CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Gia Định

22-Nghĩa trang Bắc Việt
Quận Gò Vấp & Quận Tân Bình – Gia Định

Bài này được viết chung với ông Ngô Đình Hùng, nguyên Luật Sư tòa Thượng Thẩm Sàigòn.

Nghĩa trang Bắc Việt, tên đầy đủ là Nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế, là một nghĩa trang tư nhân của người Bắc di cư vào Nam vào những năm đầu thế kỷ 20 hay trước đó và những năm kế tiếp sau đó cho đến năm 1954.

Tài liệu [1] đã viết như sau : ‘’Thưở đó các ông nhà giàu miền Bắc chưa chịu đầu tư ở Sàigòn, vì họ chưa biết rõ tình hình kinh tế trong Nam. Chỉ có ba hạng người tập trung ở Phú Nhuận thôi: công tư chức nhỏ, tiểu thương, và phu phen thợ thuyền. Thợ cẩn ốc xa cừ người Bắc rất được miền Nam trọng dụng. Các thứ thợ khác thì Nam cũng giỏi bằng Bắc, nên thợ Bắc không khá lắm.

Tiểu thương chỉ buôn bán có mấy mặt hàng thôi: guốc Bắc rất được Sàigòn ưa thích, quạt giấy Bắc cũng tốt hơn quạt giấy Nam, nhưng chè hạt thì người Nam không thích, hoá ra đồng bào miền Bắc chỉ bán chè hạt với nhau thôi. Thuốc Lào cũng chỉ bán với nhau, vì dân Nam lười, mà hút thuốc Lào phiền phức hơn là hút thuốc lá đã vấn sẵn của Pháp. Chỉ lười thôi, chớ Nam cũng rất thích thuốc Lào.

Ấy thế mà cái cộng đồng chưa giàu đó lại lập lên được một nghĩa trang đồ sộ là “Bắc Việt Nghĩa Trang” gần phi trường Tân Sơn Nhứt thì đã biết sức cường sinh của người Việt miền Bắc là lớn đến đâu”.

Theo tài liệu [2,3] : Trong chuyến du hành đi Pháp dự Đấu xảo Marseille năm 1922, ông Phạm Quỳnh đã ghé vào Sàigòn ngày 13 tháng 3 năm 1922 và đã đến thăm Nghĩa trang Bắc Việt. Trong cuốn sách “Pháp du hành trình Nhật ký”, ông đã ghi như sau: ‘’5 giờ chiều cùng mấy ông ngoài ta đi xem vườn Bắc kỳ nghĩa trang, cách thành phố Sàigòn 6-7 cây-lô-mét, đó là nơi nghĩa địa của người Bắc ở Sàigòn. Số người ngoài ta vào lập nghiệp trong ấy ngày một nhiều, mà hướng lai không có một khu đất nào riêng để chôn những người bất hạnh mất đi. Nay nhờ có mấy ông hữu tâm xướng xuất lên, mua được một khu đất chừng mười mẫu, kinh doanh làm thành một vườn nghĩa địa, hiện nay đã có vài ba cái mộ mới chôn. Tình đồng quận, nghĩa tử sinh, thật là một việc đáng khen lắm”.

Dựa vào tài liệu [1,2,3] thì Nghĩa trang Bắc Việt đã được thành lập trước năm 1922 bởi những người Bắc đầu tiên di cư và lập nghiệp ở xã Phú Nhuận thuộc quận Gò Vấp tỉnh Gia Định.Kể từ năm 1956 cho đến năm 1975, địa điểm của Nghĩa trang Bắc Việt thuộc quận Tân Bình, tỉnh Gia Định.

Và đây là Nghĩa trang Bắc Việt thứ nhứt của cộng đồng người Bắc di cư.

Vậy mà tài liệu [4] đã viết rằng : Năm 1959, thượng toạ Thích Trí Dũng thành lập nghĩa trang Bắc Việt Tương tế. Điều này cần phải xét lại bởi vì vào năm 1922 , thượng toạ (sinh năm 1906 tại Thủ Trung- Ninh Bình, Bắc Việt ) chỉ mới có 16 tuổi thôi và còn ở ngoài Bắc, chưa vào Nam.

Cũng giống như những nhóm người di cư khác, cộng đồng người Bắc di cư đã thành lập hội Bắc Việt Tương Tế để tương trợ giúp đỡ lẫn nhau , nhất là những năm tháng đầu trong một vùng đất mới, khí hậu thổ nhưỡng, tập tục, phong thái bản tánh con người, ẩm thực, thủ tục hành chánh, sinh sống làm ăn… đôi khi khác lạ .

Năm thành lập hội này chưa xác định được. Tuy nhiên theo tài liệu [5] : Hội Bắc Việt tương tế có Hội Quán đã được xây dựng từ năm 1929 ở gần góc đường Mayer và đường Lesèble, Sàigòn (thời Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành đường Hiền Vương và Lý Văn Phức).

(Phụ chú :

– Tài liệu [5] cũng cho biết rằng : Vào năm 1932, một ngôi đền nho nhỏ thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo được dựng ở số 36 kế bên Hội Quán. Cụ Nguyễn Văn Bích, chủ nhân của đền, đã hiến cho Hội Bắc Việt tương tế do Cụ Nguyễn Duy Ninh làm chánh hội trưởng từ năm 1952 đến năm 1979 (khi cụ qua đời). Ngôi đền mới thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo được kiến trúc sư nổi tiếng Nguyễn Mạnh Bảo thiết kế và Hội Bắc Việt tương tế khởi công xây dựng vào ngày 28 tháng 7 năm 1957, hoàn thành vào ngày 11 tháng 7 năm 1958. Xem thêm chi tiết trong Phụ đề ;

– Gần Hội Quán này, trên đường Lý Văn Phức, cuối thế kỷ 19 qua đầu thế kỷ 20, có Cimetière Annamite. Xem thêm chi tiết trong bài Cimetière Annamite (Cimetière Indigène)- Đất Thánh Chà Tân Định của cùng tác giả).

Đến đầu thập niên 1950, những khu vực chung quanh nghĩa trang vẫn còn thưa thớt dân cư. Theo tài liệu [6] được viết vào năm 1957 : Từ Ngã ba Ông Tạ tới cổng nghĩa địa ,cảnh như cảnh quê miền Ðông với những con đường mòn núp bóng bờ tre, với các cây rơm phơi giữa đám gốc rạ.

Vào khoảng năm 1951 hay trước đó, người Pháp xây một trại lính, Camp du Général Chanson, gần nghĩa trang Bắc Việt . Trại này được đặt theo tên của tướng Pháp Charles Chanson bị mưu sát ở Sa Đéc vào ngày 31 tháng 7 năm 1951 (tài liệu [7,8]).

Theo tài liệu [9] : Ngày 1 tháng 5 năm 1952, người Pháp thành lập Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam với trụ sở tại đường Galliéni (sau là đường Trần Hưng Đạo), Quận 5, Sàigòn.

Năm 1954,sau khi chánh thể Việt Nam Cộng Hòa được thành lập : Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam thành Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và được chuyển về trại Trần Hưng Đạo , tên mới của Camp du Général Chanson. Trung tâm hành quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa cũng được đặt trong trại này.

Camp du Général Chanson năm 1951 và trại Trần Hưng Đạo,

Cổng chính của Bộ Tổng tham mưu ngó ra đường Võ Tánh, gần giao điểm với đường Cách Mạng 1- 11

Đường Võ Tánh chạy ngang cổng chính Bộ Tổng Tham Mưu (bên trái của hình) năm 1969

Tác giả bài này xin dùng tạm hai không ảnh dưới đây, trích từ mạng manhhai-flickr, để định vị nghĩa trang Bắc Việt :

Mặt trước của nghĩa trang gần như đối diện với Trung tâm hành quân ; ­

Nghĩa trang Bắc Việt năm 1969

Trung tâm hành quân

Mặt sau của nghĩa trang chỉ cách Bộ Tổng Tham Mưu bởi một con đường nhỏ không tên.

Từ năm 1951, kế bên nghĩa trang Bắc Việt Tương tế, hòa thượng Nguyễn Viết Tạo (pháp danh Thanh Nhã) khởi công xây dựng Chùa Phổ Quang với kiến trúc ban đầu còn khá đơn sơ.

Theo tài liệu [10] : Năm 1955, thượng tọa Thích Trí Dũng được hội Bắc Việt tương tế thỉnh làm Trụ Trì chùa Phổ Quang.

Năm 1959, thượng tọa Thích Trí Dũng tái thiết toàn bộ chùa Phổ Quang (tài liệu [4]).

Chùa Phổ Quang được xây dựng vào năm 1961 theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Mạnh Bảo, giám đốc công trường xây cất là kỹ sư Đinh Vũ Toàn (tài liệu [11]).

Trước chùa có tượng Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát.Cổng chùa xây theo kiểu tam quan, trên có treo một cái chuông khá lớn.Trong chùa có tượng Phật Thích Ca đồ sộ.

(Phụ chú : Thượng tọa Thích Trí Dũng cùng tu với cố hòa Thượng Thích Tâm Châu nhưng hai người hành thế khác nhau.

Thượng tọa Thích Trí Dũng quen rất nhiều nhân vật tai to mặt lớn trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa , đi xe Mercedes sang trọng mắc tiền lái bởi tài xế riêng.

Theo tài liệu [4] , từ năm 1959, thượng tọa Thích Trí Dũng đã chứa chấp nuôi dưỡng bọn việt cộng nằm vùng , nên năm 1960, thượng tọa bị chính quyền quốc gia giam giữ ba tháng tại bót cảnh sát Hàng Keo trên đường Bạch Đằng-Gia Định chỉ vì bị tội tình nghi hoạt động cho việt cộng !!

Thượng tọa Thích Trí Dũng còn có một chùa tại Thủ Đức ,trong khuôn viên có xây ‘’Chùa Một Cột’’ thu nhỏ. Trong tổng công kích đợt 1 Mậu Thân 1968, chùa này là chỗ ém quân của việt cộng, tàng trữ vũ khí và từ đây mở những cuộc tấn công vào Bộ Tổng Tham Mưu quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra , sau thất bại đợt 2 tổng công kích, một tên đại tá việt cộng bị thương cũng đã được dấu tại chùa này.

thể vì những hành động này và những thứ nào khác (?), năm 1997, thượng tọa Thích Trí Dũng được ngụy quyền cộng sản thưởng cho Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhì ).

Nghĩa trang của Hội tương tế Bắc Việt như tên gọi là một nghĩa trang tư nhân dành cho người Bắc di cư vào miền Nam . Tuy nhiên theo tài liệu [6] viết hồi năm 1957, trong nghĩa trang này có cả mộ phần của người miền Trung và miền Nam. Và đây là một thí dụ, theo tài liệu [12,13,14] : Năm 1964, ông Ngô Ðình Cẩn gốc người Trung, bào đệ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, sau khi bị xử tử ngày 09 tháng 05 năm 1964, được an táng tại nghĩa trang chùa Phổ Quang, tức nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế gần sân bay Tân Sân Nhất. (Sau năm 1975, nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế ở chùa Phổ Quang bị di dời về Lái Thiêu. Mộ ông Ngô Đình Cẩn được đưa về đó nằm cạnh mộ của thân mẫu và của hai người anh là Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu).

Tài liệu [1] viết : ‘’ Nghĩa trang miền Trung và miền Nam thua xa Bắc Việt Nghĩa trang về mặt tốt đẹp và sạch sẽ, mặc dù dân Nam rất giàu (nghĩa trang Nam nằm gần nhà thờ Ba Chuông và mang tên là Nghĩa Trang 21 Tỉnh)’’.

Nghĩa trang Bắc Việt rất rộng có nhiều ngôi mộ rất đẹp gắn đầy hoa cườm. Hầu hết mộ ở đây được xây gạch hay xi măng, rất ít mộ bằng đất. Nơi đây cũng có khá nhiều ngôi mộ của các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Phía sau chùa Phổ Quang có một ngôi mộ mối đùn rất to.Giá đất để chôn ở nghĩa trang Bắc Việt không rẻ.

Sau năm 1962, nhờ những đóng góp của người Bắc giàu có di cư vào Nam năm 1954, cộng đồng người Bắc mở thêm một nghĩa trang Bắc Việt thứ hai ở làng An Nhơn quận Gò Vấp, đồ sộ không kém nghĩa trang Bắc Việt thứ nhứt (theo tài liệu [1]).

Tác giả bài này đã tìm kiếm trên mạng những chi tiết về nghĩa trang Bắc Việt thứ hai nhưng không có kết quả. Quí vị nào có tin tức, xin bổ túc thêm.

Năm Mậu Thân 1968, để chuẩn bị cho trận tổng công kích đợt 1, việt cộng đã dấu vũ khí trong các quan tài sau đó đem chôn tại nghĩa trang Bắc Việt thứ nhứt. Trước ngày trận chiến bùng nổ và cũng có thể vài ngày sau đó, chúng đã tổ chức các đám ma giả để chuyển các quan tài này vào trong thành phố Sàigòn và giao cho bọn việt cộng nằm vùng. Chúng đã lọt qua các chốt kiểm soát khá dễ dàng do bởi việc cảnh sát quốc gia, vì tôn trọng tang ma, nên không có xét hỏi nhiều. Tuy nhiên quỷ kế này chẳng kéo dài được bao lâu bởi vì các lực lượng an ninh phòng thủ Sàigòn đã kịp thời phát giác.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngụy quyền cộng sản cho bọn bộ đội canh gác ngay trên đường vào Bộ Tổng Tham Mưu, cấm không cho dân chúng vào Nghĩa trang Bắc Việt thứ nhứt .

Theo tài liệu [15] : Nghĩa trang Bắc Việt bị giải tỏa vào cuối những năm 1980, đến năm 1995 thì chấm dứt. Khu đất từng “dành cho người chết” này trở thành khu đất vàng, trên đó ngụy quyền cộng sản liên kết với bọn tư bản đỏ xây dựng những khu gia cư, khu biệt thự, bãi xe buýt, cao ốc, nhà hàng…

Các khu gia cư to lớn, đắt tiền này hầu hết dành cho người Bắc kỳ di cư sau năm 1975. Chúng vào Sàigòn để đô hộ và cướp đất đai của người miền Nam còn sống cũng như người đã chết (tài liệu [2]) !

Phụ đề :
Đức Thánh Trần Hưng Đạo

Theo tài liệu [16] : Đức Thánh Trần Hưng Đạo tước hiệu Hưng Đạo Đại Vương, nguyên có tên là Trần Quốc Tuấn sinh ra ở thôn Tức Mặc, phủ Thiên Trường, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

Năm sinh của ngài cho đến nay vẫn vẫn chưa xác định rõ rõ ràng : 1228 theo tài liệu [16], 1230 theo tài liệu [17] và 1226 theo tài liệu [18]. Nhưng điều đó cũng cho thấy ngài sinh ra không lâu sau khi vương triều nhà Trần được thành lập (năm 1225).

Ngài là con trai thứ ba của Khâm Minh đại vương Trần Liễu – anh cả của Trần Thái Tông Trần Cảnh, do vậy Trần Quốc Tuấn gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột. Cho đến nay vẫn không rõ mẹ ngài là ai, có một số giả thiết đó là Thiện Đạo quốc mẫu, huý là Nguyệt, một người trong tôn thất họ Trần. Do chính thất khi trước của Trần Liễu là công chúa Thuận Thiên trở thành hoàng hậu của Trần Thái Tông, nên Thiện Đạo quốc mẫu trở thành kế phu nhân. Sau khi Trần Liễu mất (1251), theo “Trần triều thế phả hành trạng” thì bà Trần Thị Nguyệt đã xuất gia làm ni sư, hiệu là Diệu Hương. Ngài có người mẹ nuôi đồng thời là cô ruột, Thụy Bà công chúa.

Đại Việt sử ký toàn thư mô tả ngài “có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, được rèn dạy từ khi còn rất nhỏ nên văn võ hơn người, lúc chưa đầy 30 tuổi đã là võ tướng hàng đầu của triều đình.

Ngài là một nhà chính trị và quân sự thiên tài kiệt xuất, đã chỉ huy quân dân Việt Nam đập tan ba cuộc xâm lược liên tiếp bởi bọn rợ Nguyên – Mông Cổ bách chiến bách thắng bá chủ từ Á qua Âu: Lần thứ nhất năm 1258, lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba (cuối năm 1287) năm 1288 với trận Bạch Đằng lẫy lừng sáng ngời trong lịch sử Việt Nam.

Tháng Tư (âm lịch) năm Kỷ Sửu (1289), luận công ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông, vua Trần Nhân Tông gia phong ngài làm “Đại vương” dù chức quyền đứng đầu triều đình khi đó vẫn thuộc về Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải.

Phần lớn tài liệu nghiên cứu lịch sử và cả dân gian thời sau thường dùng tên gọi vắn tắt là “Trần Hưng Đạo” thay cho cách gọi đầy đủ là “Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn”, vốn bao gồm tước hiệu được sắc phong cho ngài. Tước “đại vương” có cấp bậc cao hơn tước “vương” dù cùng thuộc hàng vương tước được ban cho những người thành viên hoàng tộc nhà Trần đương thời.

Vua đã trao cho Hưng Đạo vương vị trí tối cao toàn quyền chỉ huy quân đội Đại Việt, đồng thời đặc cách cho ông quyền phong tước hiệu cho bất kỳ ai mà ông muốn. Nhưng trong suốt cuộc đời, ông không hề sử dụng đặc quyền này.

Sau đó, ông lui về ở Vạn Kiếp. Ông được phong ấp ở hương Vạn Kiếp, thuộc huyện Chí Linh, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương).

Nhân dân lúc bấy giờ kính trọng ông, lập đền thờ sống ông ở Vạn Kiếp. Tại đền có bài văn bia của vua Trần Thánh Tông, ví ông với Thượng phụ (tức Khương Tử Nha).

Tháng Sáu (âm lịch) năm Canh Tý (1300), Trần Hưng Đạo ốm nặng. Chữa mãi không khỏi bệnh, ông mất vì tuổi già vào ngày 20 tháng Tám âm lịch năm ấy (3 tháng 10 năm 1300), thọ 74 tuổi.

Trước lúc lâm chung, ông khuyên vua Trần Anh Tông: “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”. Ngoài ra, ông còn để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến tận ngày nay.

Khi sắp mất, Hưng Đạo Đại Vương dặn các con rằng: “Ta chết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườn An Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào, lại phải làm sao cho mau mục”.

Nghe tin Hưng Đạo Đại Vương mất, triều đình Đại Việt phong tặng ông là “Thái sư Thượng Phụ Thượng Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương”. Ông được nhân dân cả nước tôn vinh là “Đức Thánh Trần” và lập đền thờ ở nhiều nơi, song nổi tiếng hơn cả là khu di tích Đền Kiếp Bạc nơi thờ phụng ông thuộc địa phận hai thôn Dược Sơn và Vạn Kiếp, xã Hưng Đạo, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Ở quận 1, Sàigòn, trên đường Hiền Vương, ở gần ngã ba đường Lê Văn Phức, khu Tân Định – Đa Kao, theo tài liệu [19], vào năm 1932 ,người dân cũng xây một ngôi đền nho nhỏ thờ Đức Thánh Trần.

Ngôi đền này tọa lạc ở số 36 đường Hiền Vương, bên cạnh chùa Vạn An và cạnh Hội Quán xây từ năm 1929 của Hội Bắc Việt tương tế.

Cụ Nguyễn Văn Bích, chủ nhân của đền, đã hiến cho Hội Bắc Việt tương tế do cụ Nguyễn Duy Ninh làm chánh hội trưởng từ năm 1952 đến năm 1979 (khi cụ qua đời).

Một ngôi đền mới thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo được kiến trúc sư nổi tiếng Nguyễn Mạnh Bảo thiết kế và Hội Bắc Việt tương tế khởi công xây dựng vào ngày 28 tháng 7 năm 1957, hoàn thành vào ngày 11 tháng 7 năm 1958.Sau đó, ngôi đền nhỏ cũ được dỡ bỏ tạo thành sân đền rộng rãi cho hàng nghìn người dự lễ hội.

Theo tài liệu [20,21] : Bên ngoài đường Hiền Vương nhìn vào tưởng như chỉ là một căn phố với cổng sắt cao. Sau khi vào cổng rồi là một lối đi lát gạch, bề ngang chỉ rộng độ ba mét, dài độ hơn mười mét. Cuối lối đi nầy khách viếng thăm đền sẽ ngạc nhiên vô cùng khi đối diện với một sân gạch rất rộng nằm xéo qua phía bên tay phải, sân nầy hình chữ nhựt, mổi cạnh dài có đến trên hai mươi mét. Cuối sân là điện thờ, nền lát gạch bông luôn luôn sạch bóng và sơn son thếp vàng rực rỡ.

Các chi tiết của đền đã được tài liệu [19] miêu tả rõ ràng :

Từ năm 1958 đến nay, đền thờ tuy có được tu bổ thêm nhiều lần, nhưng nhìn chung cả vóc dáng lẫn đường nét căn bản của kiến trúc cũ vẫn được giữ nguyên.

Đền có ba cổng lớn. Cổng chính giữa chỉ mở vào những ngày rằm, ba mươi âm lịch hằng tháng và những lễ hội lớn trong năm. Hai cổng phụ được mở thường xuyên để đón khách tới viếng thăm hằng ngày. Trên nóc cổng chính là hình “lưỡng long hý nguyệt” và trước cổng nổi bật 4 chữ Hán cỡ lớn (phiên âm): Hưng Đạo Đại Vương. Ở mặt ngoài của hai cột cổng chính, có đôi câu đối viết bằng chữ Hán (tạm dịch) :

Xem sử nhà Trần nhớ mãi những chiến tích oanh liệt tích tụ lại ,
Vào cửa miếu, thấy ánh sáng linh thiêng tỏa rạng ra.

Mặt trong của cổng, ở trên cao có bốn chữ triện: Trần Triều Hiển Thánh và phía dưới, trên 2 cột cổng chính cũng có đôi câu đối viết bằng chữ Hán.

Trong khuôn viên rộng chừng gần 2000 thước vuông , sân đền chiếm phần lớn diện tích, tỏa bóng mát cây cao. Sân đền lát gạch men màu nâu thường được tổ chức đánh cờ người, võ cổ truyền và ca hát phục vụ những ngày lễ, hội (lễ hội lớn nhất vào 20 tháng 8 Âm lịch, Ngày giỗ Đức Thánh Trần). Ngay ở đầu sân, là bức tượng Trần Hưng Đạo do nhà điêu khắc Trọng Nội đúc bằng xi-măng, tô màu đen pha vàng trông uy nghi và hài hòa với khung cảnh khu vực đền thờ.

Từ sân, qua 5 bậc bước lên đền thờ được xây dựng một tầng 5 gian bằng vật liệu gỗ, bê-tông cốt thép và mái lợp ngói vẩy cá. Và đền thờ cấu trúc theo hình chữ đinh, diện tích khoảng 250 thước vuông với ba cửa liền nhau. Phía trên ba cửa nổi bật 10 chữ Hán (phiên âm) :

Hiển thánh Trần triều Hưng Đạo Đại Vương linh từ.
(Đền thờ của bậc hiển thánh linh thiêng là Hưng Đạo Đại Vương họ Trần).

Mặt trước cửa chính, có đôi câu đối viết bằng chữ Hán :

Núi Vạn Kiếp không có ngọn nào là không có hơi kiếm bốc hỏa,
Sông Lục Đầu không có cơn sóng nào lại không có tiếng thu ầm vang.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân thì câu đối này tương tuyền là của thám hoa Vũ Phạm Hàm (người làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai, Hà Tây, 1864 – 1906).

Trong đại sảnh của đền cũng có nhiều đôi câu đối giàu tráng khí.

Ở trước bàn hương án có hai con nghê ngồi chầu được tạo hình độc đáo: mỗi con ngậm một cái xương sườn cá ông cong vút lên, dài gần 3 thước tạo thành một hình vòng cung, trông rất uy nghi. Sau bàn hương án ở điện ngoài, là nơi thờ các vị anh hùng hào kiệt đời Trần, đã có công với nước mà dân gian tôn là các bậc “hiển thánh” như: Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng.

Hai bên hương án là hai hàng cờ quạt, tàn lọng, đồ bát bửu, ngựa hồng, ngựa bạch… Phía trên và dọc theo hai cột ở hai bên hương án cũng có hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng .

Nơi thờ chính của đền là Nội điện (hậu cung). Nội điện ở phía trong, có tượng Trần Hưng Đạo bằng đồng, khởi công đúc từ ngày 25 tháng 10 năm 1957 và khánh thành vào ngày 1 tháng 7 năm 1958. Tượng Trần Hưng Đạo được đúc ở thế ngồi trên long ỷ, tay cầm quyển binh thư, thanh kiếm bạc dựng một bên. Phía trái là nơi thờ hai vị nương cô : nương cô thứ nhứt là con gái Trinh công chúa sau là vợ Trần Nhân Tôn và nương cô thứ hai là con gái nuôi Nguyễn công chúa sau là vợ Phạm Ngũ Lão. Phía phải là nơi thờ bốn vị vương tử (tức 4 người con trai của Trần Hưng Đạo gồm Hưng Võ Vương Quốc Hiển, Hưng Hiến Vương Quốc Uy, Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng và Hưng Trí Vương Quốc Nghiễn). Phía trên bức tượng là bức hoành phi, giữa có thêu mấy chữ Hán (phiên âm): Nam Quốc Cơ Công (công trạng xây dựng nền móng nước Nam). Cũng trên bức hoành phi này, phía trái có thêm 2 chữ Đại nghĩa (Nghĩa lớn) và phía phải có thêm hai chữ Chí trung (hết lòng trung) .

Hai bên bức hoành phi trong nội điện có đôi câu đối chữ Hán :

Dòng dõi nhà vua, ngựa đá bao phen lo việc nước,
Trần Triều danh tướng, bình vàng xã tắc điện sáng ngời.

Trên nền hoành phi và câu đối là những hoa văn thường thấy ở các đền thờ. Trên các vách cao của đền là hàng loạt những bức phù điêu sơn son thếp vàng, chạm trổ công phu của nhà điêu khắc Trọng Nội, diễn tả những sự kiện lớn của lịch sử đời Trần như: Hội nghị Diên Hồng, Lời thề sông Hóa, Trận Bạch Đằng 1288. Đó là chưa kể đến bản đồ, nguyên văn (bản dịch) Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, cùng những lời khuyên chân tình mà sâu sắc của Trần Hưng Đạo đối với vua Trần và kế sách giữ nước trước khi Trần Hưng Đạo qua đời, cùng với nhiều hiện vật có giá trị khác được trưng bày trong Hội quán làm Nhà truyền thống di tích đời Trần.

Hằng năm, đền Đức Thánh Trần thường tổ chức lễ hội lớn vào đêm giao thừa, mồng 1, 2,3 Tết, Lễ hội mừng xuân,Giỗ tổ Hùng Vương (mồng 10 tháng 3 Âm lịch), Giỗ (ngày húy) Đức Thánh Trần Hưng Đạo (20 tháng 8 Âm lịch) và ngày Thánh đản (ngày sinh) mồng 10 tháng Chạp. Vào những dịp này, trong đền khói nhang nghi ngút, chiêng trống đánh vang rền, ngoài đền có múa lân, tế lễ cổ truyền, thi vật, võ cổ truyền, ca nhạc dân tộc… và tổ chức hội thảo về các chiến công thời Trần.Người dân đến lể đông vô cùng, đôi khi gây trở ngại lưu thông trên đường Hiền Vương (theo tài liệu [22]).

(Phụ chú : Từ những năm 1950, xế chiều sau khi mặt trời xuống, sân đền trở thành võ đường của phái Lam Sơn võ đạo. Theo tài liệu [23], đây là môn phái võ thuật cổ truyền Việt Nam do võ sư Quách Văn Kế sáng lập. Võ sư Quách Văn Kế giã từ trần thế năm 1976, quyền chưởng môn Lam Sơn võ đạo trao lại cho con út là võ sư Quách Phước. Ông Quách Phước bắt đầu huấn luyện võ thuật năm 18 tuổi tại đền thờ Đức Thánh Trần . Vào những năm 1960, đôi khi tác giả bài này có vào xem các buổi luyện võ của các môn sinh Lam Sơn).

Theo tài liệu [24,25] : Ngoài đền Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở khu Tân Định – Đa Kao , còn có tượng Trần Hưng Đạo, người được xem là thánh tổ hải quân, dựng bởi binh chủng Hải Quân của quân lực Việt Nam Cộng Hoà ở công trường Mê Linh , bến Bạch Đằng, quận 1 dựng vào năm 1967 .

Bức tượng Hưng Đạo Đại Vương cao gần 6 thước, đứng trên một bục lăng trụ tam giác cao gần 10 thước. Mẫu tượng do Phạm Thông, 24 tuổi vừa tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Sàigòn, thiết kế là vị Đại tướng trong y phục võ tướng, một tay tì lên đốc kiếm, một tay chỉ xuống sông và nói: “Phen này nếu ta không phá xong giặc Nguyên, thề không bao giờ trở lại khúc sông này nữa”.

Tượng Trần Hưng Đạo ở công trường Mê Linh , bến Bạch Đằng, quận 1, trước năm 1975

Trên bình diện quốc gia, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã tôn vinh Đức Thánh Trần Hưng Đạo với nhiều hình thức khác nhau: Phát hành tiền giấy in hình của Ngài, đặt tên đường, trường học, căn cứ với quân sự, chiến đoàn và các chiến dịch càn quét cộng quân.

Đức Thánh Trần đã là biểu tượng và linh hồn cuộc chiến đấu của miền Nam chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt (tài liệu [26]).

Khốn nỗi , tất cả các công sức đánh đuổi bọn xâm lược phương Bắc của Đức Thánh Trần Hưng Đạo để bảo toàn nguyên vẹn lãnh thổ và bảo vệ nền độc lập nước Việt, cũng như những công đức khác trước đó của Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lê Đại Hành và sau đó của Lê Lợi và Nguyễn Huệ đã bị tên đại gian hùng hồ chí minh (Sic), chủ tịch của cái gọi là đảng cộng sản Bắc Việt thẳng thừng tẩy bỏ, thể như không có một ai trừ hắn ta. Vô cùng ngạo mạn hỗn láo , hắn đã nói : ‘’Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác (Sic) cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước’’.

Những tên văn nô bồi bút nịnh bợ kiếm cơm cháo đã bợ thêm : ‘’Khắc ghi lời Bác (Sic) căn dặn…toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta kiên quyết giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước’’.

Bọn cộng sản Bắc Việt huênh hoang tuyên truyền đã đánh bại được thực dân Pháp để dành độc lập và đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam.

Sự thật rõ như ban ngày là bọn chúng xâm lược miền Nam – Việt Nam Cộng Hòa , không phải là để bảo vệ lãnh thổ Việt Nam, mà là để thi hành nghĩa vụ quốc tế mưu đồ nhuộm đỏ quả địa cầu, vạch ra bởi của đảng Cộng Sản Nga và đảng Cộng Sản Tầu.

Tên tổng bí thư đại gian ác lê duẩn (Sic) của chúng đã nói huyênh hoang : Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta (tài liệu [27]).

Tên này sau khi chết vẫn còn hung hăng con bọ xít.Trên cổng chính của đền thờ của hắn treo khẩu hiệu : “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại (tài liệu [28]).

Bọn cộng sản Bắc Việt đã xâm lược miền Nam Việt Nam với các vũ khí tối tân viện trợ từ các xứ khối cộng sản: Nga Sô, Tàu Cộng, Đông Đức, Tiệp Khắc. Trên đất Bắc, chúng được bảo vệ bởi các cố vấn và chuyên viên Nga sô, chí nguyện quân Tầu Cộng, Bắc Hàn, Cu Ba… trá hình thường dân.

Bọn cộng sản Bắc Việt chỉ là một bọn đánh thuê không hơn, không kém (tài liệu [28]).

Năm 1974, khi Trung Cộng đánh chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa anh dũng chống trả, nhưng bọn cộng sản Bắc Việt im miệng thin thít , không hề lên tiếng phản đối. Theo tài liệu [29] : Tên hoàng tùng ( bí thư ban chấp hành trung ương đảng khóa V, tổng biên tập báo Nhân dân- chuyên viên viết chuyện tuyên truyền xảo trá , đại biểu quốc hội bù nhìn), đã thừa nhận đảng cộng sản Bắc Việt nhờ Trung Cộng “giữ hộ” Hoàng Sa sau khi Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974.

Cái giá của cái gọi là giải phóng và cưỡng chiếm miền Nam – Việt Nam bởi bọn cộng sản Bắc Việt không chỉ trả bằng máu của hàng triệu thanh niên Miền Bắc mà cả của hàng triệu đồng bào Miền Nam. Cái giá này còn gồm có hàng trăm nghìn người quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa vô tội đã phải đi tù, và hàng triệu người miền Nam khác phải bỏ xứ ra đi mà con số chết trên biển, bị hải tặc giết đã lên đến con số hàng mấy trăm ngàn.

Từ sau năm 1975, để trả nợ chiến tranh và nợ xương máu và cũng để vinh thân phì gia cá nhân, bọn ngụy quyền cộng sản Ba Đình đã và đang bán cho quan thầy Tàu Cộng : một dãi đất rộng lớn mà diện tích hoàn toàn bí mật ở biên giới vùng Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, 15.000 cây số vuông lãnh hải vịnh Bắc phần (tương đương với một vùng hình vuông mỗi cạnh dài 170 cây số !) , rừng núi, hầm mỏ, đồng ruộng, đất đai ,nhà cửa ,vùng kinh tế đặt trị .v.v…

Người ta thường nói Phú Quí sinh Lễ Nghĩa. Nhưng với bọn ngụy quyền cộng sản Ba Đình thì Phú Quí sinh Hèn Hạ (và rất Hèn Hạ). Chúng tảng lờ những cuộc xâm phạm không phận ,xâm chiếm lãnh thổ và đặc biệt là những vùng lãnh hải Việt Nam có mỏ dầu khí, bởi Tàu Cộng. Chúng không dám lên tiếng phản đối việc những người ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Cộng bắt giam, bắn hư, đụng chìm tàu … Chúng hèn hạ và hèn nhát đến nỗi không dám viết hay gọi thủ phạm có tên rõ ràng là Tàu Cộng mà chỉ dám gọi đó là tàu lạ, người lạ, xứ lạ mà thôi !

Ngày nay, bọn ngụy quyền cộng sản Ba Đình thiết lập một chế độ độc tài đảng trị sắt máu để kềm kẹp người dân trong mọi lãnh vực. Chúng bóc lột người dân tới tận xương tủy bằng những sưu cao thuế nặng và vô cùng vô lý, mà ngay cả dưới thời thực dân Pháp cũng không có . Với lòng tham không đáy ,chúng còn đồng lõa với bọn tư bản đỏ bản xứ và tư bản ngoại bang cướp nhà , cướp đất của người dân cần cù làm ăn sinh sống.

Bất chấp những khốn khổ và bất công xã hội đang thật sự xảy ra trên đất nước ,một tên văn nô bồi bút cộng sản, tác giả tài liệu [30] đã đạo chích và lạm dụng lời dạy bảo tâm huyết của Đức Thánh Trần Hưng Đạo, để tuyên truyền cho cái đảng khốn nạn này. Hắn ta đã viết như sau : ’’ Với Bác (Sic) … “giữ nước” còn là toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Bởi nhân dân là gốc của đất nước. Đấy chính là “kế sâu dễ bền gốc” mà ông cha ta truyền lại”.

Gần đây nhất, tên Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam, hỗn danh là Trọng Lú, đã sủa ra : “Đất nước ta chưa bao giờ xinh đẹp thế này”.Thì cũng đúng thôi. Đối với tầng lớp lãnh đạo, trước kia vốn là bần nông, cu li, thiến heo,cạo mủ,chích dạo… nay giàu sụ nhờ tham ô nhũng lạm, mua quan bán chức, bán nước buôn dân, hút máu dân nghèo… thì “chưa bao giờ đất nước xinh đẹp như thế này” phải đúng thôi (tài liệu [31]).

Tài liệu tham khảo :

  1. Bình Nguyên Lộc-Sàigòn Xưa In Ít-Nguồn: Binhnguyenloc.com-Di cảo- Phù Sa số 19- 09/04/1992.
  2. Trang Nguyên -Nghĩa địa ở Sàigòn ngày trước-dòng sông cũ – 19/05/2017.
  3. Mạng manhhai-flickr.
  4. Lệ Phú-Lễ húy nhật HT.Thích Trí Dũng, Thành viên HĐCM- Giác Ngộ Online -06/11/2019.
  5. Nguyễn Duy Vượng- Đền thờ Hưng Đạo Vương giữa TP hcm- Nguồn : ttp://binhthuan.gov.vn .
  6. Bình Nguyên Lộc-Những bước lang thang trên hè phố- Hui Nhị Tỳ 1- Mạng Bảo Vệ Cờ Vàng- 23/09/2020.
  7. From Wikipedia, the free encyclopedia – Charles Chanson.
  8. Adrien-Forum de la guerre d’indochine-Général Chanson-04/08/….
  9. Bách khoa toàn thư -Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
  10. Lễ Truy Tiễn Ht Trí Dũng, Lễ Húy Nhật Ht Tâm Giác- Việt Báo-28/11/2001.
  11. Thích Nguyên Hạnh biên soạn-chùa Phổ Quang.
  12. ICT VietNam-Vụ hành quyết Ngô Đình Cẩn năm 1964.
  13. Bách khoa toàn thư – Ngô Đình Cẩn.
  14. Hình ảnh lịch sử – Vụ tử hình ông Ngô Đình Cẩn năm 1964 – Mạng http://www.hinhanhlichsu.org.
  15. Những công viên, khu dân cư từng là nghĩa trang ở TP hcm- 16/7/2017.
  16. Bách khoa toàn thư -Trần Hưng Đạo.
  17. Vĩnh Khánh -Thông điệp từ lịch sử Trần Hưng Đạo – Một một đời tận trung-15/08/2020.
  18. Hưng Đạo – Hưng Thịnh Đạo Học- Tiểu Sử Trần Hưng Đạo – Hưng Đạo Đại Vương.
  19. Nguyễn Duy Vượng – Đền thờ Hưng Đạo Vương giữa TP hcm.
  20. Vĩnh Nhơn – Đa Kao trong tâm tưởng -Thời Báo số 334 – 23/05/1996.
  21. Lâm Vĩnh Thế – Đakao, miền đất thờ phượng- Sàigòn Xưa – 08/03/2018.
  22. Dạo một vòng Đakao xưa-Ngẫm/Văn hoá/Xưa Dansaigon-08/12/2018.
  23. Các môn võ Việt Nam-Lam Sơn võ đạo-11/08/2015.
  24. Đỗ Trọng Danh -Tượng Trần Hưng Đạo – Bến Bạch Đằng – Sàigòn dòng thời gian – 05/06/2012.
  25. Trung Hiếu -Từ tượng Hai Bà đến tượng Trần Hưng Đạo ‘trấn giữ’ Bạch Đằng- Thanh niên.
  26. Trần Quốc Việt -Tinh thần Trần Hưng Đạo – danlambaovn.blogspot.com.
  27. Bách khoa toàn thư – Lê Duẩn.
  28. Lê Duy San – Trách nhiệm-online-Việt cộng là bọn lính đánh cho thuê Dân tộc.
  29. Đặng Chí Hùng -30/4 – Lấy Gì Để Tự Hào ?
  30. Phạm Tú – Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước- Cổng thông tin điện tử-Tỉnh đoàn Hà Tĩnh-01/04/2020.
  31. Trương Nhân Tuấn – Bàn về “chính trị gia”-12/04/2021.

—>23-Nghĩa trang Chùa Nghệ Sĩ

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975. Bookmark the permalink.

2 Responses to CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Gia Định

  1. pearlharbor2009 says:

    nghĩa trang Đa Minh giờ nằm trên đường Bình Long (thuộc quận Bình Tân), đối diện đường Phú Thọ Hòa (quận Tân Phú), nó tách ra so với khu nghĩa địa Bình Hưng Hòa (góc ngã 4 Bình Long – Tân Kỳ Tân Quý).

    Like

  2. TM says:

    Cám ơn pearlharbor2009 đã bổ túc thêm chi tiết cho bài viết được đầy đủ hơn, hữu ích cho TM và các độc giả khác

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s