CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Gia Định

19-Bãi Tha Ma Đồn Chí Hòa
Quận 3, Quận 10- Sàigòn
và Quận Tân Bình – Gia Định

Theo tài liệu [1,2,3,4,5] : Đại đồn Chí Hòa (gọi tắt là Đại đồn) còn có tên là đồn Kỳ Hòa, người Pháp viết là Ki-Hoa, được khởi sự xây dựng vào khoảng năm 1859-1860 dưới thời vua Tự Đức, bởi Hộ Bộ thượng thư và Thống đốc Gia Định Quân thứ Tôn Thất Hiệp (còn được gọi là Tôn Thất Cáp). Liền sau đó, khi ông Nguyễn Tri Phương vào thay thế Tôn Thất Hiệp trong chức vụ Thống đốc Gia Định Quân thứ, ông Nguyễn Tri Phương đã cho củng cố đồn Chí Hòa từ tháng 8 năm 1860 đến tháng 2 năm 1861, thành một Đại đồn quy mô và rộng lớn hơn để phòng thủ phía Tây Bắc thành phố Sàigòn – Chợ Lớn trước các cuộc tấn công của liên quân Pháp – Tây Ban Nha.

Đại đồn Chí Hòa tọa lạc ở làng Chí Hòa và Phú Thọ ,trải dài qua ba quận : quận 3, quận 10, Sàigòn và Quận Tân Bình- Gia Định sau này. Vòng chu vi của Đại đồn được ghi dấu trên bản đồ dưới đây bởi đường chu vi màu đỏ ( theo tài liệu [6]).

Đại đồn lấy đường Thiên Lý đi Tây Ninh ( sau là đường Lê Văn Duyệt và đường Phạm Hồng Thái- Lê Văn Duyệt nối dài ) làm trục chính để xây dựng chiến lũy.

Một cách đại lược, vòng thành của Đại đồn là một hình chữ nhật hay hình thang với các cạnh như sau :

Từ góc số 1 (khu cư xá Bắc Hải sau này), mặt thành Đông chạy gần như thẳng góc với đường Lê Văn Duyệt, đến góc số 2 trước khi gặp rạch Nhiêu Lộc, dài khoảng 1 cây số.

Từ góc số 1, mặt thành Nam, chạy ngang chợ Tân Bình và chợ Bà Hoa sau này, đến góc số 3 , nơi đường Bàu Cát sau này, dài khoảng 3 cây số.

Mặt thành Tây, theo đường Trương Công Định sau này, nối góc số 3 với góc số 4 trên đường Phạm Hồng Thái, dài khoảng 1 cây số.

Mặt thành Bắc nối góc số 2 với góc số 4, dài khoảng 3 cây số.

Ngã tư Bảy Hiền,bệnh viện Vì Dân và Ngã ba Ông Tạ nằm trong vòng thành và gần phía mặt Bắc của Đại đồn.

Phòng tuyến Chí Hòa chia làm 5 điểm tựa để yểm trợ cho nhau ngăn cách bằng một bờ rào gỗ có cửa. Tâm điểm phòng tuyến Chí Hòa ở gần khoảng ngã ba Bắc Hải-Lê Văn Duyệt.

Tường đồn được xây bằng đất sét và đá ong, cao 3,5 thước, dày 2 thước , có rất nhiều lỗ châu mai. Mặt trên và mặt ngoài tường đồn, có trồng nhiều cây gai gốc dày đặc. Bên ngoài đồn có nhiều lớp rào tre, nhiều mô đất, nhiều ao nước và vô số hố chông. Trên mặt tường đồn, bố trí 150 đại bác các cỡ bắn bằng đạn gang. Bên phải của đại đồn về phía chùa Cây Mai và bên trái rạch Thị Nghè có đắp mỗi bên một chiến lũy dài, lấy đồn Hữu và đồn Tả làm điểm tựa.

Đại đồn được bao bọc bên ngoài bởi nhiều tiền đồn.Tài liệu [6] ghi khá đầy đủ tên các tiền đồn này. Tác giả tài liệu [6] cũng chỉ vị trí của các tiền đồn bằng các chấm đỏ trên họa đồ dành cho sở quân báo Pháp, vẽ bởi Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu de la Barrière. (Phụ chú : Viên trung úy này là sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của tướng Charner, người trực tiếp tham dự trận tấn công đại đồn Chí Hòa).

Các tiền đồn quân ta được thiết lập gần như đối diện với “phòng tuyến đền-chùa” của liên quân Pháp – Tây Ban Nha, gồm có chùa Cây Mai ,chùa Kiểng Phước, đền Hiển Trung và chùa Khải Tường ( tô màu vàng trên bản đồ Léopold Pallu de la Barrière – xem hình dưới đây).

(Chú thích : Để dễ dàng việc đọc họa đồ Léopold Pallu de la Barrière với các địa điểm tên Pháp , tác giả bài này đã ghi thêm các tên Việt kế bên).

Họa đồ Léopold Pallu de la Barrière bổ túc với các tên Việt

Fort de Caimai et sa garnison
– Chùa Cây Mai và quân trú phòng Pháp năm 1866, tức 5 năm sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ về tay Pháp

(Nguồn: manhhai-Flickr)

Fort dit la Pagode des Clochetons
Chùa Kiểng Phước năm 1861

(Nguồn: manhhai-Flickr)

Trước cảnh bị quân Tây chiếm đóng, người dân Sàigòn-Gia Định đã làm bài thơ :

Thành Gia định tám cửa
Lửa cháy mịt mù.
Chùa Cây Mai, Kiểng Phước, Khải Tường
Tây làm đồn đóng lính chặn đường tới lui.

Ở mặt Nam của Đại đồn, nhiều đồn được thiết lập gần như đối diện với chùa Cây Mai , chùa Kiểng Phước và đền Hiển Trung của liên quân Pháp – Tây Ban Nha.

– Đồn Redoute (sử Việt ghi là Đồn Hữu), hay đồn Mồ Côi (tài liệu [7]), là tiền đồn rất lớn của Đại đồn Chí Hòa. Đồn này có hai đồn tả và hữu nằm đối diện với chùa Cây Mai chừng 2 cây số , tọa lạc ở một địa điểm sau này có thể là ở khu vực của Trường tiểu học Phú Thọ trên đường Trần Quốc Toản và khu vực trường đua Phú Thọ – quận 11.

– Để thay thế đồn (chùa) Cây Mai và đồn (chùa ) Kiểng Phước bị đã bị Pháp chiếm , bên cạnh đồn Hữu, ông Nguyễn Tri Phương cho xây dựng thêm bốn đồn khác gần như áp sát hai đồn cũ ( chùa Cây Mai và chùa Kiểng Phước), có đồn chỉ cách 400 tới 500 thước . Hai chiến lũy dài khoảng 5 cây số nối các đồn này với nhau để bảo vệ lẫn nhau và bảo vệ từ xa mặt Nam của đại đồn (Bản đồ ghi là nouvelle ligne -phòng tuyến mới).

Ở mặt Đông-Bắc của Đại đồn, đối diện với chùa Khải Tường của liên quân Pháp – Tây Ban Nha có : Một đồn nằm ở khu vực cầu Trương Minh Giảng sau này và hai đồn ở hai bên cầu Kiệu đường Hai Bà Trưng-Tân Định và Võ Di Nguy- Phú Nhuận.

Mặt Đông-Bắc này có một đồn khác rất lớn, họa đồ Léopold Pallu de la Barrière ghi là Fort Annammite (Đồn An Nam) nằm giữa rạch Vàm Thuật và cầu kinh Thanh Đa , có thể ở khúc nối rạch Lăng và rạch Cầu Sơn, khoảng đường Nguyễn Xí (hay Lê Xí) (Bình Thạnh). Đồn này án ngữ con đường quan trọng đi Biên Hòa, nối với lực lượng quân Việt ở thành Biên Hòa chưa bị Pháp chiếm lúc đó.

Ở mặt Bắc của Đại đồn có Fort des Mandarins (Đồn Chỉ huy) nằm bên ngoài Đồn, tọa lạc gần Bà Quẹo, ở gần đầu đường Phạm Hồng Thái, ngã ba đường đi Tân Qui và Quốc Lộ 1 đi Tây Ninh .Ngoài ra, còn có hai đồn khác, một nằm sát khu vực chỉ huy, khoảng ngã tư Bảy Hiền và một nằm gần khu vực Lăng Cha Cả sau này.

Phía sau Đại đồn , về hướng Tây- Bắc, có ba đồn lớn: Thuận Kiều (ở Tân Thới Nhứt) và Tây Thới (xã Tân Thới Nhì, Hóc Môn), Rạch Tra (nằm giữa địa Hóc Môn – Củ Chi) nhằm hỗ trợ đại đồn cũng như rút quân về phía Tây Ninh khi cần thiết.

Tài liệu [4] có ghi thêm một đồn khác tên là đồn Thanh Lương nhưng không ghi địa điểm của đồn.

Ngoài ra, Đại đồn còn được bảo vệ bởi con rạch thiên nhiên sau là kinh Bao Ngạn ( một đoạn kinh này song song với đường Bắc Hải) , rạch Nhiêu Lộc và một cái đầm sau này có tên là Đầm Sen.

Đại đồn được phòng thủ bởi một lực lượng quân và dân rất lớn. Tuy nhiên số lượng chưa xác định được rõ ràng , bởi vì :

Theo tài liệu [4] : Đại đồn có khoảng 20.000 quân thường trực và 10.000 quân dân dũng;

Theo tài liệu [7] : Đại đồn chứa đến hơn 30.000 người, gồm cả binh lính chuyên nghiệp và dân quân tự nguyện đánh giặc;

Theo tài liệu [8] : Quân dân Việt ở toàn bộ khu vực đồn lũy Chí Hòa cuối năm 1860, theo các tài liệu của người Pháp có khoảng 21.000 quân chính quy và 10.000 quân dân dũng (vốn làm ở đồn điền nên còn gọi là lính đồn điền, “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”);

Theo tài liệu [9] : Nguyễn Tri Phương có khoảng 12.000 quân thường trực và quân dân dũng;

Tài liệu [9] cũng viết rằng : Phía Pháp (theo Léopold Pallu de la Barrière) nói ở Chí Hòa, quân Việt có tới 21.000 quân chính quy, 10.000 quân Đồn điền ;

Theo tài liệu [10] : Để chống lại liên quân Pháp – Tây Ban Nha đang chiếm cứ Sàigòn từ đầu năm 1859, Nguyễn Tri Phương mở rộng đồn Chí Hòa thành một cứ điểm quân sự lớn với 10.000 quân chính quy và hơn 20.000 quân nghĩa dõng, lính đồn điền;

Hình Quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đại đồn Chí Hòa

Theo tài liệu [5] : Vào rạng sáng ngày 24 tháng 2 năm 1861, quân Pháp và Tây Ban Nha do Đô đốc Charner chỉ huy đã mở một cuộc tấn công vào Đại đồn Chí Hòa.Xem thêm chi tiết trong Phụ đề 1.

Số quân Pháp và Tây Ban Nha tham dự trận tấn công này chưa được xác định rõ ràng : khoảng 3000 quân (tài liệu [5]),4000 quân theo báo cáo của Pháp (tài liệu [9]), khoảng 5000 quân với khoảng 50 chiến thuyền các loại (tài liệu [9]),10000 (tài liệu [4]).

Bên ta, tướng Nguyễn Tri Phương với lực lượng quân và dân ghi ở trên đã anh dũng chống cự mãnh liệt. Tuy nhiên, trước những vũ khí hùng hậu và hiện đại của địch,khoảng 8 giờ tối ngày hôm sau, ngày 25 tháng 2, Đại đồn Chí Hòa thất thủ.Lực lượng quân ta đã phải rút lui về Biên Hòa. Quân Pháp chiếm được Đại đồn, đoạt 2000 súng bắn đá lửa, 2000 kí lô thuốc súng, 150 trọng pháo các cỡ và rất nhiều lương thực (tài liệu [9]) và sau đó quân Pháp đã san bằng Đại đồn.

Tuy thắng trận và chiếm được đồn, nhưng người Pháp phải thừa nhận sự chiến đấu dũng cảm của quân ta tại Đại đồn Chí Hòa.

Theo tài liệu [5] : Số thương vong của quân ta kể có hàng ngàn. Hơn 1000 người hy sinh đền nợ nước, để xác tại chỗ và một số lớn bị thương được mang đi.

Theo tài liệu [9] : Trong số đó những người hy sinh tử trận có Tham tán Phạm Thế Hiển, Tán tương Tôn Thất Trĩ ,Lang trung Nguyễn Duy.Tuy nhiên,theo tài liệu [5], ông Nguyễn Duy chỉ bị thương !

Theo tài liệu [2,3] : Thi thể của những binh sĩ Việt vô danh đã được vùi lấp tại chỗ ở Đại đồn Chí Hòa, oan hồn vất vưởng không ai cúng giỗ.

Ngoài ra,tài liệu [2] còn trích lá thư của một người lính Pháp gửi về cho gia đình mình khi khói lửa cuộc chiến Đại đồn Chí Hòa vừa tan : “Thi thể những người lính An Nam mà con không thể nào không khẳng định quả cảm hơn đội quân tấn công (Pháp, Tây Ban Nha…) đã được chôn vùi ngay bên ngoài các tường bao bằng đất của chiến lũy kỳ lạ và cực kỳ vĩ đại này, dưới các hào nước quanh đồn…”.

Hơn nữa, khu vực Đại đồn Chí Hòa cũng là nơi an táng các quân sĩ Pháp tử trận trong cuộc chiến này.

Theo tài liệu [7,10] : Trong địa chí tỉnh Gia Định được Hội Nghiên cứu Đông Dương thực hiện vào năm 1902 có ghi rõ: “Đến 8 giờ, quân Pháp làm chủ Đại đồn Chí Hòa. Trận đánh kéo dài hai ngày này làm nhiều lính Pháp bị thương và 30 người bị chết, trong đó một sĩ quan, trung úy hải quân Jouhaneau Lareynière (còn được biết với tên Etienne Laregnière). Người ta đã chôn binh lính trong một cái hố nằm giữa đồn Tả Hậu và tường thành của đồn Hữu, và chôn ông Lareynière ở nơi ông đã ngã xuống”.

Người dân ở Bà Quẹo trước năm 1975 đều biết một chỗ gọi là “mả thằng Tây”. Đây là một đài kỷ niệm nằm trên lề quốc lộ 1, gần cuối đường Phạm Hồng Thái (Lê Văn Duyệt nối dài) thuộc quận Tân Bình.

Hình Mả thằng Tây-
Mộ Trung úy hải quân Lareynière ở làng Tân Sơn Nhì- quận Tân Bình

(Nguồn: manhhai-Flickr)

Phụ đề 1 : Phòng tuyến Chí Hòa
Trận đánh lịch sử quyết định vận mạng Gia Định

Sau đây là sơ lược trận Đại đồn Chí Hòa trích từ tài liệu [5] bổ túc với tài liệu [9,11,12,13] : Sau khi Thành Phụng (thành Gia Định) bị thất thủ vào tay Pháp vào ngày 17 tháng 2 năm 1859 (Xem thêm chi tiết trận đánh phá Thành Phụng năm 1859 bởi quân đội Pháp trong bài Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi của cùng tác giả),Vua Tự Đức chấp thuận đề cử Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển lãnh sứ mạng cứu nguy Gia Định.

Nguyễn Trí Phương đảm nhận chức Gia Định Quân thứ Thống đốc Quân vụ, cùng với Tham Tán Phạm Thế Hiển lên đường vào đến Gia Định trong khoảng tháng 7 năm 1860.

Cũng vào khoảng thời điểm này, vào tháng 7 năm 1860, theo tài liệu [11],Chuẩn đô đốc Page, người thay thế Phó đô đốc Rigault de Genouilly, đã cho quân chiếm đóng một số đền chùa để lập đồn bót, gọi là Phòng tuyến các chùa (ligue des Pagodes) trải dài từ Thị Nghè đến Phú Lâm, gồm chùa Khải Tường (Pagode Barbé), đền Hiển Trung (Pagode des Mares), chùa Kiểng Phước (Pagode des Clochetons) và chùa Cây Mai (Pagode de Caï-maï) để làm những cứ điểm xuất phát đánh Đại đồn Chí Hòa do tướng Nguyễn Tri Phương trấn giữ (Xem họa đồ dưới đây).

Ngoài vai trò trên, theo tài liệu [11],quân Pháp còn cố chiếm giữ chùa Cây Mai để bảo vệ nơi tồn trữ lúa gạo lớn nhất nước Việt lúc bấy giờ.

Tài liệu [12] cho biết thêm một chi tiết : Hải quân Pháp dùng khinh pháo hạm Jaccaréo án ngữ trên Kinh Chợ Lớn (Kinh Tàu Hủ), đậu tại đầu đường Tản Đà (vì thế họ đặt tên đường ấy trước kia là đường Jaccaréo), còn một chiếc khác họ đậu tại Rạch Cát để bao vây Đồn Cây Mai của Nguyễn Trí Phương.

Chi tiết về các chùa và đền kể trên được trình bày trong Phụ đề 2.

Hai ông Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển chỉnh đốn lại hàng ngũ, lo bổ sung quân số,rồi cũng cố Đại đồn Chí Hòa thành một chiến luỹ kiến cố,thiết lập các công sự làm vòng đai bao vây địch dần dần.

Phòng tuyến Chí Hòa dài 3 cây số, rộng 1 cây số, chia làm 5 điểm tựa đề yểm trợ cho nhau. Nhiều tiền đồn bao bọc bên ngoài. Tâm điểm phòng tuyến Chí Hòa ở gần khoảng ngã ba Bắc Hải-Lê Văn Duyệt bây giờ.

Người được Nguyễn Tri Phương tín nhiệm giao trọng trách trấn giữ đại đồn Chí Hòa là viên dũng tướng Trương Định. Sự nhận xét của Nguyễn Tri Phương quả là không lầm. Trương Định luôn luôn chống cự quân xâm lăng rất hào hùng, với tấm lòng nhiệt thành yêu nước.

Quân ta ráo riết canh phòng, thỉnh thoảng tỉa dần quân địch.Ngày 15 tháng 10 năm 1860, quân ta bắn trọng thương Đại úy Hải Quân Harmand khi tên này đi tuần thám bằng xuồng trên sông Thị Nghè. Cũng vào khoảng tháng 10,quân ta phóng lao giết chết Đại úy Thủy quân lục chiến Barbé lúc gã cởi ngựa đi tuần khu chùa Khải Tường.

Tình hình quân địch có vẻ nguy khốn, vì sự bao vây và thắt chặc vòng đai của quân ta. Quân Pháp bị vây chặt tới nỗi trong 6 tháng liền không nhận được tin tức gì từ Pháp (tài liệu [9]).

(Phụ chú: Trong thời điểm này ,quân Pháp đóng quân ở đâu , lương thực, nước uống ai cung cấp và chúng sinh sống, di chuyển, hoạt động ra sao, phản ứng và thái độ của người Việt trong vùng quân Pháp trấn đóng như thế nào , không thấy các tài liệu lịch sử nhắc tới).

Đại tá Hải quân D’Ariès, chỉ huy đoàn quân xâm lăng tại Gia Định ngồi đứng không an. Vì đại binh của chúng đang bị cầm chân ở mặt trận Hoàng Hải bên Trung Quốc, khó mong cứu viện cho chúng kịp thời.

Giá mà khi ấy quân ta đại cử tấn công, ắt cuộc diện đã xoay chuyển khác rồi. Nhưng Thống đốc Quân vụ Nguyễn Tri Phương vẫn cứ lo phòng thủ hơn là chuẩn bị kế sách tấn công.

Thời gian đôi bên cầm cự kéo dài.

Thế rồi khi mặt trận Hoàng Hải chấm dứt, chiến cuộc giữa Pháp và Trung Hoa chấm dứt,quân viễn chinh Pháp xoay mũi dùi trở lại tấn công Việt Nam.

Ngày 7 tháng 2 năm 1861, đoàn quân viễn chinh Pháp kéo đến Sàigòn do Đô đốc tổng tư lịnh Charner và Phó đô đốc Pages chỉ huy.Lực lượng của chúng gồm có : 2 hộ tống hạm L’Impérice Eugénie và Renommer, 4 hộ tống hạm hạng nhẹ , 16 thông báo hạm, 17 quân vận hạm, 1 tàu bịnh viện, một số thuyền buồm và thuyền nhỏ,quân số khoảng 3000 người.

Quân Pháp đã có binh tiếp viện tăng cường, tình thế đã bất lợi cho ta thấy rõ.

Ngay sau khi đến Sàigòn, Đô đốc Charner cho người đi thám sát phòng tuyến Chí Hòa. Người đi thám sát cuối cùng là Đại tá (Trung tá ?) Crouzat.

Nghe phúc trình xong, Đô đốc Charner hội họp bộ Tham mưu thảo kế hoạch tấn công.

Theo tài liệu [9] : Mấy ngày trước khi giao chiến, Đô đốc Charner đã giao cho Đại úy Hải quân De Surville điều khiển các chiến hạm neo dọc sông Sàigòn.

Đại tá Crouzat được lệnh tìm đường tiến quân, và sau khi tìm được lối đi phía bên trái đồn Cây Mai đã cho hai đại đội lính đến san phẳng.

Trên bộ, các đội lính viễn chinh khác bố trí dọc theo sông Đồng Nai để cầm chân quân Việt.

Hình Khu vực lính liên quân Pháp – Tây Ban Nha
từ cánh Đồng Mả Mồ (Đồng Tập Trận hay Mả Biện Tru) (Plaine des tombeaux)
nhìn về Đại đồn Chí Hòa
(Hình trích từ tài liệu [13])

Ngày 24 tháng 2 năm 1861, liên quân Pháp – Tây Ban Nha chuẩn bị đánh chiếm đồn Hữu hay đồn Mồ Côi (Pháp gọi là Redoute), phía Nam đại đồn Chí Hòa trước khi đánh chiếm đại đồn.

Hình Phòng tuyến quân Pháp – Tây Ban Nha
nhìn qua đồn Hữu hay đồn Mồ Côi (Redoute)

Đến 4 giờ 30 sáng ngày 24 tháng 2 năm 1861 này,cuộc chiến bùng nổ. Các dàn đại bác của giặc đặt ở chùa Khải Tường và chùa Kiểng Phước và trên các chiến hạm đậu từ sông Rạch Cát qua sông Bến Nghé và sông Thị Nghè đồng loạt pháo kích vào đồn lũy Chí Hòa. Trong đó, riêng đồn Hữu hay đồn Mồ Côi phải hứng dồn dập 500 viên.

Hình Quân Pháp – Tây Ban Nha
tấn công đồn Redoute – đồn Hữu hay đồn Mồ Côi (Redoute) ngày 24 tháng 2 năm 1861
(Nguồn: manhhai-Flickr)

Đến 5 giờ (5 giờ 30 theo tài liệu [13]),quân giặc từ tuyến xuất phát ở đồn Cây Mai (Chợ Lớn) ồ ạt xông lên, đánh bọc phía tây nam, là phía yếu nhất của Đại đồn, cắt đứt Đại đồn với kho lương ở Thuận Kiều, và dồn quân Việt chạy về phía sông Gò Vấp để chặn đánh.Đô đốc Charner và Thiếu tướng De Vassoigne có một toán quân Phi Châu hộ vệ, dẫn đầu. Từ bốn phía, các đoàn quân Pháp-Tây Ban Nha tràn tới tấn công.

Hình Thủy quân lục chiến và bộ binh Tây Ban Nha
xung phong tấn công Đại đồn

(Nguồn: manhhai-Flickr)

Bộ binh của giặc chia làm 2 cánh xung phong. Cánh tả do Trung tá Hải quân Desvaux chỉ huy, cánh hữu do Thiếu tá công binh Allizé de Matignicourt điều động.

Từng loạt đạn lớn nhỏ thi nhau nổ rền. Xác người ngã gục từng lớp lớp. Tuy hỏa lực quân ta yếu kém, nhưng tinh thần chiến đấu và lòng yêu nước có thừa.Sự dũng cảm của quân ta làm khiếp đám quân địch. Nơi đại đồn Chí Hòa, Trương Định vào sanh ra tử, không một chút nao núng sờn lòng.Quân ta bắn trọng thương thượng sĩ Joly , chuẩn úy Lesèble (theo tài liệu [13]) và hai sĩ quan Tây Ban Nha đó là thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca Guttierez.

Đến 9 giờ ngày 24 tháng 2 năm 1861, đồn bị quân giặc chiếm đóng.Đánh nhau từ lúc sáng sớm tối 6 giờ chiều,chiếm dần từng tấc đất, chỉ còn cách xa chiến lũy Chí Hòa 2 cây số về phía Tây.Rồi chúng đóng quân tại đây, chuẩn bị tấn công cho ngày hôm sau. Đến 5 giờ sáng, trận chiến tiếp tục.Các đạo quân do Đại tá Lapelin,Trung tá Desvaux, Đại tá (Trung tá ?) Crouzat xua quân tràn tới.

Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển vẫn dũng cảm chỉ huy quân sĩ chống trả. Lần hồi các điểm tựa bị quân giặc phá vỡ. Quân ta một số lớn bị tàn sát, một số khác rút lui.

Nguyễn Tri Phương bị thương ở cánh tay. Tuy nhiên theo tài liệu [9], Nguyễn Tri Phương bị mảnh đại bác trúng bụng nên phải ra lệnh rút quân về đồn Thuận Kiều. Em của Nguyễn Tri Phương là Nguyễn Duy bị thương. Số thương vong của quân ta kể có hàng ngàn. Hơn 1000 người hy sinh đền nợ nước, để xác tại chỗ và một số lớn bị thương được mang đi.

Về phía Pháp tổn thất cũng đang kể: Trung tá Testard tử trận, 12 quân sĩ chết và 225 bị thương.Tuy nhiên :

– Theo báo cáo của Đô đốc Charner ngày 27 tháng 2 năm 1861 : Quân Pháp có 12 người chết, 213 người bị thương;

– Nhưng theo Léopold Pallu de la Barrière, sĩ quan phụ tá của Đô đốc này thì : 19 người tử trận, trong đó có 5 viên sĩ quan Pháp và khoảng 300 người bị thương;

– Và theo báo Le Mémorial d’ Asie phát hành tháng 2 năm 1861, thì con số thiệt hại của Pháp là 16 người chết, 299 người bị thương, trong số đó có Thiếu tướng De Vassoigne, Đại tá Palanca, Đại tá (Trung tá?) Crouzat đều bị trọng thương, Trung tá thủy quân lục chiến Testard chết ở bệnh viện.

Trong suốt thời gian quân giặc công hãm phòng tuyến Chí Hòa, Hải đội do Phó Đô đốc Page chỉ huy, lãnh lịnh pháo kích liên tục , tiêu huỷ các đồn của ta dọc hai bên thượng lưu sông Đồng Nai.

Theo tài liệu [9] : Hải quân Pháp bố trí chiến thuyền ngăn viện binh từ Biên Hòa xuống, và ngăn quân Việt rút chạy lên đó.

Chí Hòa thất thủ.

Quân giặc trên đà thắng thế, tiếp tục hành quân truy sát quân dân ta.Ngày 28 tháng 2,chúng đánh tiếp căn cứ tiếp vận Thuận Kiều cách Đại đồn Chí Hòa 20 cây số về phía Bắc. Nguyễn Tri Phương gượng đau bỏ ba đồn Thuận Kiều, Tây Thới (nay thuộc Hóc Môn), Rạch Tra (Hóc Môn – Củ Chi) kéo quân về Biên Hòa.

Hình Đồn Rạch Tra bị quân Pháp chiếm ngày 24 tháng 2 năm 1861
(Nguồn: manhhai-Flickr)

Quân Pháp toàn thắng và tiến chiếm luôn đồn Tân Thời mà không gặp một sự kháng cự nào vì quân ta đã rút về Biên Hòa theo lịnh của thượng cấp.

Theo tài liệu [9,13], Trương Định rút về Gò Công tự tổ chức kháng Pháp.

Đại đồn Chí Hòa bị san bằng.

Như thế tỉnh Gia Định đã hoàn toàn bị quân giặc làm chủ. Đất nước bị tước đoạt chủ quyền.

Trận đánh Chí Hòa, một trận chống trả đầy hào hùng của quân dân ta nhưng cũng không kém phần bi đát.

Thành Gia Định thất thủ, tiếp theo sự đồ vỡ của Đại đồn Chí Hòa thể là yết hầu của dân ta bị chặn nghẹt.Để rồi cả 6 tỉnh Nam Kỳ đều ở trong tầm tay của giặc vậy.

Phụ đề 2 :
Chùa Khải Tường, đền Hiển Trung (Pagode des Mares), chùa Kiểng Phước (Pagode des Clochetons) và chùa Cây Mai (Pagode de Caï-Maï)

1-Theo tài liệu [14], Chùa Khải Tường, ngụ ý là ‘’mở rộng phước lành cho bá tánh’’, được thành lập vào khoảng Nhâm Thân (1752) tại làng Tân Lộc (còn được viết là làng Hoạt Lộc hay xóm Chợ Đũi).

Vào tháng 7 năm 1860, quân Pháp chiếm đóng chùa Khải Tường để lập đồn bót và để làm cứ điểm xuất phát đánh Đại đồn Chí Hòa do tướng Nguyễn Tri Phương trấn giữ.

Khoảng tháng 10 năm 1860, Đại úy Thủy quân lục chiến Barbé cởi ngựa đi tuần khu chùa Khải Tường bị quân của Nguyễn Tri Phương phóng lao giết chết. Có thể vì lý do này , Pháp gọi chùa Khải Tường là Pagode Barbé.

Hình Pagode Barbé- chùa Khải Tường
do Emile Gsell chụp trong khoảng năm 1871-1874

Nền Chùa Khải Tường, theo tài liệu [12], ở lọt vùng đất trường Đại Học Y Dược , số 28 đường Trần Quý Cáp, trên khu đất mang số bông đồ kim thời 1, 8, 9, section B 2 è feuille, ville de Saigon. Sau này, trên một phần của miếng đất này ở góc đường Hồng Thập Tự và đường Công Lý, trường Collège Chasseloup-Laubat, (Lycée Jean-Jacques Rousseau,Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn) được xây lên.

2- Đền Hiển Trung hay Hiển Trung Tự ,theo tài liệu [12], được xây vào năm Ất Mùi, 1795, trùng tu năm Gia Long thứ 3 (1804), tu bổ năm Thiệu Trị thứ 7 (1847).

Tuy nhiên,theo tài liệu [5] thì đền Hiển Trung xây cất ở làng Tân Triêm thuộc Trấn Gia Định xưa, do chỉ dụ của vua Gia Long ban truyền vào năm thứ ba (Giáp Tí 1804). Như thế thì làm sao có đền Hiển Trung xây vào năm 1795 được, ngay cả năm 1804 cũng rất sít sao.

Theo sách Hoàng Việt long hưng chí, sau khi lấy được thành Diên Khánh ( thị trấn Diên Khánh, Khánh Hòa) năm Ất Mão (1795), Thế Tổ (chúa Nguyễn Phúc Ánh, sau này là vua Gia Long) sai bộ Lễ ghi tên các công thần trận vong và ốm chết từ khi trung hưng cho tới chiến dịch Diên Khánh, lập đền Hiển Trung ở Gia Định.Nơi đây, lúc sơ khởi xưa có bài vị thờ tất cả 1015 công thần tử sĩ liều mình trong các trận chống Tây Sơn, trong số có một võ tướng quốc tịch Pháp tử trận Thị Nại, ta gọi ông Mạnh Hòe (Manuel).

Theo tài liệu [5] : Đến đời Thiệu Trị, năm thứ 6 (1846), vua Thiệu Trị hạ lệnh cho quan tỉnh Gia Định thay đổi những bài vị đã cũ hư, làm lại bằng gỗ tốt hoặc bằng cẩm thạch.

Đời Tự Đức năm thứ 25 (1872), vua Tự Đức cho lắp thêm một cái đàn để biểu dương gọi là ‘’Hiển Trung Công Thần’’.

Về sau trong số 1015 vị công thần đã được thờ ở đến Hiển Trung Gia Định, có 361 vị được chuyển thờ ở miếu Trung, trong các đền Trung Hưng, Trung Tiết ở Huế, đền Bảo Trung ở Bình Định, đền Biểu Trung ở Phú Yên, đền Sanh Trung ở Khánh Hòa. Thế là nơi đền Hiển Trung ở Gia Định chỉ còn thờ có 635 (654?) vị.

Rồi đến khi quân Pháp chiếm Gia Định, đền Hiển Trung khói lạnh hương tàn ! Vua Tự Đức cảm niệm công ân người trước truyền đem 631 (654?) vị ấy ra thờ ở đền Ân Tự, ở thôn Vĩ dạ thuộc huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên (Trung Việt).

Theo tài liệu [15] : Người Pháp gọi ngôi đền này là Pagode de la Fidélité Éclatante (chùa Hiển Trung) hay Pagode des Mares (chùa Ao). Khi người Pháp xây thành Ô Ma, tên Pháp là Camp aux Mares,sau năm 1956, trở thành Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia – Việt Nam Cộng Hòa, ngôi đền này nằm gọn trong vòng thành. Đến năm 1954, ngôi đền này đã không còn nửa. Đó là một phần lỗi của nhà binh Pháp không cho trường Bác Cổ hay kịp mà dời đi chỗ khác xây dựng lại để bảo tồn một cổ tích xưa (tài liệu [12]).

Ngày nay đền Hiển Trung dù đã theo thời gian mà tàn tạ biến cải, nhưng người cảm cựu những khi qua đường Võ Tánh ở Sàigòn, lòng hẳn nao nao nhớ đến một di tích xưa từng đánh dấu một hơi oanh liệt của các công thần đời chúa Nguyễn Phúc Ánh tranh hùng cùng Tây Sơn (tài liệu [5]).

3- Chùa Kiểng Phước được xây dựng năm nào chưa xác định được.Tuy nhiên, người ta có thể khẳng định là chùa này phải được thành lập trước năm 1860 bởi vì theo tài liệu [11], vào tháng 7 năm 1860,chùa Kiểng Phước bị quân Pháp do Đại úy Malet chỉ huy chiếm đóng và biến thành đồn phòng thủ trong khi Đề đốc Leonard Charner đang ở Trung Hoa.

Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu de la Barrière ,sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của Đề đốc Leonard Charner trong đoàn viễn chinh đánh Sàigòn năm 1861, tác giả cuốn Histoire de L’Expédition de Cochinchine en 1861 (Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ 1861), do nhà xuất bản Hachette in tại Pháp năm 1864, đã viết một câu ngắn miêu tả chùa Kiểng Phước như sau : ‘’Chùa (Kiểng Phước) xây cất giữa một cánh đồng mồ mả. Các tượng thần sơn vàng, chất đầy chung quanh các gian phòng trong chùa, vẻ mặt tượng trưng một trạng thái gần hoàn toàn thoát tục’’..

Địa điểm tọa lạc của Chùa Kiểng Phước,theo tài liệu [12] : ‘’Ngoài vòng rào tòa Hành chánh Chợ Lớn, xưa thuộc về huyện Tân Long, có con đường trải đá chạy bọc theo hông Chùa Chà Và đạo Hồi, mấy năm trước còn mang tên ‘’rue des Clochetons’’.

Đó là con đường xe chạy thẳng vô chùa Kiểng Phước, cổ tự. Năm 1860, binh ta lấy chùa này làm ổ kháng chiến chống giặc Pháp. Năm 1866, chùa đã điêu tàn vì bị dỡ phá, chỉ còn chút phương danh trong lịch sử kháng chiến mà thôi. Truy ra vị trí chùa này một phần lọt vào giữa con đường Maréchal Foch nay là đường Nguyễn Văn Thoại- Quận 10, còn một phần lớn lại ở về lô đất ngang ngang với trường học con gái thường gọi Trường Bà Đầm’’.

(Chú thích :Tòa Hành chánh Chợ Lớn nằm trên khu đất ngày nay là trường Đại học Y khoa Sàigòn, mặt chính tòa nhà nhìn thẳng ra đường Jaccaréo (sau là đường Tản Đà). Đây là Dinh Xã Tây của thành phố Chợ Lớn, mà dấu vết ngày nay không còn để lại gì. Khi tòa nhà bị phá bỏ, ở gần khu đất này, người ta dựng chợ Xã Tây vào năm 1925 ở cuối đường Phù Đổng Thiên Vương, nơi giao nhau với đường Nguyễn Trãi, còn tồn tại đến ngày nay).

Theo bình chú của nhà văn Sơn Nam : Người Pháp gọi chùa Kiểng Phước là Chùa Clochetons , phải chăng vì trên nóc chùa có treo nhiều cái chuông nhỏ ?).

Tài liệu [9] viết : Chùa Kiểng Phước tọa lạc ở gò đất phía sau đầu đường Phù Đổng Thiên Vương, Quận 5-Chợ Lớn (trước kia mang tên là đường Clochetons), có Thánh Đường Hồi giáo, vùng đất cao ráo nay là nền trường Đại học Y khoa Sàigòn- Việt Nam Cộng Hòa.

(Chú thích : Đường Phù Đổng Thiên Vương là đường Nguyễn Văn Thoại bên quận 10 đổi tên khi đường này chạy qua quận 5).

Bản đồ vị trí của Chùa Kiểng Phước (màu đỏ) và Chùa Cây Mai (màu vàng) – màu xanh lá cây là khu trường Đại học Y khoa Sàigòn
(Nguồn: manhhai-Flickr)

4- Chùa Cây Mai được xây dựng năm nào không rõ, nhưng đã được trùng tu vào năm Gia Long thứ 15 (1816) (tài liệu [16]).

Chùa Cây Mai, theo tài liệu [12] , tên chữ là Thứu Lãnh Tự nguyên xây cất trên một nền Chùa cổ Cao Miên xung quanh có đào ao rộng và sâu, hồi xưa mỗi năm tại đây có tổ chức lễ đưa ghe ‘’ngo’’ của người Miên tức là lễ đưa nước khi cuối mùa làm lúa và lễ rước nước đầu mùa làm ruộng.

Tài liệu [12] này dựa vào đoạn văn dưới đây trích từ Souvenirs historiques của Trương Vĩnh Ký : ’’Chùa Cây Mai ngày xưa là ngôi chùa Chân Lạp, có ao hồ bao bọc chung quanh và dùng làm nơi đua thuyền trải những khi lễ Phật ’’ đã suy và khảo ra rằng : nước bọc chung quanh chùa Cây Mai không đủ lớn, khúc đua phải dài trên năm ba cây số, trải dài tới vùng nước Chùa Gò (Phụng Sơn Tự) hoặc xa hơn, đường nước chùa Cây Mai ngày xưa ăn thông với con rạch trước đây gọi là rạch Lò Gốm (rạch này bị lấp đi một phần khi xây cất khu Chợ Lớn mới).

Dưới đời vua Minh Mạng, chùa được tu bổ lại. Tương truyền hai ông Nguyễn Tri Phương và Phan Thanh Giản có lập tại đây một thủy tạ trên có gác cao.

Theo tài liệu [9] : Chùa Cây Mai còn có tên là Mai Sơn tự (chùa núi Mai) hay Mai Khâu tự (chùa gò Mai), tọa lạc trên gò Mai, thuộc Gia Định xưa. Trong thời Pháp thuộc, chùa này đã bị tháo gỡ, chỉ còn lại gò Mai gần như phẳng lì, nằm ở góc đường Hồng Bàng bên quận 5, Chợ Lớn và Bến Dương Công Trừng- Phạm Đình Hổ bên quận 6 (Bến Dương Công Trừng nối đường Trang Tử-quận 5 với đườngTrần Quốc Toản – quận 11).

Vào thời Việt Nam Cộng Hòa, trường Quân Báo được thành lập tại địa điểm của Chùa Cây Mai.

Tài liệu tham khảo :

  1. Tôn Thất Thọ-Ai xây đại đồn Chí Hòa ở Gia Định-Nghiên Cứu Lịch Sử-27/04/2017.
  2. Tuổi trẻ -Thử dựng lại đại đồn Chí Hòa từ… nghĩa địa cũ-12/11/2016.
  3. Cù Mai Công- Vì sao đất Ông Tạ oan khiên, nhiều oan hồn và nghĩa địa nhất Sàigòn – Gia Định? – Sàigòn Nhỏ – 02/09/2020.
  4. Bách khoa toàn thư-Đại đồn Chí Hòa.
  5. Huỳnh Minh – Gia Ðịnh xưa và nay – Phòng tuyến Chí Hòa-Trận đánh lịch sử quyết định vận mạng Gia Định- Nhà xuất bản Khai Trí – 1973.
  6. Tuổi trẻ online- Đại đồn Chí Hòa, chiến lũy vĩ đại giữa Sàigòn xưa-13/11/2016.
  7. Tuổi trẻ online-Đại đồn Chí Hòa – kỳ cuối: Hệ thống đồn trại Chí Hòa-22/02/2019.
  8. Cù Mai Công – Tuổi trẻ online- Đại đồn Chí Hòa, chiến lũy vĩ đại giữa Sàigòn xưa-13/11/2016.
  9. Bách khoa toàn thư – Trận Đại đồn Chí Hòa.
  10. Tuổi trẻ online-Đại đồn Chí Hòa – kỳ 1: Trận chiến không thể quên-20/02/2019.
  11. Bách khoa toàn thư-Chùa Kiểng Phước.
  12. Vương Hồng Sển- Sàigòn Năm Xưa-Sống Mới-1968.
  13. Cù Mai Công-Những người lính An Nam lạ lùng’ ở đại đồn Chí Hòa- Tuổi trẻ online 14/11/2016.
  14. Bách khoa toàn thư -Chùa Khải Tường.
  15. Bách khoa toàn thư -Đền Hiển Trung.
  16. Bách khoa toàn thư-Chùa Cây Mai.

—>20-Nghĩa địa Ông Tạ

Advertisement
This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975. Bookmark the permalink.

2 Responses to CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Gia Định

  1. pearlharbor2009 says:

    nghĩa trang Đa Minh giờ nằm trên đường Bình Long (thuộc quận Bình Tân), đối diện đường Phú Thọ Hòa (quận Tân Phú), nó tách ra so với khu nghĩa địa Bình Hưng Hòa (góc ngã 4 Bình Long – Tân Kỳ Tân Quý).

    Like

  2. TM says:

    Cám ơn pearlharbor2009 đã bổ túc thêm chi tiết cho bài viết được đầy đủ hơn, hữu ích cho TM và các độc giả khác

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s