SAIGON, NIỀM NHỚ KHÔNG TÊN (Hoàng Yên Lưu)

-1-

Có người cho rằng “Phương nam thuộc Quẻ Ly. Việt Nam là phương nam thuộc Quẻ Ly nên trường kỳ đối kháng với phương bắc thuộc Quẻ Khảm. Thế mà Sàigòn là trung tâm của phương nam, trở thành nơi phát ra nguồn sáng và từ đó ánh sáng rạng ngời khắp nước.”

Lệ Thần Trần Trọng Kim, bị Nhật giam lỏng ở Bangkok rồi đưa về Sàigòn để chuẩn bị ra Huế theo lời mời của Bảo Đại thành lập chính phủ vào ngày 01 tháng 04, 1945. Trong mùa viêm nhiệt của Sàigòn lúc ấy, bị bó buộc tham chính, cụ đã liên tưởng tới Quẻ Ly và chọn nó tiêu biểu cho quốc kỳ buổi đầu.

“Ly trung hư” hay “quẻ ly rỗng giữa”. Sàigòn chính là hào âm ở giữa Quẻ Ly và nhờ được bao bọc bởi hai hào dương nên ánh sáng phát ra điều hòa, nuôi sống muôn loài, muôn hoạt động chứ không thiêu đốt mọi vật. Nhận xét trên về mặt văn học cận đại và hiện đại không sai.

Sàigòn từng là cái nôi văn học và từ nơi này nền tân văn học lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện sáng tác đã phát triển rộng ra cả nước.

Tờ báo đầu tiên của chúng ta là tờ Gia Định Báo. Gia Định Báo có số đầu phát hành vào 01-04-1865 do Ernest Potteaux làm chủ bút nhưng vào 16 tháng 09, 1869 người Pháp giao tờ báo này cho học giả Trương Vĩnh Ký chủ trương. Học giả đã biến tờ báo đang mang tính cách thông tin hành chính phục vụ cho chính quyền thuộc địa thành ra một tờ báo với mục đích: Truyền bá và khuyến khích học chữ quốc ngữ và mở mang kiến thức khoa học Tây phương.

Tờ báo quy tụ được nhiều cây viết xuất sắc về cả hai nền cổ học và tân học như Tôn Thọ Tường, Trương Minh Ký và Huỳnh Tịnh Của.

Trương Vĩnh Ký cũng là người đầu tiên dùng chữ quốc ngữ để sáng tác các tác phẩm Chuyện đời xưa (1886), Chuyện khôi hài (1882 ), và viết hồi ký như Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ầt Hợi (1876). Ông cũng là người dùng chữ quốc ngữ soạn tự điển Pháp Việt và dịch và chú thích rất nhiều tác phẩm Hán-Nôm.

Tuy nhiên, bộ tự điển Đại nam Quốc âm Tự vị, kho tài liệu tiếng Việt đầu tiên có quy mô và giá trị tham khảo, bên chữ Việt còn kém chữ Nôm, lại là của học giả Huỳnh Tịnh Của (hai tập xuất bản vào 1895- 1896). Huỳnh Tịnh Của cũng là cây bút mở đường cho văn học chữ quốc ngữ, ngoài việc biên soạn tự điển ông còn dùng chữ quốc ngữ để sáng tác bộ Chuyện giải buồn (1880-1885), và dùng nó biên khảo và truyền bá văn hóa mới.

Hai học giả đã có công dùng quốc ngữ hiệu đính, dịch thuật nhiều tác phẩm cổ văn và truyền bá khoa học thường thức cho độc giả. Những công trình của Pétrus Ký và Paulus Của trong văn học chữ quốc ngữ, đã tạo ảnh hưởng không nhỏ tới các phong trào truyền bá chữ quốc ngữ và duy tân của Đông kinh Nghĩa thục, của Đông Dương tạp chí (1913) và Nam Phong tạp chí (1917) ở Hà Nội hồi đầu thế kỷ XX.

Nói tới báo chí có chuyên đề nữ giới cũng phải kể Sàigòn dẫn đầu. Nhà báo nữ giới đầu tiên chính là bà Sương Nguyệt Anh với tờ Nữ Giới Chung ra đời năm 1918.

Khi văn học chữ quốc ngữ phát triển tới đỉnh cao thì ở Hà Nội tuy có báo phụ nữ nhưng uy tín hơn cả và lâu dài hơn cả lại là tờ Phụ Nữ Tân Văn (1929-1935) ở Sàigòn do bà Nguyễn Đức Nhuận làm chủ nhiệm và Đào Trinh Nhất làm chủ bút.

Ngày nay có thói quen, cuối năm cũ đầu năm mới các báo đua nhau ra báo xuân. Báo xuân ở Việt Nam cũng khởi từ miền Nam với các số Xuân Đông Pháp Thời báo của Diệp Văn Kỳ xuất hiện năm 1928, tờ Xuân Phụ Nữ Tân Văn 1930 và tờ Xuân Thần Chung năm Canh Ngọ 1930 của Diệp Văn Kỳ và Nguvễn Văn Bá.

Đặc biệt tờ Xuân Thần Chung quy tụ được các khuôn mặt lớn trên văn đàn lúc bấy giờ ở khắp ba miền như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Phan Văn Hùm và Bùi Thế Mỹ.

Ta hãy nghe nhà báo Ngô Tất Tố khai bút trên tờ Đông Pháp trong một số xuân tiễn năm Ngọ qua, đón năm Mùi tới:

Vía ngựa qua rồi, vừa dê tới.
Nắng xuân êm dịu, gió xuân thổi,
Dưa hành giò mỡ, tiệc vừa tan
Đông Pháp đã ra báo năm mới
Khai bút tiếp tục “Chuyện hàng ngày”
Phận sự phải đủ một cột đầy
Tiện thể, xin chúc dân cả nước
Trời Phật phù hộ từ năm nay!

Phong trào Thơ Mới sôi nổi ở miền Bắc nhờ quy tụ được nhiều nhà thơ tài ba và có các nhóm Tự Lực Văn Đoàn và Tân Dân hỗ trợ. Nhưng không mấy ai quên ở Sàigòn, vào lúc Thơ Mới còn son trẻ, một phụ nữ đơn thương độc mã, lên diễn đàn tranh đấu cho Thơ Mới, sáng tác Thơ Mới và đả kích phe bảo thủ còn ôm mộng phục hồi thơ cũ. Người nữ lưu nổi tiếng thời đó thuộc giới tân học, có bút hiệu là Nguyễn thị Manh Manh (tên thực là Nguyễn Thị Kiêm), và từng là bỉnh bút của tờ Phụ Nữ Tân Văn, đã đăng đàn hai lần tại Hội Khuyến Học Sàigòn vào các năm 1933 và 1935 để bênh vực Thơ Mới. Ta hãy nghe Nguyễn thị Manh Manh vào năm 1933 trên tờ Phụ Nữ Tân Văn hô hào canh tân trong thơ ca:

Đất trước để yên, đất sau lo xới
Đất mới thì ít khô khan hơn đất dụng rồi
Rủ nhau khai phá, cất thêm sở mới
Nếu thật tình mong cây thơm mọc nhánh đâm chồi!

Cũng cần nói riêng về tờ Nữ Giới Chung, tờ báo đầu tiên về phụ nữ và do một nữ lưu chủ trương. Nữ Giới Chung có nghĩa là “tiếng chuông của nữ giới.”

Tờ báo độc đáo này phát hành số ra mắt vào ngày 1-2-1918, giá mỗi tờ 40 xu. Báo gồm 18 trang thì có 8 trang quảng cáo, nội dung bàn nhiều về luân lý, cách sống và cách buôn bán… Tờ báo này do một người pháp là Henri Blanquière chủ trương và Blanquière đã mời Sương Nguyệt Anh làm chủ bút. Tuy tờ báo chỉ thọ khoảng một năm nhưng tiếng vang khá rộng và mở đường cho nữ giới vào trường ngôn luận và hoạt động xã hội.

Sương Nguyệt Anh, do ghép chữ “sương phụ” hay quả phụ, với chữ “Nguyệt Anh” là tên hiệu mà thành. Bà tên thực là Nguyễn thị Khuê hay Ngọc Khuê, sinh năm 1864 và là con của thi hào Nguyễn Đình Chiểu.

Năm 24 tuổi, Ngọc Khuê kết hôn với vị phó Tổng Nguyễn Công Tính ở Mỹ Tho và sau đó sanh được một người con gái đặt tên là Nguyễn Thị Vinh. Hạnh phúc chẳng được bao lâu thì người chồng tạ thế. Kẻ tài hoa gặp bước truân chuyên chỉ còn biết than thở nỗi lòng:

Năm canh thức giấc… năm canh những
Nửa gối so le, nửa gối chờ.
Vườn én rủ ren trên lối cũ,
Canh gà xao xác giục tình xưa!

Người phụ nữ có truyền thống Nho học này đã thủ tiết thờ chồng nuôi con và đã bộc lộ ý nguyện của mình trong biệt hiệu Sương Nguyệt Anh và trong một bài thơ vịnh mai có tên là “Thưởng bạch mai” ở Điện Bà như sau:

Non linh đất phước trổ hoa thần,
Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân.
Tuyết đượm nhành tiên in sắc trắng,
Sương sa bóng Nguyệt ánh màu ngân.
Mây lành gió tạnh nương hơi nhánh,
Vóc ngọc mình băng bặt khối trần.
Sắc nước hương trời non cảm mến,
Non linh đất phước trổ hoa thần.

Nhưng là giai nhân, lại là một Kiều Nguyệt Nga của thời đại Nho học suy tàn, nên biết bao vương tôn rắp ranh “bắn sẻ” lòng sương phụ. Tuy nhiên, cô Ngọc Khuê quyết không bước đi bước nữa và bỏ mặc những lời ong bướm của khách đa tình trong vùng, vì mê sắc tài của nữ sĩ nên đã nhiều lần dùng thơ văn để ướm lòng như trong bài thơ dưới đây:

Ai về nhắn với Nguyệt Anh cô:
Chẳng biết lòng cô tính thế mô?
Không phải vãi chùa toan đóng cửa,
Đây hòng gấm ghé bắc cầu ô

Lời thơ có vẻ đùa cợt nhưng nữ sĩ vẫn bình thản, trả lời bằng giọng thanh nhã với những câu “thơ họa”, tài tình về ý, về vần lại tràn đầy nghị lực giữ vững lập trường:

Chẳng phải tiên cô, cũng đạo cô,
Cuộc đời dâu bể biết là mô?
Lọng sườn dù rách còn kêu lọng,
Ô bịt vàng ròng tiếng cũng ô

Đáp lại câu hỏi đùa “Không phải vãi chùa toan đóng cửa,” nữ sĩ khẳng định “Chẳng phải tiên cô cũng đạo cô,” và cho kẻ đùa cợt biết “lọng” rách vẫn giữ giá của “lọng”. Chữ “ô” có hai nghĩa ngoài chỉ “cái ô” còn có nghĩa là “làm dơ bẩn” như trong chữ “ô danh”. Nữ sĩ ám chỉ, ô dù bề ngoài có bằng vàng đi nữa, mình quyết không chọn vì như thế sẽ làm danh tiết.

Cũng để bày tỏ gan vàng, dạ sắt trước những lời ong bướm của khách tài tử trong vùng, nữ sĩ còn họa bằng một bài khác như sau:

Phải thời cô quả, chịu thời cô,
Chẳng biết tuồng đời tính thế mô?
Dòm thấy bụi trần toan đóng cửa,
Ngọc lành chỉ để thẹn danh ô.

Chỉ bốn câu nữ sĩ đã cho thế nhân biết lòng mình rằng số mệnh bắt mình cô quả thì cam chịu cô quả chứ không muôn bụi trần làm lấm tấm thân, chẳng vì bả vinh hoa, lạc thú của cõi đời mà nhơ chất ngọc.

Người đàn bà phi thường này vào năm 1922 (tuổi 58 đã từ trần – như trên mộ bia ở Ba Tri ghi) sau khi làm tròn tâm nguyện và trở thành một trong những tấm gương tiết hạnh cuối cùng của nền luân lý cũ mà thân phụ là Cụ Nguyễn Đình Chiểu đã ca tụng trong Lục Vân Tiên.

Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình!

—>Xem tiếp

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.

4 Responses to SAIGON, NIỀM NHỚ KHÔNG TÊN (Hoàng Yên Lưu)

  1. Vinh danh những người có công phát triển chữ quốc ngữ thuở ban sơ non trẻ Bài viết giá trị cho giới trẻ hôm nay tra cứu. Cô cũng tích cực góp tay truyền bá .
    Quí hóa

    Like

  2. Thật quí hóa , cô đã tích cực truyền bá cho thế hệ trẻ hôm nay biết về những người đã đóng góp phát triển chữ quốc ngữ thuở ban đầu,chúng ta cần vinh danh họ.

    Like

  3. Luong Tran says:

    Tha Nhân chia sẻ với quí vị niềm nhớ Saigon của mình qua bài thơ bên dưới, và tôi đã phổ thành nản nhạc cùng tên, xin gửi quí vị luôn:

    SÀI GÒN CÓN MÃI TRONG TÔI

    Sài gòn nhớ quá em ơi
    Lối xưa lá đổ nắng rơi vai mềm
    Bên em anh khẽ gọi tên
    Nghe thầm âu yếm qua rèm mắt nai

    Sài gon nhớ quá Em ơi
    Vỉa hè còn rộn guốc cười khua vang!
    Có còn nắng hạ chói chang
    Tung tăng lạc bước mộng vàng rong chơi.

    Sài gòn nhớ quá Em ơi
    Công viên ghế đá tiên cười môi trao
    Trao môi nồng ấm hôn đầu
    Để gieo thương nhớ để sầu lên ngôi.

    Sài gòn nhớ quá Em ơi!
    Xa nơi phố cũ cuộc đời lênh đênh
    Xa Em từ thuở chênh vênh
    Vàng phai ngọc nát dập dềnh biển khơi

    Thương Em từ thuở nồng môi
    Xa Em từ thuở đổi dời bể dâu
    Xa Em mang nặng khối sầu
    Cành khô lá úa gục đầu tiếc thương.

    Xa Em biền biệt viễn phương
    Xa Em càng nhớ Quê Hương một thời
    Saì Gòn mãi mãi trong tôi
    Quê Hương yêu dấu từng hơi thở này.

    Quê Hương bao nỗi hao gầy
    Còn ta một thuở mộng đầy… bay xa
    Ra đi mãi nhớ quê nhà
    Sai gòn muôn thuở mặn mà dấu yêu…/

    ThaNhân

    Liked by 1 person

  4. TM says:

    Cám ơn BVCV đã đăng một bài rất hay lại còn đính kèm với những hình ảnh đẹp nhất là hình các văn nghệ sĩ viết trong bài

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s