp ,sau này xây thêm trở nên trường Sư phạm tục danh trường Nọt-Manh (École Normale des Instituteurs). Trường Collège des Interprètes sau đổi tên lại là Collège des Stagiaires (Collège des Administrateurs Stagiaires), dùng để đào tạo quan cai trị thuộc địa).

Sau đó, ông theo học tại trung học Collège Chasseloup-Laubat ,tục danh trường Bổn quốc (sau đổi tên là Jean Jacques Rousseau , Lê Quý Đôn) và đỗ Chứng chỉ Cao đẳng sư phạm (Brevet supérieur des instituteurs) vào năm 19 tuổi (17?).

(Phụ chú : Mười hai năm sau khi Pháp chiếm được miền Nam Việt Nam, ngày 10 tháng 7 năm 1871, Đô Đốc Marie Jules Dupré, thống đốc Đông Dương đã ký nghị định thành lập một ngôi trường với tên là École Normale Coloniale (Trường Sư Phạm Thuộc Địa), để đào tạo những thông dịch viên làm trung gian giữa người Pháp và người bản xứ từ rày sinh sống ở Nam Kỳ thuộc địa Pháp. Trường này được đặt tại vị trí của chùa Khải Tường cách vị trí của trường Lê Quý Đôn bây giờ khoảng 200 thước trên đường Testard (sau là Trần Quý Cáp). Dân Sàigòn thời đó gọi trường này là trường Khải Tường.

Năm 1876 ,do nghị định của thống đốc quân sự Đô Đốc Victor-Auguste Baron Duperré, trường École Normale Coloniale đổi tên thành trường Collège Chasseloup-Laubat. Như thế ông Trương Minh Ký đã vào học trường École Normale Coloniale (Trường Sư Phạm Thuộc Địa) tiền thân của trường Collège Chasseloup-Laubat).

Năm 1872, vào năm 17 tuổi , ông ra trường và trở thành thầy giáo dạy chữ Nho và chữ Quốc Ngữ tại ngay trường Bổn quốc, nơi ông đã học.

Nối nghiệp thầy Trương Vĩnh Ký, ông trở thành một thầy giáo nổi tiếng và hai năm sau, năm 1874, ông được thăng hạng: “Trương Minh Ký, nguyên làm thầy giáo dạy giúp hạng ba lên hạng nhì, lương đồng niên ăn 1.400 quan tiền” (Gia Định Báo số 3 ngày 1-2-1874).

Vào năm 1874, ông làm trợ giáo (répétieur de 2e classe) ở trường École Normale Coloniale (Trường Sư Phạm Thuộc Địa). Vào năm này, ban giảng huấn chỉ có một (1) hiệu trưởng và năm (5) giáo sư, hai Pháp và ba Việt trong đó có ông Trương Vĩnh Ký và ông Trương Mình Ký.

Ông cũng được Trương Vĩnh Ký giới thiệu làm thông ngôn cho các quan chức thuộc địa Pháp, đồng thời làm giáo sư của trường Collège des Stagiaires, tọa lạc ở địa điểm trường Taberd sau này.

Năm 1875, 20 tuổi, ông lập gia đình và có tổng cộng ba người vợ, mười ba người con, theo Trương gia từ đường thế phả toàn tập. Nhưng xét theo bản gia phả do chính ông lập thì chỉ thấy tên của bà chính thất là Nguyễn Thị Nhờ – con gái của quan tri huyện Nguyễn Như Cương, quê xã Bình Hòa. Do bởi cuộc hôn nhân này, ông có được mười người con, sáu trai ,bốn gái. Theo tài liệu [5] , nhà ông ở một địa điểm sau này là đường Đoàn Thị Điểm,quận 3-Sàigòn.

Năm 1880, với vốn kiến thức rộng, tinh thông nhiều ngoại ngữ, ông được Thống đốc Nam Kỳ Charles Le Myre de Vilers tín nhiệm và giao phận sự dìu dắt mười học sinh trường Bổn quốc, trong đó có Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn Cương sang du học bậc Cao đẳng ở Alger.

Trong chuyến đi này ,ông Trương Minh Ký đã đi thăm Paris, khi trở về ông viết một du ký dài 2000 câu bằng văn vần “Như Tây nhựt trình” (Nhựt ký đi Tây) in tại Sàigòn năm 1889.

Sau chuyến đi, trở về ông được bầu làm ủy viên Hội đồng thành phố Sàigòn và chuyển sang làm chủ bút tờ Gia Định Báo từ giữa năm 1881 đến năm 1896.

Năm 1881, ông tham gia vào ban biên tập tờ Gia Định Báo (trước đó đã từng có khoảng thời gian dài cộng tác thời Trương Vĩnh Ký làm Chánh tổng tài). Nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng ông làm chủ bút tờ báo từ 1881-1896.

Dưới thời Trương Minh Ký, tờ báo chính thức trở thành công báo với hầu hết các trang đều đăng văn bản, nghị định… của chính quyền. Lúc này, Gia Định Báo có hai thay đổi căn bản. Một là, phần Công vụ báo có đăng nguyên văn biên bản các buổi họp của Hội đồng quản hạt Nam Kỳ (do vậy mà có khi báo tăng lên đến 20 trang). Đây là việc vô tiền khoáng hậu, bởi xưa nay các nhà chính trị không bao giờ muốn đưa những chuyện họ bàn bạc lên báo. Hai là, ở phần Thứ vụ, Tạp vụ có dành một phần nhỏ cho những sáng tác văn học, trở thành trang văn học đầu tiên trên báo chí Quốc ngữ nước ta. Hai truyện ngắn văn xuôi Tên chăn bò và Thằng ăn trộm với con heo, viết lại theo nội dung thơ La Fontaine của Trương Minh Ký in trên số ra ngày 1/12/1881 là những truyện đầu tiên của nền văn học chữ Quốc ngữ, giúp ông được mệnh danh là nhà văn Quốc ngữ đầu tiên.

Sau này, ông cũng cộng tác tích cực với nguyệt san Thông loại khóa trình của Trương Vĩnh Ký.

Nếu 16 năm làm chủ bút Gia Định Báo ông đã gieo mầm cho văn học Việt, thì chỉ ba năm sau cùng (1897-1900) làm chủ bút tờ Nam Kỳ, ông thể hiện rõ tài năng trong nghề báo. Nam Kỳ là tờ báo tư nhân, do ông A. Schreiner, một doanh nhân, làm chủ. Tờ báo tuy chỉ sống có ba năm nhưng lại là một tờ báo “đúng nghĩa” so với các báo khác trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Mặt báo phong phú tin tức từ ngoài nước cho đến trong nước. Báo đã có mục giao lưu với bạn đọc xa gần và mức quảng cáo khá mạnh (8 trang trong số 16 trang). Đọc báo Nam Kỳ chúng ta có thể thấy được một phần nào đó xã hội thế kỷ 19, đặc biệt là xã hội Sàigòn.

Báo này có rất nhiều sáng tác thơ văn và truyện dịch. Năm 1895, truyện Một ngàn lẻ một đêm được chuyển ra tiếng Pháp thì năm 1897 đã có bản dịch tiếng Việt trên Nam Kỳ. Để làm được tất cả những điều này, chủ bút Trương Minh Ký với bút danh Mai Nham đã phải mất rất nhiều công sức viết, dịch và lựa chọn các tin bài đưa lên mặt báo.

Sau khi chuyển sang làm báo, ông viết nhiều sách giáo khoa như Ấu học khải mông, Tập dạy học tiếng Phansa và tiếng Annam, Hiếu kinh diễn nghĩa, Pháp học tân lương, Quấc ngữ sơ giai, Tiểu học gia ngôn… và sáng tác, dịch thuật thơ truyện.

Cuốn sách 100 bài học tiếng Pháp (Pháp học tân lương) gồm bài giảng về từ ngữ, văn phạm tiếng Pháp và tiếng Việt mà ngày nay cũng có thể dùng được cho người muốn học tiếng Pháp.

Năm 1889, Trương Minh Ký làm thông ngôn cho phái đoàn của triều đình Huế đi sứ sang Pháp tham dự Hội Đấu xảo tại Paris.

Hình chụp Như tây sứ bộ ngày 7 tháng 7 năm 1889 nhân dịp khánh thành tượng Paul Bert- Hội chợ quốc tế Paris 1889
Trương Minh Ký (người cầm gậy) ,34 tuổi, bên trái trong hình

(Nguồn: Manhai-Flickr)

Ngày 3 tháng 7 năm 1889 , ông được hoàng thân Huỳnh Quốc công Miên Triệu đặt cho biệt hiệu Thế Tải. Kể từ đó, trong các sáng tác của ông, người ta thấy ông luôn đặt tên hiệu ngay trước tên mình, một phần cũng vì tên hiệu thể hiện được quan hệ thầy trò khăng khít giữa ông với Trương Vĩnh Ký: Của thầy là Sĩ Tải còn trò là Thế Tải. Sau chuyến đi này về, ông xuất bản cuốn du ký Chư quấc thại hội dài 2000 câu thơ song thất lục bát.

Nhận thấy công lao cũng như vốn kiến thức uyên bác của Trương Minh Ký, ông được Pháp thưởng tước Hàn Lâm học sĩ (Officier d’Académie) cùng một món tiền. Khi về nước, ông được triều đình Thành Thái ban cho kim khánh trung hạng cùng cặp cống sa màu lục và màu hồng. Tuy nhiên, chưa thể kết luận chính xác loại kim khánh.

Sau chuyến đi, trở về Trương Minh Ký được bầu làm ủy viên Hội đồng thành phố Sàigòn. Ông xin vào làng Tây và làm thông ngôn ngạch Tây (Tây chức thông sự) ở ty Phiên dịch Nam Kỳ từ năm 1890.

Năm 1897, ông làm chủ bút tờ Nam Kỳ cho đến giữa năm 1900, báo đóng cửa.

Trương Minh Ký ngã bệnh và mất đột ngột vào ngày 11 tháng 8 năm 1900 (tức ngày 17 tháng 7 năm Canh Tý), tại Chợ Lớn, thọ 45 tuổi.

Từ thời Pháp thuộc, tên của Trương Minh Ký đã được đặt cho một ngôi trường tiểu học trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1957, trường được đổi tên thành Nguyễn Thái Học.

Trước năm 1975, tên của ông cũng được đặt cho một con đường từ cầu Trương Minh Giảng- quận 3 Sàigòn chạy đến Lăng Cha Cả- Gia Định. Việc đặt tên đường này rất phù hợp với lịch sử dòng họ Trương Minh bởi vì đường Trương Minh Ký là đường Trương Minh Giảng nối dài, tên ông nội hai đời của ông . Sau năm 1975, đường Trương Minh Ký đã bị ngụy quyền cộng sản đổi tên.

Tài liệu[10] viết ‘’Là nhà văn, nhà báo quốc ngữ lớp đầu tiên song Trương Minh Ký suốt 100 năm qua vẫn chưa được biết đến trọn vẹn. Với quá trình đóng góp cho chữ quốc ngữ và hoạt động báo chí văn chương, không hiểu vì sao ông bị xóa tên khỏi bản đồ đường phố Sàigòn sau ngày 30-4-1975? Phải chăng vì ông là cháu họ của Trương Minh Giảng? Phải chăng vì ông luôn bị lầm lẫn với ông Trương Vĩnh Ký? Phải chăng vì ông cộng tác với Pháp’’?

(Chú thích: Theo tài liệu [11] : Hiện tại , quận Gò Vấp có một con đường nhỏ mang tên Trương Minh Ký ).

Tài liệu tham khảo :

  1. Trần Chánh Nghĩa/VNN – Hoang lạnh mộ cổ 200 năm của công thần triều Nguyễn -Vietnamnet-29/10/2017.
  2. Lam Điền – Đi tìm viếng mộ Trương Minh Ký : Dấu vết danh nhân kẹt giữa bêtông đô thị – Tuổi trẻ online-16/07/2020.
  3. Hà Đình Nguyên – Mộ các danh thần ở Sàigòn: Hoang phế mộ cha con Trương Minh Giảng-Thanh niên online – 29/10/2015.
  4. Bách khoa toàn thư- Trương Minh Ký.
  5. Vương Hồng Sển- Sàigòn Năm Xưa-Sống Mới-1968.
  6. Huỳnh Minh – Gia Ðịnh xưa và nay- Nhà xuất bản Khai Trí- 1973.
  7. DanSaigon- Hoang phế mộ cha con Trương Minh Giảng-23/03/2020.
  8. Thanh Hiệp – Người Lao Động-Không giải tỏa Nghĩa trang Nghệ sĩ TP hcm- 02/09/2009.
  9. Bách khoa toàn thư -Trương Minh Giảng.
  10. Tuổi trẻ online-Trương Minh Ký – Nhà văn viết chữ quốc ngữ đầu tiên-29/04/2019.
  11. Bách khoa toàn thư-Gò Vấp.

—>19-Bãi tha ma đồn Chí Hòa

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975. Bookmark the permalink.

2 Responses to CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Gia Định

  1. pearlharbor2009 says:

    nghĩa trang Đa Minh giờ nằm trên đường Bình Long (thuộc quận Bình Tân), đối diện đường Phú Thọ Hòa (quận Tân Phú), nó tách ra so với khu nghĩa địa Bình Hưng Hòa (góc ngã 4 Bình Long – Tân Kỳ Tân Quý).

    Like

  2. TM says:

    Cám ơn pearlharbor2009 đã bổ túc thêm chi tiết cho bài viết được đầy đủ hơn, hữu ích cho TM và các độc giả khác

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s