KINH NƯỚC ĐEN (Nguyễn Thụy Long): 1…10

Lê Thy đánh máy từ sách do TM gởi tặng:

một

Chiếc xe lô đổ bộ ba Tuyển, Thạnh, Hợp xuống đầu Phú Nhuận. Lúc đó vào khoảng sáu giờ chiều ngày thứ bẩy, xe cộ đông đảo.

Tuyển nhìn bộ quần áo lính trên người mình và các bạn, hắn cười:

– Trông bọn mình thật ngô nghê, nước da đánh “xia-ra” dân Sàigòn đâu có!

Thạnh nhìn thành phố tấp nập, ngậm ngùi:

– Tao tưởng chừng đã xa Sàigòn lâu lắm rồi!

Hợp buồn bã nói:

– Mới hai tháng mấy.

Tuyển nhìn các bạn hỏi:

– Mình chia tay ở đây chứ?

Thạnh nói:

– Nhà tao gần đây, hôm nay ông bà bô biết tao về thế nào cũng làm cơm thiệt ngon, tao mời hai đứa bây về nhà tao ăn cơm rồi tao sẽ lấy Vespa của ông bô đưa từng thằng về nhà!

Hợp hỏi Tuyển:

– Ý kiến mầy sao?

– Tao thế nào cũng được!

Thạnh khoác tay lên vai hai bạn :

– Mình đi !

– Tao thèm một ly cà-phê ngon, tao đã định trước ở Quang Trung khi về tới Sàigòn phải uống một ly cà-phê “ra gì” cho bõ những ngày mình uống thứ cà-phê chó đẻ trong câu lạc bộ của bọn nhà thầu…

Thạnh dễ dãi :

– Đắc-co, tao chiều mầy (hắn nhìn sang Tuyển) còn thằng ông vua ba phải khỏi cần góp ý kiến.

Ba người bạn cười vang, dắt nhau sang đường. Thạnh nhìn Tuyển riễu cợt :

– Vậy mà cái bản mặt cù lần này khi ra trường làm xếp tụi mình đó, chào trung sĩ.

– Thôi dẹp đi, tui bây ra trường là được về đơn vị liền chớ tao còn những mấy tháng đi học căn cứ sình lầy lận..

– Nhưng bảnh, mầy không thấy mấy thằng hạ sĩ, trung sĩ trong Quang Trung hét ra lửa đó sao ? Tao vái trời khi mầy tốt nghiệp hạ sĩ quan rồi mầy đổi về Quang Trung hành lại thằng hạ sĩ già cho tao, đ.m. nó lớn lối quá chừng, nó hành hạ mình chết lên chết xuống.

Hợp chỉ tay vào mặt Tuyển :

– Sau này gặp lại mầy, mầy bắt tao hô cái mửng đó tao bắn mầy bể gáo nghe chưa!

Tuyển chỉ cười, tính hắn vốn đã dễ dãi, hắn không bao giờ to tiếng với ai, bạn bè muốn trêu chọc gì cũng được. Đối với bạn luôn luôn hết lòng dù cực nhọc đến đâu.

Thạnh hỏi :

– Bây giờ mình uống cà-phê ở đâu ?

– Mầy là thổ công ở Phú Nhuận mà không biết sao ?

– Tao chuyên môn uống la-de, à mà theo tao, quán này cũng bán cả cà-phê nữa. Hay lắm, tụi mình sẽ được nhìn em mát con mắt.

Hợp nôn nả :

– Bốc hốt chủt đỉnh được không ?

– Đó là quyền của mầy!

Tuyển theo các bạn vào quán. Quán khá sang trọng. Mấy cô chiêu đãi viên ế khách ngồi cắn hột dưa ở chiếc bàn gần đó. Bọn Tuyển vào quán, các em tưởng vớ món bở vội bu lại mời chào. Khi ngồi yên chỗ, hai cô kéo ghế ngồi luôn bên cạnh :

– Các anh dùng gì, bia 33 nhé!

Tuyển nhìn hai bạn. Cô chiêu đãi viên kia chưa chi đã bóc nem :

– Nem ngon lắm, các anh ăn thử mấy cái ?

Hợp chặn tay cô ta lại:

– Không ăn!

– Vậy anh uống 33?

– Cũng không uống 33 !

– Uống nước ngọt, ăn quít ?

Cô ta toan bóc quít. Hợp bất mãn :

– Chỉ uống ba ly cà-phê đen thôi, lính nghèo không có tiền xài sang.

Hai cô chiêu đãi viên đứng dậy, một cô bảo bạn :

– Mầy vào xem còn cà-phê không bán cho người ta.

Cô này lừng khừng đi vào :

– Không biết có còn không, phải pha thì ngại quá!

Hợp nhìn hai bạn, nhìn theo con nhỏ chiêu đãi viên, văng tục :

– Thật chó đẻ!

Thạnh lầm lì, hắn châm một điếu thuốc lá. Tuyển cúi mặt nhìn xuống bàn, hắn biết hai bạn đang bất mãn vì thái độ tiếp khách của bọn chiêu đãi viên này. Hai tên này không hiền, nhất là Hợp ; hắn dễ nổi nóng, hắn từng bị an ninh trong quân trường hỏi thăm sức khỏe vì tính ẩu tả. Một lần hắn đã cầm nguyên tô hủ tiếu úp vào mặt con mẹ chủ câu lạc bộ chỉ vì mụ nói hỗn. Trong ngày nghỉ phép này Tuyển không muốn có chuyện đó xảy ra, hắn can khéo :

– Hay mình đi quán khác uống vậy ?

Hợp hằn học :

– Không đi đâu hết ; nếu cần mầy với thằng Thạnh về trước đi !

Thạnh nhìn thẳng vào mặt bạn :

– Như bao nhiêu lần khác tao không bỏ mầy.

Tuyển im lặng, Hợp hối thúc :

– Mầy về đi !

Tuyển nhìn sang bàn bên cạnh nơi con bé chiêu đãi viên đang ngồi vắt vẻo cắn hạt dưa. Chiếc mặt bự phấn son câng câng, xấc láo. Ả quay mặt đi chỗ khác khi thấy Tuyển nhìn. Tuyển nói nhỏ :

– Tao không thể bỏ tụi bây !

Hợp đưa tay bắt tay hai bạn :

– Mình sống chết có nhau, hy vọng mình sẽ được về chung đơn vị.

Đôi mắt Thạnh nhìn trừng trừng vào con bé chiêu đãi viên đỏng đảnh :

– Tụi bây đoán thử thuê con đĩ kia một đêm bao nhiêu ?

Hợp nhìn từ đầu đến chân con bé :

– Thượng số, một xín!

Thạnh nhún vai :

– Tao sẽ thuê nó ba xín trả tiền trước ! Tao thì đ… làm gì có tiền nhưng tao khuân của ông bô tao đi mười xín ổng cũng cho liền.

– Thuê làm gì mà mắc quá vậy ?

Thanh cười vỗ vai bạn :

– Sao «trung sĩ» cù lần vậy ?

Hắn ghé vào tai Tuyển nói nhỏ, hắn cười :

– Tao sẽ nhét vô một bi thuốc phiện thôi, em đi đến đâu sẽ thối hoăng đến đó, em chỉ có nước đi ăn mầy cho hết tính xấc láo, đm. đời vẫn thường chơi đểu nhau như vậy đó !

Tuyển nói nhỏ :

– Ác quá mầy ạ!

– Đm. đi với bụt mặc áo cà sa đi với ma mặc áo giấy, mầy đã bao giờ bị đời xử ức chưa ?

Tuyển không trả lời, hắn cúi gằm mặt. Hắn kín đáo nên bạn bè ít người biết đến hoàn cảnh hắn. Nhất là Tuyển lại không muốn ai rõ về mình, hai người bạn đồng ngũ thân nhất của Tuyển, gia đình đều khá giả. Họ chỉ biết Tuyển nghèo, nhưng không biết gia đình hắn ra sao. Tuyển cũng chẳng bao giờ tâm sự…… Tuyển nghĩ chẳng hay ho gì, hắn lì lợm sống, như từ bao nhiều năm nay.

Tuyển lén nhìn hai bạn, mặt chúng lầm lì dễ sợ.

Tuyển nghĩ đến cái phép ngắn ngủi của mình, đến mẹ, anh và cô em gái, đến Hiền, nét duyên dáng và thật thà của nàng. Khu Cầu Muối mà hắn sinh ra ở đó, đến cái chết của cha, nỗi cơ cực của mẹ và anh em hắn.

Con bé chiêu đãi viên ngồi vắt vẻo ca một bài hát rẻ tiền : «Em chỉ yêu có anh binh nhì… dù rằng đồng lương… anh thì rất ít…»»

Mặt Hợp tự nhiên đỏ lên, hắn gằn giọng :

– Con bé này đáng đánh đòn, nó kiêu ngạo mình !

Tuyển cười đểu :

– Nó đáng «măng giê» thuốc phiện lắm, tao hứa với tụi bây tuần sau về đây khi bước chân vào tới cửa quán là đã thấy thối hoăng lên rồi.

Con bé vẫn lải nhải hát. Bài hát đó từng được các em ca sĩ tuyển lựa ở Ngã ba Chú Ía lên Quang Trung ca cho lính nghe. Một bản nhạc mị lính thối nhất thời đại, vô ý thức nhất thời đại được cơ quan tâm lý chiến khai thác để chửi cha lính một cách tận tình. Lính Quang Trung từng nghe đi nghe lại bản nhạc đó quá nhiều, sự bất mãn hằn lên những khuôn mặt rám nắng. Kỷ luật sắt như một vòng đai siết chặt sự nổi loạn.

Hợp nói nhỏ :

– Tao cảm tưởng con bé này lái xe tăng chui vào tai tao pháo kích.

Thạnh so sánh :

– Đại tá Trần Tử từng dộng đầu tao vào thùng phân tao cũng không oán bằng nghe con này ca bài đó.

Vừa lúc đó một tốp bốn người thanh niên vào quán.

Con bé chiêu đãi viên ngừng hát, bật người dậy như chiếc lò xo, nhẩy đến bá cổ một tên :

– Trời ơi cưng, sao lâu quá mới thấy mặt !

Gã thanh niên hôn đến chụt một cái vào má ả :

– Bận !

– Bận cái mẹ gì, bận đi với con đĩ nào phải không ?

Ba gã thanh niên kia cười vang :

– Mầy làm cho em ghen rồi đó!

Bọn chiêu đãi viên tủa ra, mỗi ả co kéo một thằng, chúng bóc nem bóc quít nhồi nhét vào miệng bọn con trai, bia mang ra… Phút chốc, bọn chiêu đãi viên không thèm nhớ đến ba gã tân binh quân dịch đã ngồi đợi cà-phê khá lâu. Bọn chiêu đãi viên và bọn thanh niên vừa ăn uống vừa bốc hốt nhau tưng bừng.

Mặt Hợp hầm hầm, hắn đứng dậy. Tuyển vội níu lại.

Hợp cương quyết gỡ tay bạn ra :

– Trong đời tao chưa từng đánh đàn bà, hôm nay bất đắc dĩ tao phải ra tay.

Tuyển nhìn theo Hợp lo lắng, mặt Thạnh lạnh như tiền. Tuyển tới vỗ vai ả chiêu đãi viên :

– Chờ cà-phê hơi lâu rồi đó cô!

Ả chiêu đãi đang ngả ngớn trong lòng gã con trai, vênh mặt liền :

– Hết cà-phê rồi!

Hợp quắc mắt :

– Không muốn bán sao không nói, hay chê lính ít tiền ?

Ả chiêu đãi phủi phủi vai áo nơi Hợp vừa vỗ vào…

Hợp giận run người, hắn cắn chặt hai hàm răng, hất hàm nói với gã con trai :

– Xin lỗi người anh em, con này hỗn quá, bắt buộc tôi phải khện cho nó một trận !

Dứt câu nói, Hợp túm lấy cổ áo ả chiêu đãi, xốc dậy, đánh liền nột cái tát. Mấy gã thanh niên đứng dậy, một thằng vung tay thoi Hợp. Nhưng một chiếc ghế từ chỗ Thạnh ngồi bay vụt sang. Tiếng đổ vỡ, tiếng la hét. Hợp, Thạnh, Tuyển nhẩy vào như bầy hổ, bọn thanh niên và mấy ả chiêu đãi ngã dồn cục vào một góc tường, chúng không kịp trở tay. Thạnh la lên :

– Đánh chết mẹ chúng nó bây ơi !

Tuyển hăng mau, hắn đá văng mạng, trước mắt chỉ còn nhìn thấy sự căm hờn, uất ức, dồn nén bung ra bằng chiếc ghế đẩu gãy. Dồn nén chất chứa từ bao lâu nay ứ lên cổ bật ra lời chửi bới :

– Bọn bây khinh tụi tao bọn bây chết mẹ ! .

Tuyển bỗng thấy giọng mình lạc đi, mắt mờ đi, hắn như điên cuồng, hắn nghe mơ hồ tiếng bạn gọi :

– Chạy đi Tuyển ơi !

Hắn bị lôi xềnh xệch ra cửa, hai người bạn ù té chạy, Tuyển nghe sau lưng mình có tiếng la chói lói :

– Bắt lấy nó !

Tuyển chạy thục mạng băng qua đường chui vào một ngõ hẻm ngoắt ngoéo, hắn chạy, chạy miết. Hắn kiệt sức, hắn gục đầu vào một góc tường, hắn bật khóc. Khi hắn ngừng khóc, hắn chùi nước nắt. Hắn nhìn thấy hai đứa trẻ bẩn thỉu đứng thô lố mắt nhìn mình. Tuyển nhìn quanh, hắn không thấy bạn đâu, hắn thẫn thờ như người mất hồn. Những giọt nước mắt lâu lắm mới có dịp trào ra, tất cả những bất mãn như vơi đi, niềm thù hận cũng lắng xuống. Hắn bâng khuâng tự hỏi : Mình khóc à ? Tại sao lại khóc ? Mình nổi điên ? Tuyển nhìn hai đứa trẻ bằng cái nhìn dịu dàng :

– Đi chơi các em, có gì đâu mà xem!

Hai đứa nhỏ len lét, chúng quay đi. Tuyển nhìn hai ba đuờng hẻm nhỏ, hắn không nhớ lối nào mình đã chạy vào. Hắn lo lắng cho hai người bạn, không biết chúng ra sao ? Tự nhiên Tuyển phì cười, rõ khỉ, cù lần như mình còn chạy thoát nữa là hai thằng trời đánh đó, chiều mai gặp lại lo gì. Tuyển vẫy đứa nhỏ lại :

– Này em, biết lối nào ra đường không ?

Đứa nhỏ không trả lời, nó chỉ vào một đường hẻm nhỏ rồi lon ton chạy trước dẫn lối. Chỉ một lát sau Tuyển ra tới mặt lộ, Tuyển xoa đầu đứa bé :

– Cám ơn em nhé !

Nó ngửa mặt lên nhìn Tuyển, tay sờ vào bộ quần áo nhà binh của Tuyển, nó ngần ngại một lát mới lên tiếng hỏi :

– Sao ông lính lại khóc ?

Tuyển không biết trả lời sao, Tuyển móc túi lấy một đồng đưa cho đứa nhỏ :

– Cho cưng mua kẹo!

Đứa nhỏ cầm tiền nói :

– Anh hai tui cũng là lính !

– Vậy hả ?

– Má biểu ảnh đi quân dịch!

– Ảnh về phép thường không ?

Đứa nhỏ lắc đầu :

– Lâu lâu, mà ảnh không có khóc, ảnh biểu đi lính không bao giờ khóc, tui lớn tui cũng đi lính như ảnh!

Đứa bé dứt lời, nó lon ton chạy vào ngõ hẻm.

Tuyển chỉ biết đứng nhìn theo đứa bé, hắn thở dài : Mình thật mau nước mắt. Hình ảnh thời thơ ấu sống lại trong trí nhớ của Tuyển : mình vẫn thường ngồi ở cột đèn khóc khi nhìn thấy rổ cá quá ít. Tuyển nhìn vào bàn tay mình, những ngón tay nát, sứt sẹo vì mang cá ngoạm phải mỗi lần giơ tay chụp con cá do người anh ngoái chân đá lại. Những con cá còn tươi lúc ba giờ sáng ở chợ cá Cầu Muối, dẫy đành đạch.. Đó là dĩ vãng của Tuyển, một thằng con nít sống bằng nghề đá cá lăn dưa.

Tuyển nhẩm đếm lại số tiền trong túi áo, hắn mạnh dạn gọi xe về nhà. Tuyển cố thu vào tầm mắt mình những hình ảnh bên đường, Tuyển thấy vui sướng sau ba tháng trời xa cách Saigon.

Ngày Tuyển ra đi, buổi sáng sớm tinh mơ mẹ hắn đưa ra ngoài lộ, bà nắm lấy bàn tay gã con trai ân cần dặn dò :

– Con cố giữ gìn sức khoẻ, mãn khóa về thăm mẹ.

Tuyển nhìn bầu trời mờ mờ tối, nhìn chợ cá, nhìn mẹ. Hắn thở dài, mười lăm năm trước cha hắn đã chết ở đó, vào một sáng tinh mơ như sáng nay. Chiếc giỏ cần xé đầy cá đổ úp lên khuôn ngực còm cỏi của ông. Ông đã nằm xuống bỏ lại vợ và đàn con nheo nhóc. Sự nhục nhằn khốn khó đè nặng trên gia đình này suốt mấy chục năm trời. Hận thù hằn sâu trên mặt người anh cả. Lúc nào Hai Dậu cũng lầm lì, anh nói với Tuyển :

– Tao không quên mối thù này khi còn nhìn thấy vợ chồng thằng Tư Thung.

Tuyển nghĩ đến cái chết của cha, những đồng tiền phúng điếu của bà con lối xóm đã bị vợ chồng Tư Thung vơ vét sạch. Mối thù đó Hai Dậu nhớ mãi. Tuyển còn nhớ đôi mắt căm thù của anh khi nhìn vợ chồng Tư Thung dành giật trên tay mẹ hắn. Đôi mắt hắn mở lớn, không một giọt nước mắt, tiếng nói rít qua hàm răng :

– Tao sẽ giết vợ chồng nó, khi tao cầm nổi con dao !

Cho đến bây giờ mười lăm năm qua. Tuyển còn ớn khi nhớ lại lời nói của anh.

Chiếc xe đậu lại ở chợ Cầu Ông Lãnh. Tuyển xuống xe, lòng hắn nao nao. Buổi tối xe cộ đông đảo, hắn muốn băng qua đường ngay để về nhà. Chờ đợi mãi Tuyển mới băng được qua đường, hắn chạy nhanh vào những chiếc lều cất dọc theo mé sông. Hắn ngạc.nhiên vì những chiếc lều đó đã thay đồi vị trí. Căn lều của gia đình Tuyển không còn ở chỗ cũ. Trên nền đất đó một gia đình khác đã chiếm chỗ. Tuyển đứng bần thần, gặp một người lạ, Tuyển vội níu lại hỏi :

– Xin ông vui lòng cho biết gia đình bà Sáu Họ bây giờ dời đi đâu ?

Người đàn ông băn khoăn :

– Ở đây đông quá tôi làm sao rõ được, cách đây khoảng hai tháng nhà nước giải tỏa khu này, các nhà cửa ở đây mỗi người đi một phương, một số liều lĩnh cất lều ở lại, chưa biết bao giờ họ lại giải tỏa…

Tuyển đành quay ra, hắn bồn chồn, không biết mẹ, anh và các em ở đâu. Tuyển đi dài theo Cầu Ông Lãnh, hy vọng gặp một người quen để hỏi thăm.

Tuyển gặp thằng Chín Sún đang bê mẹt đậu phọng rang đi lang thang ngoài đường. Chín Sún reo lên

– A anh Tuyển, chà đi lính le quá ta.

Tuyển vội vàng nắm lấy vai nó hỏi :

– Mầy biết má tao ở đâu không ?

– Từ hôm giải tỏa đến giờ không biết bả ở đâu,nhưng tôi có gặp loanh quanh đây hoài…

Thằng Chín Sún vỗ trán ra điều suy nghĩ :

– À tôi nhớ ra rồi, hình như hồi nãy tôi có nhìn thấy anh Hai Dậu ngồi nhậu trong quán, theo tôi.

Chín Sún kéo Tuyển đi, tới quán hắn nghiêng ngó nhìn, reo lên:

– Ảnh kìa!

Tuyển quên cả cám ơn thằng Chín Sún, vội chạy vào quán. Hai Dậu ngồi ở chiếc bàn trong cùng, trước ly Vĩnh Sanh Hòa đã vơi phân nửa. Hai Dậu chậm chạp ngó lên:

– Mầy mới về à ?

Tuyển ngồi xuống đối diện anh :

– Gia đình mình bây giờ ở đâu ?

Hai Dậu không trả lời vào câu hỏi :

– Mầy uống gì không ?

– Tôi hỏi má bây giờ ở đâu ?

– Khoan, chuyện đâu có đó !

Hai Dậu chậm rãi uống rượu, hắn nhìn em bằng cái nhìn lầm lì, lạnh lùng cố hữu, đôi mắt ngầu đỏ :

– Mầy đen quá, đời sống ra sao ?

Tuyển đang nóng ruột vì muốn biết tin gia đình nhưng thấy anh bình thản nên đỡ lo lắng, Tuyển biết tính anh, hắn trả lời nhát gừng :

– Thường vậy thôi !

Tuyển nhìn lại anh, vẻ mặt Hai Dậu trầm ngâm, giọng nói thấp xuống :

– Mầy cố gắng nên người nghe chưa, má chỉ trông cậy vào mỗi mình mầy, trong số anh em coi như bỏ hết, chỉ còn mình mầy đáng cho má tin cậy.

Tuyển biết anh mình nói tới câu đó tức là anh đã xúc động lắm, suốt hai mươi năm trời sống cạnh anh, lần này là đầu tiên Tuyển nghe anh nói được một câu đầy nghĩa lý, chan hòa tình thương yêu. Tuyển ngập ngừng :

– Còn anh, chị ba, anh tư… con út.

– Bỏ, bỏ hết, kể cả tao.

Mắt Hai Dậu đột nhiên trở nên dữ tợn, hắn nhìn ra một góc quán. Tuyển nhìn theo ở chiếc bàn tròn một bọn năm người đang ngồi nhậu nhẹt cười cười nói nói, Tuyển nhận ra tên Tư Thung, tên chuyên môn cho vay tiền đứng cũng ở trong bọn đó, hắn bận bộ pi-da-ma trắng. Miệng hắn ngậm chiếc ống đót răng beo bịt vàng y.

Đột nhiên thấy Hai Dậu ngừng lời. Hắn nhìn ra phía Tư Thung rồi nhìn xuống bàn tay mình, hắn co ra nắm vào, buồn bã lắc đầu :

– Tao đã cầm nổi con dao từ năm năm nay. Hừ, vậy mà…

Tuyển biết anh đang nghĩ gì, đột nhiên Tuyển nắm lấy tay anh :

– Anh, anh nghe tôi, chuyện đó xưa rồi…

Hai Dậu ngó Tuyển đăm đăm :

– Mầy nói sao, xưa rồi ?

Hai Dậu bỗng cười khanh khách, hắn uống một hớp rượu :

– Tao đã nói với mầy, mẹ không nhờ vả gì được ở tao hết. Tao nói bét ra là tao đã đổi đứt cái mạng tao cho cả nhà Tư Thung.

Lời nói của Hai Dậu sắc và lạnh. Hắn dằn ly rượu xuống bàn. Tuyển vội níu tay anh :

– Anh định làm gì bây giờ!

Hai Dậu bình tĩnh trở lại :

– Tao không làm gì bây giờ hết, tao không dại giết một đứa, phải có đủ mặt vợ con nó kia.

Tuyển nhìn anh van nài :

– Anh say rồi!

– Tao không bao giờ say, vì tao còn biết suy nghĩ.

Tuyển cố năn nỉ :

– Thôi, anh uống nốt rồi đưa tôi về nhà đi !

Hai Dậu nâng ly Vĩnh Sanh Hòa lên, nhìn vào đó rồi uống cạn. Hắn khà một tiếng, đặt chiếc ly đến cộp xuống bàn :

– Tao chưa đã, nhưng thôi. Ủa, mầy không uống gì sao ?

Tuyển cười :

– Không thiết uống gì hết, tôi nóng thấy má !

Hai Dậu cười bí mật, dằn tờ giấy năm đồng xuống chiếc ly, đứng dậy thân mật khoác vai em :

– Mầy nóng gặp con Hiền lắm phải không, nhà nó cũng ở gần nhà mình.

Hai anh em ra khỏi quán. Vừa đi Hai Dậu vừa hỏi chuyện lính tráng của Tuyển. Tuyển tâm sự :

– Khổ thì có khổ thiệt, nhưng đối với tôi thì ăn thua gì. Chỉ mấy thằng nhà giàu quen ăn sung mặc suớng mới than trời như bọng, còn hạng mình có cơm ăn là may rồi…

Tới một quầy thuốc lá, Tuyển đứng lại mua một gói thuốc lá đưa cho anh :

– Tỏi biếu anh.

Hai Dậu ngạc nhiên :

– Đi lính mà có tiền nhiều vậy sao ?

Hai Dậu chỉ vào xấp giấy trăm trên tay Tuyển, Tuyển cười :

– Hai tháng lương đó, tôi lĩnh «rắp bèn» !

– Bao nhiêu ?

– Trừ tiền cơm đi còn hơn một ngàn, tôi mang về cho má mấy bò !

Hai Dậu gật gù :

– Tao đã biểu mà, má chỉ còn trông cậy vào có mình mầy, mầy là người có học có bằng cấp. Ra khỏi Quang Trung mầy được lon gì ?

– Còn đi Nha trang học trường hạ sĩ quan thêm mấy tháng nữa, nếu thi đậu ra trung sĩ.

Hai Dậu bóc thuốc hút, hắn ngẫm nghĩ :

– Có được đội kết không ?

– Theo đúng điệu ra thì được đội đó, nhưng tôi chắc không đội ?

– Sao không, đội kết coi le chứ mậy. Con Hiền mà thấy mầy đội kết nó mết mầy bằng chết.

Nói xong Hai Dậu cười vang, hắn nói nhỏ lại :

– Chắc bây giờ con Hiền không có nhà, nó đi bán ngoài bờ sông, lát mầy ra đón nó. Ừa, bận bộ quần áo lính này cho le. Đ.m. mấy tháng nữa mầy lên tới chức trung sĩ lận, con Hiền tha hồ lấy le, má đi khoe cùng khắp xóm. Trong xóm mình có mấy thằng lính binh nhì mà phách lối quá chừng.

Tuyển vui lây cái vui của anh, hắn hòa vô :

– Tôi sẽ bắt tụi nó chào tôi cụp cụp !

Hai Dậu cười vang :

– Phải đó, cho tụi nó biết tay.

Hai anh em đã về đến xóm. Hai Dậu đưa em vào một con hẻm nhỏ, giắt em đi qua những vũng lội bẩn thỉu, những túp lều mới cất nằm vô trật tự ở lối đi. Tuyển đã quá quen mắt với cảnh nhà cửa kiểu này. Nhiều căn nhà không ra hình thù, chỉ là một chiếc giường gỗ, bốn góc cắm bốn chiếc cọc, phía trên che mái lá, xung quanh quây bằng đủ thứ vật liệu nhặt được, từ một tấm cạc tông, một miếng tôn.

Tuyển nhìn thấy ánh đèn tù mù trong những túp lều, một vài tiếng nói chuyện, một câu ca vọng cổ buồn rười rượi, tiếng trẻ con khóc choe choé, tiếng ầu ơ, tiếng cằn nhằn. Tuyển tìm thấy âm thanh quen thuộc đo, khung cảnh đó, mùi vị đặc biệt đó. Tuyển bỗng thấy lòng mình ấm lại, mình đã sinh trưởng ở đây, giữa chốn bùn lầy nước đọng này.

Tới trước một căn lều lụp xụp, Hai Dậu đứng lại:

– Nhà mình đó !

Tuyển đứng lặng người, hắn nói nhỏ

– Tôi không nhận ra nữa, anh vào với tôi không ?

Hai Dậu quay lưng đi :

– Tao chuồn !

Tuyển giở tấm liếp lách mình vào nhà. Căn nhà chỉ kê đủ một chiếc giường và một chiếc bàn con đóng bằng gỗ thùng sữa bò. Trên bàn có khung hình ám khói của cha Tuyển, một cái bình cắm nhang bằng lon sữa bò, cây nhang đã cháy được hơn phân nửa. Chiếc đèn hột vịt chiếu ánh sáng lờ mờ. Trên chiếc giường mùng buông sùm sụp. Tuyển nghe đâu đây tiếng muỗi đói kêu vo vo.

Tuyển vặn to ngọn đèn dầu, hắn ngó vào mùng gọi nhỏ :

– Má, má ơi !

Trong giường có tiếng trở mình, tiếng một người đàn bà yếu đuối vọng ra hỏi :

– Đứa nào đó ?

– Con, Tuyển đây má !

Dứt lời Tuyển vén mùng chui vào. Bà Sáu Họ đã ngồi dậy, bà mừng rỡ lập cập nói :

– Trời mầy. Tuyển, mầy về hồi nào vậy ?

Tuyển nắm lấy tay mẹ cảm động :

– Con về từ chiều, nhưng sẩm tối mới tới đây, cảnh vật thay đổi quá, may gặp anh Hai…

– Ù! Hồi tháng trước nhà nước giải tỏa… Anh Hai mầy dựng nhà đại ở đây, chưa biết lúc nào họ làm nữa.

Bà Sáu Họ sờ nắm bàn tay chai cứng của con :

– Mầy đen đi nhiều, nhưng khoẻ, nhờ Trời Phật…

Tuyển thấy mẹ sụt xịt, hắn sờ tay lên trán mẹ :

– Má sao vậy ?

– Tao cảm xoàng thôi !

Bà mò trền đầu giường kiếm chai dầu cù là quệt, bôi lên hai bên thái dương :

– Cứ bao giờ mưa nắng thất thường là tao lại bị đau vặt.

Bà Sáu Họ hỏi chuyện lính tráng của con, bà chép miệng :

– Tao tính mấy lần lên thăm mầy, nhưng rồi bận chuyện nọ sang chuyện kia…

Tuyển móc túi lấy tiền đưa cho mẹ :

– Con biếu má !

Ba Sáu Họ mở to mắt nhìn vào những tờ giấy trăm, giọng bà như lạc đi :

– Cái gi vậy, tiền à, mầy lấy đâu vậy ?

Tuyển mỉm cười :

– Con không lấy đâu hết, tiền lương con không tiêu đến.

– Lính mà lương vậy sao ?

– Có hơn một ngàn, con lãnh «rắp bèn» hai tháng lương.

Bà Sáu Họ cảm động, bà nhìn Tuyển, bà ngần ngại :

– Mầy cho tao rồi lấy gì mà tiêu ?

– Trong lính người ta lo đủ mà má !

– Ăn uống sướng không?

Tuyển cười :

– Lính mà lấy đâu ăn sướng, nhà thầu cho ăn sao chịu vậy, cũng có thịt có cả, má biết cá mối chớ, họ mua hàng tấn cá cho vô thùng phuy nấu quậy nát lên mình múc ra «gào mèn» ăn với cơm, mệt nên ăn vẫn thấy ngon.

Bà Sáu Họ an ủi con :

– Ừa, họ cho ăn vậy cũng là sung sướng lắm rồi !

– Có nhiều thằng nhà giầu ăn không nổi phải đi ăn câu lạc bộ, mình con nhà nghèo nên ăn được tuốt.

– May mà mình nghèo ăn uống kham khổ quen rồi !

Tuyển bỗng nhớ ra một chuyện, khoe với mẹ :

– Cách đây hai hôm tụi con ăn một bữa ngon hết sức má à, có gà rô-ti, thịt quay, cơm trắng, canh nấu giò heo và ăn chuối tráng miệng.

– Tụi bây có công ơn gì với nhà nước mà họ cho ăn ngon như vậy ?

– Lính tráng sức mấy mà công ơn, hôm ấy có ông trung tướng lên thăm, ông ăn cơm với bọn con. Bọn con được ăn sướng một bữa.

Thấy mình nói chuyện với mẹ hơi lâu, Tuyển đỡ mẹ nằm xuống :

– Má ngủ đi, con ra ngoài này chơi một chút đã.

Bà Sáu Họ cầm hơn ngàn bạc trong tay, bà sướng run lên :

– Ừa, mầy đi chơi rồi về sớm nghen, lát biểu anh hai mầy kiếm chỗ ngủ cho. A mầy cần lấy lại hai trăm xài không ?

Tuyển vặn nhỏ ngọn đèn, quay lưng ra cửa

– Thôi khỏi, con còn đây !

Bà Sáu Họ nằm xuống, bà sung sướng quá, bà không thể nào ngủ nổi, chưa bao giờ bà thấy thương yêu con như lúc này, trong ấy anh em chỉ có thằng Tuyển là khá nhất. Nó hiền lành, thật thà, và nhất là rất thương mẹ

Sau khi ông Sáu Họ chết đi, gia đình quá cùng quẫn, các con còn nhỏ sống nheo nhóc, vậy mà trời sanh voi trời phải sanh cỏ. Thằng Tuyển chỉ được học biết đọc biết viết rồi nó không biết nhờ ai chỉ bảo mà học đến có bằng cấp. Nó phải theo các anh kiếm sống hồi còn để chỏm.

Bà Sáu Họ suy nghĩ miên man, bà không thể nào ngủ được. Bà lò mò ngồi dậy thòng chân xuống giường tìm guốc. Bà ra bàn thờ chồng đốt thêm một nén nhang, bà lầm bầm khấn vái chồng.

Ngọn khói nhang uốn éo vờn qua khung hình ông Sáu Họ đã ố màu, bà Sáu Họ không thể nào quên được người chồng đó. Người đàn ông miền Bắc bỏ làng bỏ nước vào Nam làm phu cạo mủ cao su qua bao nhiêu đồn điền. Bà Sáu Họ đã gặp người đàn ông đó ở đồn điền Dầu Tiếng. Hai người chấp nối với nhau, ông Sáu Họ thường nói :

– Không lẽ mình chịu cùng đời ở đây sao ? Mình phải về Saigòn mới có thể khá được.

Khói nhang tản mác trong căn nhà nhỏ, bà Sáu Họ trằn trọc mãi không ngủ được. Những con muỗi đói bay vo ve ngoài mùng. Bà nghe tiếng sóng vỗ ì ọp ngoài con kinh. Tất cả những âm thanh đó bà nghe quen thuộc, bà đã nghe âm thanh đó từ mấy chục năm trời nay, từ khi bà còn là gái đôi mươi. Bà mường tượng thấy hình ảnh ông Sáu Họ. Người thanh niên hiền lành lưu lạc từ miền Bắc vào đây gá nghĩa với bà. Hai vợ chồng bỏ đồn điền cao su Dầu Tiếng về đây.

Hình ảnh buổi sáng nào ông Sáu Họ ra đi, hiện ra rõ mồn một trong đầu óc bà. Ông thắt chiếc thắt lưng da có móc sắt, ông đứng nhìn năm đứa con nhỏ ngủ say trong giường. Hồi đêm qua ông lên cơn sốt, bà Sáu lo ngại :

– Mình coi có chịu đựng nổi không, em lo quá.

– Anh cố gắng, không nổi cũng phải nổi, vợ chồng thằng Tư Thung đêm qua làm dữ quá anh chịu muốn không nổi. Mình cứ làm việc, nó thấy, nó yên trí mình còn có thể trả nợ được cho nó. Nó chửi bới vợ chồng mình hoài có ngày anh giết nó.

Bà Sáu Họ trở dậy vét trong túi mấy đồng bạc lẻ đưa cho chồng :

– Anh cầm lấy đi uống cà-phê !

Ông Sáu Họ ra khỏi nhà, trời vẫn chưa sáng rõ. Đêm qua một trận mưa đổ xuống, đường sá lầy lội bẩn thỉu, ông Sáu Họ nghe lạnh căm căm, ông thu hai vạt áo vào ngực, run rẩy đi. Hình như cơn sốt lại muốn kéo đến, ông thấy người váng vất khó chịu. Ông tự nhủ, mình uống một ly cà-phê cho tỉnh táo.

Tới quán cóc, Sáu Họ đã thấy bạn bè đông đủ, những khuôn mặt khắc khổ phong trần. Họ bàn tán về những xe cá sẽ xuống chợ trong lát nữa. Sáu Họ ghé xuống ngồi cạnh, kêu một ly cà-phê đen nhỏ, ông xé chiếc bánh tiêu chấm vào cà-phê ăn lót lòng. Người bạn ngồi đối diện hỏi :

– Mầy hết bịnh rồi sao ?

Sáu Họ chán nản trả lời :

– Không hết cũng phải đi làm, tối hôm qua vợ chồng Tư Thung đến nhà tao chửi bới quá !

Gã đầu dọc khuân vác bỗng trở nên tử tế :

– Hôm nay tôi để cho anh mấy giỏ cần xé !

– Dạ cám ơn thầy !

Gã đầu dọc nháy mắt :

– Tối cho tôi đi nhậu một mách là êm !

– Dạ, em lãnh được tiền đâu dám tiếc thày.

Sáu Họ, khấp khởi mừng trong bụng. Sau chầu cà-phê, đám cu-li kéo nhau ra chợ cá. Ở đó, một tốp phu khuân vác đã ngồi chờ sẵn.

Những chiếc xe cá nối đuôi nhau chạy tới, đám phu tủa ra. Gã cai cu-li la hét om xòm. Sáu Họ được xếp vào đám người khuân vác. Một số không có việc chán nản ra về.

Sáu Họ bỗng thấy chóng mặt, anh lo lắng, anh vận động chân tay cho người nóng lên. Nhưng anh chỉ thấy chân tay bủn rủn. Tai Sáu Họ ù đi, Sáu Họ vịn vào vai một người bạn. Anh này hỏi :

– Mầy làm sao đó Sáu Họ ?

Sáu Họ sợ mất chỗ, chối :

– Không có sao đâu !

Người bạn chửi thề :

– Đm. giờ này còn buồn ngủ sao mầy ..

Gã cu-li đang la hét chửi bới um sùm. Đám phu khuân vác lần lượt đi lên chiếc cầu ván bắc xeo xéo lên cam nhông. Từng giỏ cần xé cá được chuyển xuống một cách gọn gàng. Những giỏ cá được chuyền nhanh vào chợ, một vài con cá rơi ra ngoài, những đứa trẻ đứng chực sẵn nhẩy xổ đến tranh cướp nhau. Con cá bị đá bắn đi như trái banh, một thằng đứng xa chụp gọn lấy đút vào chiếc giỏ đeo trước bụng….

Gã cai cu-li la hét, tay cầm chiếc roi đuôi cá đuối quất túi bụi vào bọn trẻ. Khung cảnh đó quá quen thuộc ở Chợ Cá này mỗi buổi sáng.

Một đứa trẻ bị tát văng ra một góc nó ngồi dậy xoa má rồi lại nhào tới cướp cá, lần này nó cướp ngay trong giỏ, bất chấp cả những làn roi cá đuối quất vun vút vào lưng. Hai tay nó cầm hai con cá lóc lớn chạy thục mạng vào đường hẻm trongg chợ. Gã cai cu-li đứng chỉ theo chửi bới :

– Đm. mầy còn vác mặt tới đây tao đánh chết mẹ luôn. Đi luôn nghe mậy !

Gã cai quay lại la hét đám cu-li :

– Lẹ lên, đm. coi gì vậy ?

Sáu Họ run rẩy leo lên thang, chiếc thang ướt nước mưa trơn trượt. Sáu Họ cố bấm ngón chân xuống để cho khỏi té. Đầu óc anh lúc này váng vất lạ thường. Giỏ cần xé cá được móc vào cái quai ở bụng anh để khỏi tuột. Sáu Họ có cảm tưởng giỏ cá hôm nay nặng gấp đôi gấp ba ngày hôm qua. Anh phải cố sức lắm mới nâng được giỏ lên. Gã cai cu-li thúc hối :

– Đm. lẹ lên, ai hơi sức đâu mà chờ nhà anh !

Sáu Họ thấy đầu óc mình choáng váng, anh muốn buông ngay giỏ cá, nhưng nghĩ đến con nợ, nỗi nhục nhằn, Sáu Họ rướn người lên nâng bổng giỏ cá.

Gã cu-li thấy Sáu Họ đứng lại bèn la um sùm :

– Đm. xuống đi chớ !

Mắt Sáu Họ hoa lên, chân tay bủn rủn. Anh nhìn xuống dưới xe, anh thấy mặt đất xa thăm thẳm. Anh thoáng nghĩ đến hình ảnh vợ, những đứa con nhỏ dại, vợ chồng Tư Thung chủ nợ. Anh cố gắng nhích bước chân. Anh bước xuống cái thang mà thấy trời đất tối sầm lại. Anh rơi hững. Chiếc giỏ cần xé đựng đầy cá đã đập nát ngực nạn nhân.

Bà Sáu Họ trở mình, hai mươi năm qua rồi, bà vẫn còn nhớ như in buổi sáng hôm ấy.

***

—>Xem tiếp

This entry was posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Thụy Long. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s