DÒNG HỌ NGÔ-ĐÌNH ƯỚC MƠ CHƯA ĐẠT (Nguyễn Văn Minh): Chương I

Ngo-Dinh-CanCHƯƠNG I
ÔNG NGÔ ĐÌNH CẨN

“…Tôi nhất định ở lại làm việc.
Sống thì sống , chết thì chết. Không đi mô hết”.

1- DUYÊN TRI NGỘ

Hạ bán năm 1950, một nguồn tin được lan truyền trong giới thanh niên Hà Nội: Tại miền Trung, Thủ Hiến Phan Văn Giáo đã tranh đấu dành được nhiều quyền độc lập rộng rãi. Trong cuộc sống thường ngày, người Pháp chỉ được hoạt động trong khu vực dành cho họ. Lính Tây muốn qua bên thành nhà Vua phải có giấy phép v. v…Hơn một trăm thanh niên, trong đó có tôi, theo sự hướng dẫn của ông Nguyễn Văn Tố, Giám Đốc Võ Đường Vovinam ở Đường Hàng Bông, tình nguyện vào học Trường Võ Bị của lực lượng võ trang do Thủ Hiến Giáo thành lập: Lực Lượng Việt Binh Đoàn tại Huế. Cuối năm 1951 ra trường, tất cả khóa học của chúng tôi được chuyển qua Quân Đội Quốc Gia mới thành lập, và được phân phối cho cả ba Quân Khu (Quân Khu I – Miền Nam, Quân Khu II – Miền Trung, Quân Khu III – Miền Bắc). Tôi được phân phối về Quân Khu II và thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 7, một trong hai Tiểu Đoàn Quân Đội Quốc Gia đầu tiên tại miền Trung thời bấy giờ.

Sau mấy tháng đi hành quân lưu động, Tiểu Đoàn 7 được điều ra đóng bảo vệ an ninh lãnh thổ hai Quận Gio Linh và Vĩnh Linh, thuộc vùng cực Bắc Tỉnh Quảng Trị. Trung Đội của tôi, Trung Đội 3 thuộc Đại Đội 3, đóng tại Đồn Cửa Tùng (cửa sông Bến Hải) thuộc Quận Vĩnh Linh. Thời buổi chiến chinh lính tránh trấn Đồn mà được đóng ở chỗ này kể là thuộc loại số đỏ. Đồn đóng ngay tại khu nhà Thừa Lương (nhà nghỉ mát) của cựu Hoàng Bảo Đại, phía Đông là biển, phía Nam là sông, hai phía Tây và Bắc, năm Đồn Hương Vệ bảo vệ quanh, nên vấn đề an ninh của Đồn tương đối an toàn.

Tháng 5 năm 1953, tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy Đại Đội thay thế Trung Úy Lê Hoàng Thao, một sĩ quan người Miền Nam được thuyên chuyển về nguyên quán. Bộ Chỉ Huy Đại Đội đóng trên Đồi Tân Trại, các bờ biển Cửa Tùng chừng 4 cây số, cách Quốc Lộ số 1, đoạn Quảng Trị-Đồng Hới cũng khoảng 4 cây số.

Vùng trách nhiệm của Đại Đội trải dọc hai bên bờ sông Bến Hải, từ bờ biển Cửa Tùng đến vùng thượng nguồn Mỹ Tá dưới chân dãy Trường Sơn. Quân số của Đại Đội trấn đóng bốn Đồn: Cửa Tùng, Tân Trại, Xuân Hòa và Mỹ Tá. Mười một Đồn Hương Vệ với quân số Đồn ít nhất trên 20, Đồn nhiều nhất trên 40, và hai pháo đài Phụ Lực Quân (partisan), mỗi pháo đài 6 người.

Một điều lạ đối với tôi, không hiểu tại sao lực lượng võ trang việt cộng trong khu vực này cứ theo đuổi đánh tôi hoài?

Khi tôi coi Đồn Cửa Tùng, đã có lần họ tập trung lực lượng đông gấp 10 lần hơn, quyết san bằng Đồn tôi. Nhưng nhờ được dân chúng mật báo cho biết trước, nên kế hoạch hành quân của họ đã bị hóa giải một cách nhẹ nhàng bằng mấy lọat trọng pháo của Tiểu Đoàn yểm trợ, bắn trúng vào điểm tập trung quân của họ.

Thời gian tôi chỉ huy Đại Đội, cuối tháng 12. 1953, họ tung một cuộc tấn công thật ác liệt vào Đồn Hương Vệ An Do Tây và Đồn Hương Vệ Lưu động đóng sát cạnh, giữa đoạn đường từ đồi Tân Trại đến Cửa Tùng. Có lúc họ đã chiếm được một trong ba pháo đài của Đồn lưu động.

Đến cuối tháng 1. 1954, họ lại thực hiện một cuộc bao vây Đồn Hương Vệ Phan Xá, phía Tây Cầu Bến Hải, buộc tôi phải đương đầu trong một tư thế hết sức nguy hiểm. Vì muốn giải vây cho Đồn này tôi phải hành quân vượt sông.

Nhưng nhờ tinh thần quyết chiến của anh em binh sĩ trong Đại Đội và lòng can đảm phi thường của anh em Hương Vệ, các mưu tính của họ đều được giải tỏa với phần thua thiệt về phía họ.

Cuối tháng 3 năm 1954 tôi bị đau, được đưa vào điều trị ở Quân Y Viện Huế. Sau khi xuất viện, thời gian được nghỉ dưỡng bệnh, vợ chồng tôi đến ngụ ở phía sau Nhà Thờ Phú Cam, trong một căn phòng nhỏ, mướn của Đại Úy Nguyễn Văn Tú có biệt danh là Tú Kèn, vì ông này chỉ huy Ban Quân Nhạc Quân Khu II.

Chúng tôi mới ở đây được mươi ngày thì một buổi chiều, Đức Giám Mục Giáo Phận Huế, tên Việt của Ngài là Thi, tên Pháp là Urrutia, đến thăm. Sau mấy phút hỏi thăm về tình trạng sức khoẻ của tôi, Đức Cha ban phép lành cho vợ tôi khi ấy đang mang thai cháu đầu lòng, rồi ngài kéo tay tôi nói: ‘’Đi với Cha’’.

Đức Cha Thi biết tôi vì dịp ngài ra thăm mấy họ đạo vùng Cửa Tùng, đã đến nghỉ đêm ở Đồn tôi mấy tối.

Từ nhà Đại Úy Tú đến Tòa Giám Mục khoảng hơn 500 thước, hai cha con đi bộ, trên đường đi tôi hỏi ngài:

– Sao Đức Cha biết mà đến thăm con ở đây?

– Không những Cha biết con ở đây mà còn biết con mới ở bệnh viện ra nữa. Rồi Ngài hỏi tôi về tình hình vùng Cửa Tùng, đặc biệt là từ khi xẩy ra hai trận đánh tại Đồn An Do Tây và Phan Xá.

Đến Tòa Giám Mục, Đức Cha dẫn tôi qua thăm Cố Cả, tên Pháp là Cadière, một Linh Mục thuộc Dòng Thừa sai Paris và là một học giả, giới trí thức thời ấy không mấy ai không biết tiếng. Cố Cả bị Việt Minh bắt đi từ khi họ cướp chính quyền, tháng 8 năm 1945, mới được trả tự do vài tháng trước đó.

Tôi từ biệt Đức Cha và Cố Cả sau khoảng một giờ trình bày với các ngài về tình hình vùng Cửa Tùng. Đặc biệt về sinh hoạt của Giáo Xứ Di Loan, Giáo Xứ Cố Cả coi sóc trước khi bị bắt, sinh quán của Đức Giám Mục Lê Hữu Từ.

Buổi sáng một ngày giữa tháng 4. 1954, cô Công Tằng Tôn Nữ Tiếu Diện, em Linh Mục Bửu Đồng, hiện ở Đức, đến mời tôi qua gặp ngài.

Tôi được quen biết Cha Bửu Đồng từ khi về coi Cửa Tùng và sau này trở nên rất thân thiết với ngài và gia đình. Cha Bửu Đồng coi Giáo Xứ Phan Xá, nơi có Đồn Hương Vệ bị bao vây tôi mới kể ở trên. Ông thân sinh của ngài là Cụ Ưng Trạo, thường được gọi là Cụ Hường Trạo theo thẩm vị Hồng Lô Tự Khanh của Nam Triều. Cụ là cha đỡ đầu của ông Ngô Đình Cẩn.

Đến gặp Cha Đồng, ngài nói với tôi:

– Bữa qua tôi ghé vô thăm Cậu Cẩn, ông hỏi có biết anh Thiếu Úy mô mướn nhà trên Đại Úy Tú mà Đức Cha mới tới thăm mấy bữa ni không? Tôi cho ông biết là anh, và cũng đã có một đôi lần tôi nói với ông về anh. Ông nhủ tôi bữa mô đưa anh xuống gặp ông, tôi hứa bữa ni. Chừ anh qua gặp ông với tôi được không?

Vì từ khi còn ngồi ghế ở nhà trường tôi đã được nghe đến danh tiếng gia đình họ Ngô, nên không một chút do dự, tôi thưa lại ngay với Cha Bửu Đồng:

– Dạ thưa Cha được chứ, con có mắc gì đâu.

Tôi đi theo Cha Bửu Đồng qua ngôi nhà xế trước mặt nhà ngài. Chúng tôi bước vào nhà gặp lúc ông Cẩn đang hớt tóc. Sau khi chào ông Cẩn, Cha Bửu Đồng nói:

– Bữa qua Cậu nhủ tôi đưa Thiếu Úy Minh đến gặp Cậu, thì đây, ngài cầm tay tôi, Thiếu Úy Minh đây.

Ông chỉ vào bộ tràng kỷ, ông nói:

– Xin lỗi Cha, mời Cha và anh ngồi đợi cho tôi một lát.

Hớt tóc xong ông đến ngồi phía đối diện Cha Đồng và tôi, ông hỏi:

– Anh Minh đây hỉ? Anh mấy tuổi rồi ?

– Dạ thưa ông Cậu con 26 tuổi.

– Gia đình được mấy anh em?

– Dạ, con được bốn anh em ruột và hai đứa em con bà mẹ kế.

– Anh vô lính lâu mau rồi?

– Dạ con vô lính cuối năm 1950.

-Anh lập gia đình khi mô?

– Con lập gia đình tháng tư năm ngoái.

– Còn trẻ vậy mà lập gia đình chi sớm rứa?

– Dạ thưa ông Cậu, khi quyết định vô lính, là đã dứt khoát chọn con đường cho cuộc đời mình rồi, thì lập gia đình cho yên bề.

– Ờ, nói rứa chứ 26 tuổi lập gia đình cũng được rồi. Bây chừ đã có vợ, mai mốt có con, lại chỉ huy đơn vị chắc mắc việc lắm hỉ?

– Dạ Chỉ Huy Đại Đội cũng không có gì phức tạp lắm. Vả lại đóng đồn cũng không có việc gì nhiều, có điều cứ đêm đến là lại lo bị địch tấn công. Nhất là khu vực tránh nhiệm của con nhiều đồn bót quá. Đồn Hương Vệ thì quá thô sơ về bố phòng cũng như vũ khí. Đồn chính qui thì Đồn nọ cách Đồn kia quá xa.

– Vùng ngoài nớ lưng chừng giữa trời giữa đất, có Hương Vệ nhiều cũng đỡ. Nhưng Hương Vệ như của Cha Đồng đây, để cho nó đến bao vây rồi giải vây thì mệt quá hỉ ?

Tất cả chúng tôi cùng cười. Ông Cẩn tiếp:

– Dù trách nhiệm nhỏ cũng có điều phải lo lắng. Những khi rảnh rỗi gắng học hành, đọc sách báo thêm, để mở mang kiến thức, sau ni lên chức phải gánh trách nhiệm lớn hơn, có khả năng mà mần.

– Dạ !

Câu chuyện giữa ông Cẩn, Cha Đồng và tôi kéo dài khoảng hơn một tiếng đồng hồ thì Cha Đồng và tôi cáo từ ông. Khi chúng tôi ra đến sân, ông Cẩn dặn với:

– Khi mô rảnh anh Minh cứ vô chơi.

– Dạ! Cám ơn ông Cậu

Về lại nhà Cha Bửu Đồng, ngài dặn tôi:

– Ông Cẩn khôn ngoan, anh ráng năng ghé thăm ông, sẽ học hỏi được nhiều điều hay đấy.

2- CÁC BẬC SINH THÀNH

Ngo_cuKhaCỤ NGÔ ĐÌNH KHẢ

Cụ Ngô Đình Khả chánh quán Làng Đại Phong, Huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình, miền Trung Việt Nam.

Sinh trưởng trong một gia đình nho phong, thuở thiếu thời Cụ Ngô Đình Khả được hấp thụ một cách sâu sắc nền nho học Khổng-Mạnh. Khi vào học ở Chủng Viện, Cụ được học thêm tiếng La Tinh và tiếng Pháp.

Theo Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục ghi lại, thời kỳ đó, Đạo Công Giáo còn đang bị bách hại. Là một Chủng Sinh xuất sắc, Cụ Khả được chọn đưa qua học ở Tổng Chủng Viện của dòng Thừa Sai Paris tại Đảo Poulo Pinang, Mã Lai, cùng với Chủng Sinh nước Nhật, Tàu, Thái Lan.

Sau khi hoàn tất chương trình học ở Tổng Chủng Viện này trở về nước, thời gian thử thách để được chọn lên chức Linh Mục, cụ được cử phụ trách dạy môn Triết tại Đại Chủng viện Giáo Phận Huế. Qua nhiều năm dạy học. Học trò của Cụ nhiều người đã được thụ phong Linh Mục mà Cụ vẫn không được chọn.

Một hôm, Cha Bề Trên Chủng Viện gọi Cụ lên bảo: ‘’Này con, cứ thế này dù con có ở đây một trăm năm nữa con cũng không được gọi chịu chức Linh Mục. Mặc dầu con không có lỗi gì, nhưng con không có tên trong danh sách những người được chọn của Đức Cha Gaspar. Cha biết con còn một mẹ già không còn làm gì được, con hãy về chăm sóc mẹ con trong những ngày cuối đời của bà’’.

Vâng lời Bề Trên, Cụ trở về đời sống giáo dân. Cụ được Linh Mục Chính Xứ Phú Cam, Cha Allys, giới thiệu nhận thông dịch tài liệu tiếng La Tinh và tiếng Pháp cho hải quân và quân đội Pháp để sinh sống và phụng dưỡng mẹ già. Khi ấy Cụ được 30 tuổi.

Cuộc đời của Cụ trải qua từ nơi thôn dã thời thơ ấu, đến chốn thị thành khi ở Đại Chủng Viện Huế. Hình ảnh cuộc sống cực khổ lầm than, nhiều bất công của người dân nghèo ở nông thôn cũng như thành thị, đã đưa vào đầu óc Cụ nhiều suy nghĩ. Khi du học ngoại quốc, tiếp xúc với các bạn cùng trường đến từ Nhật, Tàu, Thái Lan. . . và trước mắt Cụ là đời sống của người dân địa phương tại Mã Lai. Tuy khi ấy Mã Lai chưa phải là một nước phát triển, nhưng đời sống xã hội của người dân đã được cải thiện nhờ vào đời sống chính trị được hưởng nhiều quyền tự do hơn ở Việt Nam. Từ đó, Cụ hằng mơ ước được thực hiện một cuộc cải tổ xã hội, canh tân đất nước, đem lại cho người dân Việt Nam một cuộc sống công bằng tốt đẹp hơn.

Qua những năm du học, Cụ thấy rằng, nền văn hóa Âu Tây với nhiều tư tưởng khoáng đạt, đã mở ra cho các nước trong vùng kho tàng kiến thức, dân trí được nâng cao. Nhờ đó các nước này đã đạt được một số tiến bộ trong nhiều lãnh vực: Văn hóa, chính trị, xã hội và nhất là về khoa học kỹ thuật. Nhưng về mặt đạo lý, luân lý, những tư tưởng hướng thượng của văn hóa Đông Phương, rường cột của một xã hội trật tự, nền nếp, hòa ái nét đặc thù của các dân tộc Á Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng, thì lại bị nền văn hóa Tây Phương làm cho bị sút giảm, lu mờ và dần dà bị mai một.

Vì thế theo Cụ, tại một nước bị trị và dân trí thấp kém, muốn canh tân đất nước, cải tiến xã hội phải thu hồi được Độc Lập. Nhưng muốn giữ được nền Độc Lập cần phải có nhân tài quản trị việc nước. Muốn có nhân tài thì phương cách duy nhất là mở mang và đại chúng hóa giáo dục, giúp cho thanh thiếu niên dễ dàng học hành nâng cao kiến thức. Với Việt Nam, nơi tư tưởng Âu Tây mới du nhập và đang có lợi thế phát triển, cần phải có một đường lối tạo được sự kết hợp hài hòa giữa luồng tư tưởng cổ đại Á Đông. Có như thế mới bảo tồn được những tinh túy của nền văn hóa dân tộc đã từ lâu đời xây dựng trên nền tảng tư tưởng Á Đông. Qua ý niệm này, Cụ chủ trương cần phải có một hệ thống giáo dục được giảng dậy kết hợp hai nền n văn hóa Đông và Tây.

Từ nhận định ấy, khi trở về đời sống thường dân, Cụ quyết tâm theo đuổi việc thực hiện một cuộc cách mạng ôn hòa theo đường lối Cụ đã lựa chọn.

Thời bấy giờ, Cụ là một học giả hiếm có với kiến thức sâu sắc về cả hai nền văn hóa Đông-Tây, nổi tiếng thông nho, thông thạo tiếng Pháp và cổ ngữ La Tinh. Thêm vào đó, với những hiểu biết và kinh nghiệm thu thập được về tình hình bên ngoài qua những năm du học ngoại quốc, Cụ được Vua Đồng Khánh triệu dụng, giao phó quyền Tổng Chỉ Huy Binh Đội của Triều Đình. Nhưng chỉ sau bốn tháng, nhận thấy môi trường này không thích hợp và không giúp gì cho việc thực hiện lý tưởng của mình. Gặp lúc thân mẫu lâm trọng bệnh, Cụ xin từ chức để có thể dành trọn thời giờ chăm sóc mẹ già. Sau khi thân mẫu qua đời, Cụ không trở lại Triều Đình nữa. Và phải đợi đến trào Vua Thành Thái Cụ mới có cơ hội thực hiện chủ trương của mình.

Vua Thành Thái khi lên ngôi tuy trẻ tuổi nhưng rất thông minh và giầu lòng yêu nước. Vì đã từng là nạn nhân của sự tranh chấp quyền hành trong Triều Đình và sự áp bức của chính quyền thực dân Pháp đối với Nam Triều, qua việc Vua cha bị truất phế sau chỉ mới ba ngày mới lên ngôi Thiên Tử. Vì thế, sau khi lên ngôi, nhà Vua đã nuôi hoài bão tìm đường nâng cao dân trí, canh tân đất nước, hy vọng lấy lại phần nào quyền hành trong tay chính quyền Bảo Hộ để có thể cải tạo xã hội Việt Nam.

Khi được biết chủ trương mở mang, đại chúng hóa giáo dục theo đường hướng kết hợp hai nền văn hóa Đông-Tây của Cụ Ngô Đình Khả, Nhà Vua rất tâm đắc. Vì thế, khi vừa đủ tuổi (18 tuổi năm 1896) được tự quyết định việc triều chính, Vua đã triệu dụng và giao phó cho Cụ trách nhiệm tổ chức và điều khiển một cơ sở Giáo Dục cấp Quốc Gia đúng theo đường lối, chủ trương của Cụ. Cơ sở này được gọi là Trường Quốc Học. Trong chức vụ Chưởng Giáo (Hiệu Trưởng), Cụ Khả thuyết phục được chính quyền Bảo Hộ chấp thuận cho Trường được giảng dạy cả hai nền văn hóa Đông và Tây, với ba ngôn ngữ: Quốc Văn, Pháp Văn và Hán Văn.

Sau hai năm Cụ điều khiển Trường Quốc Học, mến phục tài đức và lòng chung thủy, ngay thẳng của Cụ và để dễ dàng tiếp xúc với Cụ, Vua Thành Thái phong Cụ lên chức Thượng Thư Phụ Đạo Đại Thần. Ít lâu sau Cụ lại được giao phụ trách về lễ nghi và an ninh trong Triều, được phong chức Thị Vệ Đại Thần, và vào cuối trào (1902), Nhà Vua lại ban tặng Cụ tước vị Hiệp Tá Đại Học Sĩ.

Suốt gần 80 năm (1986-1975) tồn tại, Trường Quốc Học Huế đã cung cấp cho đất nước rất nhiều nhân tài trong mọi lãnh vực. Nhà trường đã dựng bia để nhắc nhở cho hậu thế ghi nhớ công ơn của Cụ.

Trong khi Vua, Tôi, đang âm thầm thực hiện cuộc cách mạng ôn hòa họ chủ trương thì ý đồ của họ bị bại lộ. Vua Thành Thái bị chính quyền thực dân gán cho mắc chứng bệnh điên, ép triều đình ký sớ xin Vua thoái vị rồi đưa qua án trí tại Đảo Réunion. Dưới áp lực của nhà đương cuộc Pháp, các vị Thượng Thư của Triều Đình đã ký sớ, chỉ một mình Thượng Thư Phụ Đạo Đại Thần Ngô Đình Khả nhất quyết khước từ không chịu ký.

Để tỏ lòng khâm phục và ngưỡng mộ một vị quan đã coi nhẹ danh lợi khi phải đối đầu với cường quyền hầu bảo toàn khí tiết và lòng chung thủy, dân chúng miền Trung truyền tụng nhau câu vè: ‘’Đầy Vua không Khả-Đào Mả không Bài’’ (Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài). Sau này khi Thượng Thư Ngô Đình Diệm treo ấn từ quan, dân chúng đã thêm vào hai câu trên một câu thứ ba: ‘’Hại dân không Diệm’’, và được truyền tụng cho đến ngày nay.

Cụ Tôn Thất Thiết, hiện cư ngụ tại Thành Phố Irvine, Orange Country, California, Hoa Kỳ, được thân phụ, Cụ Tôn Thất Hân, khi ấy là Phò Quan Quận Vương, Phụ Chánh Thân Thần (Chức vụ đầu Triều, phụ tá cho Vua trong công việc Triều Chánh) kể lại:

Ngày Vua Thành Thái ra đi sống kiếp lưu đày, toàn thể Triều Đình Văn, Võ đứng hai hàng trước sảnh đình điện Thái Hòa bái biệt Vua.

Từ trong Điện bước ra, Vua đến trước mặt Cụ Tôn Thất Hân đứng đầu hàng Văn, từ biệt Cụ, Vua nhắn nhủ: ‘’Trong họ chỉ còn mình thầy, xin thầy ráng phù giúp Tân Vương, giữ gìn xã tắc, bảo vệ thanh danh Hoàng Tộc’’. Rồi Vua đi thẳng tới trước mặt Cụ Ngô Đình Khả, đứng cách Cụ Tôn Thất Hân sáu, bảy cấp. Dừng lại giã biệt, Nhà Vua nói: ‘’Tôi cảm ơn thầy, thầy có tâm huyết, thầy ráng bảo trọng để giúp nước’’. Sau đó Vua đi thẳng không chào hỏi vị khách nào khác nữa.

Sau khi đày Vua Thành Thái đi rồi, Thượng Thư Ngô Đình Khả bị xét xử vì đã quyết liệt chống đối bản án đày Vua. Triều đình một lần nữa chịu sức ép của chính quyền thực dân, lột hết chức tước và quyền lợi của Cụ rồi cho về hưu.

Khi còn tại chức Cụ có tiếng là một vị quan thanh liêm, cương trực, gia đình đã sống một cuộc sống không mấy dư giả, nên khi Cụ phải về hưu dưới áp lực và âm mưu hãm hại của Thực Dân, bị theo dõi kìm kẹp, gia đình Cụ lâm vào hoàn cảnh thực sự khó khăn. Cảm phục vị đồng liêu vì khí phách, can trường mà phải chịu hoạn nạn, trong một thời gian khá dài, Cụ Tôn Thất Hân đã ngầm giúp Cụ Khả mỗi tháng 10 đồng để chi dùng.

Đến trào Vua Khải Định, Nhà Vua được nghe nhiều vị Thượng Thư trong Triều tâu trình về đức độ, tài năng công lao của Cụ Khả đối với Nam Triều. Có lẽ nhờ chủ trương thân Pháp, Nhà Vua đã được chính quyền bảo hộ ngầm chấp thuận cho việc phục hồi lại phẩm trật cho Cụ Khả và cho Cụ truy lãnh đầy đủ lương bổng của 12 năm bị huyền chức. Từ đó gia đình Cụ mới thoát khỏi cảnh thiếu thốn.

Chứng tích cụ thể về sự liêm khiết của Cụ Khả chính là khu tư dinh của Cụ.

Khu tư dinh của Thượng Thư Ngô Đình Khả được xây cất trên một khu đất bề ngang khoảng 30 thước, chạy sâu vào khoảng 50 thước, tọa lạc trên Đường Nguyễn Trường Tộ, con đường từ trước Nhà Thờ Chính Tòa Phú Cam chạy dọc thẳng đến bờ hữu ngạn sông Hương. Cổng tư dinh được dựng trên bốn cột gỗ, mái lợp ngói, theo kiểu các dinh thự nhỏ ở Huế. Hai bên cổng là hàng rào bằng cây tươi chạy dọc theo đường. Người địa phương gọi loại cây này là cây ‘’chè tàu’’.

Từ cổng đi vào là con đường đất rộng chừng hai thước, dài khoảng 10 thước, hai bên là hàng rào cây tươi cắt bằng. Bên trái là căn nhà lầu mỗi bề độ 9 thước, tường xây gạch, sườn nhà bằng gỗ, nền nhà lót gạch bông, gác bằng ván, mái lợp ngói. Phía trước nhà là một sân đất mỗi bề chừng 10 thước, kế đến là một hồ cạn mỗi cạnh khoảng 4 thước, giữa hồ có hòn non bộ.

Ngôi nhà lầu này, bề ngang cũng như bề sâu đều chia làm ba gian. Bước vào nhà, gian giữa, tính theo bề ngang, hai căn ngoài để trống, căn trong cùng, trên đà nhà treo một bức hoành phi, hai bên cột treo hai câu đối, bên trong là hương án thờ Cụ Ngô Đình Khả, trên hương án là bức ảnh Cụ Khả cao chừng một thước. Gian bên trái, cả ba căn từ ngoài vào trong đều để trống. Gian bên phải, ở căn ngoài cùng, kê một bộ tràng kỷ cẩn xà cừ sơ sài, phía sau bộ tràng kỷ, ở căn thứ hai, một bàn dài kê dọc theo tường. Giữa hai căn thứ hai và thứ ba có vách ngăn bằng ván, chừa một cửa ra vào. Căn này có một cửa bên hông đi ra sân bên cạnh nhà và một cửa mở ra phía sau gặp cầu thang phía bên trái để lên lầu và qua ngôi nhà tranh phía bên phải. Trên lầu, hai gian bên phải và trái, tính theo chiều ngang ngôi nhà, đều để trống. Gian giữa ở căn trong cùng có một bàn thờ Tổ Quốc, trên án thư có một bộ lư hương và một bộ chân đèn lớn bằng đồng. Sau án thư là một bản đồ nước Việt Nam cao khoảng hơn 1 thước. Trong cùng là Đảng Kỳ Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng.

Bên phải căn nhà lầu từ ngoài sân nhìn vào, thụt vào ngang tường sau ngôi nhà này, là căn nhà tranh ba gian hai trái. Phía trước là dàn cửa bằng gỗ chạy suốt ba gian theo lối nhà cổ Việt Nam. Phía sau là hai đầu hồi vách bằng đất, mái lợp tranh, nền đất. Từ ngoài cửa đi vào, hai trái là kho để đồ đạc trong nhà, gian giữa kẻ một bộ tràng kỷ mộc, phía sau là hương án thờ Cụ Khả, gian bên trái là nơi Bà Cụ Khả nằm, gian bên phải kê một bộ sập (phản). Ngoài sân phía trước gian giữa, có một bình phong xây bằng gạch. Trước tấm bình phong là một vườn hoa mỗi bề chừng bốn thước. Sát đầu hồi ngôi nhà này, phía bên trái từ trong nhà nhìn ra, là nhà bếp ba gian, cũng mái tranh vách đất. Phía sau nhà bếp là một sân rộng chừng 10×15 thước lát gạch và một nhà kho chứa lúa, dụng cụ làm ruộng và nơi làm việc của người làm trong nhà.

Sau này, mỗi dịp đi kinh lý vùng phía Bắc miền Trung Tổng Thống Ngô Đình Diệm thường ghé về lạy chào thân mẫu và nghỉ đêm tại nhà. Nhất là hàng năm vào dịp lễ giỗ Cụ Ông, anh em con cháu tề tựu về đông không có nơi nghỉ. Quan khách cũng nhiều, trong nhà không đủ chỗ tiếp. Đường từ ngoài cổng vào nhà và sân trước hay bị lầy bùn vì còn trong mùa mưa. Nhưng cũng mãi đến cuối năm 1956 ông Cẩn mới đổ xi măng được con đường vào nhà và sân trước. Qua năm sau mới xây lại cổng và bức tường phía Đường Nguyễn Trường Tộ, thay hàng rào cây.

Dưới đây xin cống hiến quý độc giả một câu chuyện thật cảm động tôi biết được nhờ cái cổng mới này.

Sau khi cái cổng mới hoàn tất, mái cổng cũ vẫn được giữ nguyên cả khung cả ngói đặt lại lên cổng mới. Tôi ngạc nhiên. Một hôm vào trình công việc, vui chuyện tôi hỏi ông Cẩn:

– Thưa Cậu, đã xây cổng mới mà sao còn giữ cái mái cổng cũ lại, trông nó không được hợp với nhau lắm?

– Chú không biết, đó là một kỷ vật quý giá lắm đấy.

Và ông kể:

– Sau khi Cụ Cố lên Thượng Thư được ít năm, bạn bè quan khách đến chơi nhiều, nhà chật chội không có nơi tiếp. Nhất là Vua Thành Thái, lâu lâu cũng qua thăm chơi với ông Khôi và Đức Cha, nên Cụ Cố đã phải mần thêm căn nhà lầu. Mần nhà xong, nhưng một thời gian lâu sau chưa làm được cổng. Vua Thành Thái biết Cụ Cố chưa có tiền, nên Vua cho làm tặng Cụ Cố cái cổng. Chừ ông Cụ (Tổng Thống Ngô Đình Diệm) nhủ giữ cái mái cổng lại để nhớ ơn Nhà Vua.

Năm 1959 ông Cẩn xây được thêm một căn lầu 4 phòng sát ngay sau căn lầu cũ và năm 1960 xây lại căn nhà bếp, mái lợp ngói, nên tráng xi măng. Đồ đạc bầy biện, trang trí trong nhà vẫn nguyên như trước, chẳng thay đổi gì.

Đó là cơ ngơi của một gia đình mà đời Cha, gần mười năm làm Thượng Thư Triều Đình. Thày dạy của Vua. Đến đời con suốt 10 năm qua các chức vụ Tri Huyện, Tri Phủ, Án Sát, Tuần Vũ, Thượng Thư đầu Triều và 9 năm nắm quyền lãnh đạo đất nước trong chức vụ Tổng Thống.

Trở lại chuyện Thượng Thư Phụ Đạo Đại Thần Ngô Đình Khả bị cho về hưu.

Quay về đời sống thường dân trong cảnh thanh bần, Cụ dốc hết tâm sức vào việc rèn luyện con cái từ tư tưởng đến trí, đức, để sau này tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dang dở của Cụ.

Cụ áp dụng một đường lối giáo dục con cái rất đặc biệt. Ngay từ khi còn tại chức, trong cuộc sống hàng ngày, Cụ không chỉ nghiêm khắc với các con mà chủ yếu là nghiêm khắc với chính mình, nêu gương một nếp sống cần kiệm, liêm khiết, trung nghĩa. Cụ bắt các con sống đúng theo khuôn mẫu ấy, nhằm hun đúc, xây đắp cho họ một lý tưởng sống vững chắc trên nền tảng một Đức Tin tôn giáo bất biến và một tinh thần nho học Khổng-Mạnh thâm sâu.

Nhờ phương pháp giáo dục có sức thuyết phục mạnh mẽ và nghiêm ngặt này mà tất cả các con của Cụ, trai cũng như gái, đã có cùng một quan niệm sống, một tư tưởng, một ý thức về một cuộc cách mạng dành Độc Lập, canh tân đất nước, cải tiến xã hội Việt Nam với một lòng yêu nước, yêu dân rất chân thành. Cụ thể như trường hợp thân mẫu Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, sau ngày miền Nam sụp đổ 30. 4. 1975, đến định cư tại Úc, Bà đã thuê người uốn hai cây cảnh trồng trước nhà thành hình hai con rồng và hàng ngày Bà tự tay chăm sóc hai cây cảnh này, Bà nói:

‘’Để nhắc cho con cháu sau này nhớ về Quê Hương Việt Nam. Chúng có thể quên bất cứ cái gì, nhưng đừng để chúng quên Đất Nước và Dân Tộc’’.

Về phương diện tôn giáo, Cụ là một người rất mộ đạo với sự hiểu biết thâm sâu. Đời sống hàng ngày của Cụ là đời sống của một Kytô hữu gương mẫu với sự suy gẫm, chiêm nghiệm thâm thúy về cuộc sống hiện tại và mai sau. Cụ linh cảm được ngày lìa đời của Cụ từ ba năm trước. Cụ đã cho các con biết điều này và từ đó, hàng ngày Cụ đã lo chuẩn bị cho cuộc sống đời sau.

Năm Cụ qua đời (1925), trước Tết ít lâu Cụ bị sốt, cơn sốt mỗi ngày mỗi nặng hơn. Các con đưa Cụ vào bệnh viện, bác sĩ khám nghiệm cho biết Cụ bị bệnh cháy phổi (pleurisy). Thời kỳ ấy chứng bệnh này thuộc loại nan y.

Bà Nguyễn Văn Ấm, thân mẫu Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận kể lại:

‘’Thời gian Cụ nằm điều trị tại bệnh viện, một hôm, trong lúc các con đang tụ tập quanh Cụ Cố thì nhận được thơ của Thày Thục từ Roma gửi về, do người làm trong nhà đem đến. Trong thơ Thày kể chuyện Đức Thánh Cha mới phong ba vị Thánh và trong các bạn học có một Thày thân phụ mới chết vì bệnh cháy phổi, ông Khôi đọc thơ thấy nói đến chuyện chết vì bệnh cháy phổi, ông bàn với các em giấu Cụ Cố chuyện đó, sợ Cụ biết chuyện, có thể không tốt cho việc chữa trị. Buổi trưa, khi ra về, ông Khôi lén để lại lá thơ dưới gối Cụ nằm. Buổi chiều khi các con trở vào Cụ hỏi:

– Bay có để cái chi dưới gối của Thày không?

– Dạ, có chi mô. Ông Khôi thưa lại.

– Phải có cái chi! Trưa ni cái gối nâng lên hạ xuống ba lần và Thày thấy rõ ràng ba bàn tay giơ lên ban phép lành cho Thày.

Nghe vậy ông Khôi đành lấy thơ của Thày Thục ra đọc cho Cụ nghe. Nghe xong Cụ bảo:

– Rứa là dấu Chúa cho Thày biết sẽ chết trong dịp này. Thôi, bay đưa Thày về nhà lo chuẩn bị mọi chuyện. Về đến nhà bệnh tình Cụ trở nên nguy kịch, Cụ phải thở bằng bình dưỡng khí. Cảm thấy đã đến giờ lìa đời, Cụ gọi các con đến bên gường để chúc lành cho từng người. Nhưng theo thông lệ thì phải có một người thay mặt cho tất cả đứng ra xin. Anh chị em xin Cụ chỉ định cho một một người, Cụ chỉ Bà (thân mẫu Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận). Sau khi Bà đứng ra xin Cụ chúc lành cho các con, anh chị em lần lượt đến quỳ trước gường Cụ nằm, Cụ đặt tay chúc lành cho từng người một. Sau khi đã chúc lành cho các con, Cụ trối lại cho họ phải tiếp tục thực hiện lý tưởng của Cụ. Với ông Luyện Cụ dặn:‘’Phải đưa thằng Luyện qua Pháp học. Để nó ở nhà mà chiều như rứa sẽ hư’’. Đặc biệt với ông Diệm Cụ trối: ‘’Diệm, con có đủ đức tính cần thiết để trở thành người lãnh đạo tốt. Con phải lãnh đạo’’ Và Cụ nói với tất cả các con: ‘’Các con phải cùng với nó (ông Diệm) tranh đấu dành lại cho được một nền độc lập hoàn toàn, thì mới thực hiện công cuộc cải tạo xã hội xóa bỏ bất công được’’. Tất cả các con Cụ đã thề hứa sẽ cùng với ông Diệm thực hiện bằng được ước nguyện của Cụ’’.

Sau khi Cụ Ngô Đình Khả qua đời, trong trách nhiệm quyền huynh thế phụ, quyền này được tuyệt đối tôn trọng trong gia đình họ Ngô, ông Ngô Đình Khôi thực hiện ngay những lời trăn trối của thân phụ. Trước hết, ông đưa ông Ngô Đình Luyện qua Pháp du học. Với những người còn lại trong gia đình, ông không bỏ lỡ dịp họp mặt nào mà không nhắc nhở họ, đặc biệt với ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, phải sống cho ước vọng của Cha.

Cụ Bà Ngô Đình Khả

Cụ Bà Ngô Đình Khả nhũ danh Phạm Thị Thân, chánh quán Làng Phú Cam, Quận Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên. Sinh trưởng trong một gia đình Công Giáo rất ngoan đạo, Cụ có một người chị gái, Bà Cửu Bích, một người em gái, Bà Hương Đằng và hai người em trai, ông Cửu Nguyên và ông Khóa Hành. Từ nhỏ Cụ đã được tiếng là thùy mị, nết na.

Kết hôn với Cụ Ông Ngô Đình Khả, Cụ hạ sinh được chín người con, sáu trai, ba gái:

Ngogia_1963– Ngô Đình Khôi
– Ngô Đình Thị Giao, tức Bà Thừa Tùng
– Ngô Đình Thục
– Ngô Đình Diệm
– Ngô Đình Thị Hiệp, tức Bà Nguyễn Văn Ấm, thân mẫu Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.
– Ngô Đình Thị Hoàng, tức Bà Cả Lễ (Nguyễn Văn Lễ).
– Ngô Đình Nhu
– Ngô Đình Cẩn
– Ngô Đình Luyện

Từ khi lập gia đình cho đến hết đời, Cụ là một Bà mẹ thánh thiện, phúc hậu, giầu lòng bác ái. Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục ghi lại: ‘’Tôi trung thành được với ơn gọi của tôi là nhờ lời cầu nguyện và lòng bác ái ‘’anh hùng’’ đối với người nghèo của mẹ tôi’’.

Một Bà Cụ ở Việt Nam, Bà Đốc Bình, cùng trang lứa và là bạn rất thân thiết với thân mẫu Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận kể rằng, hồi còn nhỏ Bà thường xuống nhà Bà Cụ Cố chơi. Đôi lần chị em ham chơi, la lối, leo trèo, Bà Cụ chỉ gọi vào ôn tồn khuyên nhủ, nặng lắm Cụ cũng chỉ đe đánh đòn. Chưa bao giờ Cụ dùng đến roi vọt hay la mắng lớn tiếng.

Sau khi Cụ Ông mất, vì phải lao tâm lao lực nuôi dạy con cái, cuối thập niên 40, Cụ ngã bệnh và bị liệt nửa người. Từ đó Cụ phải nằm một chỗ không đi lại được.

Vì là con gái, trong thời của Cụ ít được học hành, nhưng Cụ cũng có một trí thông minh sáng suốt kỳ lạ. Một hôm vui chuyện, ông Cẩn thích thú kể cho tôi nghe hai câu chuyện dưới đây:

Đầu năm 1958, dịp về dự lễ Cụ Ông, Tổng Thống Diệm cho ông Cẩn một áo choàng (overcoat) khá đẹp. Tổng Thống đưa cái áo cho Bà Cụ coi trước khi trao cho ông Cẩn. Bà Cụ khen cái áo đẹp quá, bắt ông Cẩn treo trên cột nhà ngay cuối giường Bà nằm để canh chừng cho kẻo mất.

Thấy Bà Cụ thích và quý cái áo quá, năm sau gần đến ngày giỗ Cụ Ông, ông Cẩn nảy ý tinh nghịch lừa lúc Bà Cụ ngủ lấy cái áo giấu đi. Khi Bà Cụ thức dậy không thấy cái áo, Bà kêu ông Cẩn hỏi, ông giả bộ hốt hoảng: Cái áo vẫn treo ở đây mà răng chừ mất mô rồi? Bà Cụ kêu lên: Lạy Chúa tôi! Cái áo quý như rứa mà để đứa mô lấy mất chừ mần răng có tiền mà mua cái khác?

Mấy ngày sau Tổng Thống Diệm về vào vấn an Bà Cụ, vừa thấy ông Cụ hỏi:

– Anh đã về đó hỷ? Nè, anh có tiền cho thằng Cẩn một vài đồng chi, đặng nó mua cái áo choàng khác. Cái áo năm rồi Anh cho nó, đứa mô lấy cắp mất rồi chừ lạnh không có áo mà mang, tội nghiệp nó.

Tổng Thống Diệm ngó qua ông Cẩn, ông tủm tỉm cười. Hiểu ý, Tổng Thống thưa lại: Không phải mất mô, chú Cẩn nó dỡn mẹ đó.

Bà Cụ thở dài:

– Rứa mà nó nói với tôi là đứa mô lấy mất rồi.

Ông cười thích thú và kể tiếp: Nằm rứa chứ chi cũng biết hết đấy. Hồi 1954, ông Cụ (Tổng Thống Diệm) mới ở ngoại quốc về ra vấn an Bà, vừa vô tới chỗ Bà nằm chưa kịp nói chi, Bà hỏi liền:

– Anh về mần chi rứa?

– Dạ, mấy năm rồi đi xa chừ con mới về được, con ra coi mẹ có đặng khỏe không.

– Anh về mần Chính Phủ phải không?

– Dạ, thưa mẹ phải.

– Ui chao! Tình hình lúc ni như biển động, sóng to gió lớn, mình thì nhỏ như cái lá tre mần răng mà chèo chống cho nổi! Anh coi có mần được chi không mà về?

– Thưa mẹ, con biết tình hình lúc ni khó khăn lắm, đã không ai dám đứng ra mần, mà mình cũng không dám đứng ra nữa thì bỏ dân bỏ nước cho ai, mẹ? Xin mẹ cứ yên tâm cầu nguyện cho con, có Chúa giúp con sẽ mần được.

Ông Cẩn tiếp:

– Lạ lùng, trong nhà không hề có ai nói chuyện tình hình tình hoóc chi với Bà khi mô, răng mà biết như rứa?

Cụ quả là bậc hiền mẫu, Cụ sống một đời sống âm thầm, đức hạnh, nhu mì. Tuy ở địa vị cao sang Cụ vẫn sống bình dị, không giao du đua đòi lối sống của nhiều vị mệnh phụ thời bấy giờ.

Đời Cụ cũng kết thúc trong âm thầm, lặng lẽ, khiêm tốn như cuộc sống của Cụ.

Sau ngày đảo chánh 1. 11. 1963, Cụ được đưa vào Sài Gòn, họ cho Bà Nguyễn Văn Ấm, thân mẫu Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, nhận về chăm sóc. Cụ qua đời tại Sài Gòn ngày 2. 1. 1964, trước khi ông Ngô Đình Cẩn, người con thứ ba của Cụ bị giết hơn ba tháng.

3- CON NGƯỜI

Ông Ngô Đình Cẩn là con trai thứ năm của Cụ Ngô Đình Khả. Ông sinh năm 1911 tại Làng Phú Cam, Huyện Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên. Từ nhỏ ông học tại Trường Pellerin, Trường của các Thày Dòng Lasan.

Cố Đại Tá Nguyễn Thế Như, bạn học cùng lớp với ông Cẩn từ những lớp dự bị đến hết bậc tiểu học, khi còn sinh thời, được tôi hỏi về ông Cẩn, ông Như kể lại:

Suốt trong những năm cùng học, ông và ông Cẩn là hai người bạn thân như hình với bóng. Nhà hai người cùng ở trên bờ sông Bến Ngự, cách nhau chừng hơn 400 thước. Từ nhà ông Cẩn đến trường phải đi qua nhà ông, nên sáng nào ông Cẩn cũng ghé đón ông cùng đi. Cả hai cùng rất mê môn bóng tròn, nên hầu như không Thứ Năm, Chủ Nhật nào là không đi đá bóng. Bao giờ ông cũng là thủ môn và ông Cẩn là hậu vệ. Ông Cẩn học rất sáng nhưng tính năng động và ham chơi nên học hơi chậm. Hết bậc Tiểu Học, ông vào Tiểu Chủng Viện An Ninh tu học. Ông Cẩn vẫn tiếp tục học Trường Pellerin.

Tướng Trần Văn Đôn, Tư Lệnh Quân Đoàn I Vùng I Chiến Thuật tại Huế từ cuối năm 1957 đến cuối năm 1962, một trong những nhân vật đầu não của cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đưa đến cái chết cho ông Cẩn. Trong hồi ký viết bằng tiếng Mỹ “Our Endless War” tôi xin tạm dịch: “Cuộc Chiến Tranh Bất Tận Của Chúng Tôi” ông Đôn nhìn nhận ông Cẩn là người “có một nhân cách mạng, thông minh sắc sảo” . (trang 56)

Khi Cụ Ngô Đình Khả qua đời, năm 1925, anh em trong gia đình mỗi người một nơi. Thày Ngô Đình Thục đang du học tại Roma. Hai ông Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Diệm làm quan. Ông Ngô Đình Nhu học tại Tiểu Chủng Viện An Ninh (Cửa Tùng). Ở nhà chỉ còn mấy người chị gái và hai anh em Ngô Đình Cẩn và Ngô Đình Luyện. Ông Luyện khi ấy mới 10 tuổi, vì là con út, được mẹ rất cưng chiều, nên trước khi qua đời Cụ Khả đã trăn trối: “Phải đưa thằng Luyện ra ngoại quốc học, để ở nhà mẹ chiều như rứa sẽ hư” Sau khi ông Luyện được ra ngoại quốc học, thấy mẹ lúc nào cũng buồn rầu vì nhớ thương em, từ đó ông Cẩn gần như không khi nào rời xa mẹ.

Ông Cẩn là một người có cuộc sống bình dị. Nếp sống của ông gần gũi với hàng dân đã hơn là với giới quyền quý như nguồn gốc của ông.

Như Đại Tá Như nói, ông rất năng động, ít khi tôi thấy ông ngồi không. Ngoài những lúc tiếp khách, đôi khi coi giấy tờ, ông thường ở vườn rau sau nhà hoặc ngồi vót nan đan rổ đan thúng với người làm trong nhà. Mùa gặt, có lần tôi thấy ông cũng săn quần áo cào rơm cào lúa với họ. Thú tiêu khiển của ông là nuôi thú vật, hươu nai, chim và đi câu. Ông nuôi hươu với mục đích hàng năm lấy lộc nhung làm thuốc cho thân mẫu. Ông ăn mặc rất sơ sài. Từ khi gặp ông lần đầu cho đến lần cuối cùng, tại nơi ông tạm lánh sau ngày đảo chánh 1. 11. 1963, khi nào tôi cũng thấy ông mặc bộ bà ba bằng lụa, không bao giờ mặc âu phục, hút thuốc cẩm lệ, (loại thuốc trồng tại địa phương và vấn bằng tay), ăn trầu. Khi di chuyển ông chỉ dùng xe jeep, không khi nào đi xe du lịch. Không biết ai đó đã biếu ông một xe du lịch hiệu Mercedes, ông không dùng mà đem tặng cho Bác Sĩ Lê Khắc Quyến, Bác Sĩ chăm sóc sức khỏe cho thân mẫu ông.

Ông sống cởi mở, không chịu gò bó cả trong công việc, không câu nệ những thủ tục gây cản trở cho hiệu quả của công việc. Ông thường nói: “Tôi là cán bộ cách mạng không phải là công chức hành chánh”. Ông có Đảng tính rất cao, rất tôn trọng đoàn thể, tình nghĩa với đồng chí, với những người đã từng hợp tác với ông. Ông có cái nhìn rộng rãi về cuộc sống, không quá cổ hũ, khắt khe như người ta đồn đại. Dưới đây là một vài câu chuyện điển hình:

1. Một dịp đầu năm, nếu tôi nhớ không lầm, năm 1959, đoàn hát cải lương Thanh Minh Thanh Nga ra trình diễn tại Huế. Một buổi sáng vào trình công việc, tôi đang nói chuyện với ông Cẩn thì một vị chức sắc hành chánh địa phương bước vào. Câu chuyện đầu tiên ông nói với ông Cẩn: “Khi hôm đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga mời chúng tôi dự buổi trình diễn ra mắt, ông Đôn (Tướng Trần Văn Đôn) dẫn theo một đoàn bốn năm bà”.

Có lẽ hiểu ý vị này muốn tố ông Tướng có số đào hoa, đã mang nhiều tai tiếng về vụ đàn bà con gái, ông Cẩn nói: “Hắn là Tây con mà bắt hắn sống như thày tu mô được. Trong giao dịch mình cũng nên rộng rãi một chút”.

2. Dịp Tết Âm Lịch năm 1960, ba vị sĩ quan cao cấp, Đại Tá Nguyễn Văn Y, Tổng Giám Đốc Công An Cảnh Sát, Thiếu Tá Nguyễn Quốc Hoàng, Tỉnh Trưởng Phan Thiết, hiện ở Thành Phố San Clemente, Orange County, California, Thiếu Tá Trần Khắc Kính, Phó Giám Đốc Sở Liên Lạc, tiền thân của Lực Lượng Đặc Biệt, hiện ở Thành Phố Huntington Beach, Orange County, California, (cấp bậc cuối cùng của Thiếu Tá Hoàng là Trung Tá, Thiếu Tá Kính là Đại Tá), ba ông từ Sài Gòn ra chúc Tết ông Cẩn cùng một ngày. Riêng Thiếu Tá Trần Khắc Kính đến với tư cách Bí Thư Khu Bộ Phan Tây Hồ, đại diện cho Khu Bộ Đảng Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Sài Gòn và Ban V, tức Quân Ủy Đảng Cần Lao.

Vì muốn tiết kiệm thì giờ cho cả chủ lẫn khách, tôi hướng dẫn cả ba vị vào gặp ông Cẩn cùng một lúc và trình rõ với ông: Thiếu Tá Kính là Bí Thư Khu Bộ Phan Tây Hồ Sài Gòn, đại diện Ban V. Ông Cẩn mặc áo dài, đội khăn đóng ra tiếp khách. Hai vị Thiếu Tá đứng hơi lùi về phía sau có ý nhường cho Đại Tá Y, vị cao cấp nhất thay mặt mừng tuổi ông. Nhưng ông Cẩn đã bỏ qua Đại Tá Y, đến thẳng trước mặt Thiếu Tá Kính: “Tôi cám ơn đồng chí đã thay mặt anh em đồng chí trong Nam ra thăm tôi. . . ” rồi mới tới nhận lời chúc của Đại Tá Y và Thiếu Tá Hoàng.

3. Một cán bộ cao cấp của đảng Cần Lao đã bị báo cáo có can dự vào âm mưu ném bom Dinh Độc Lập năm 1962 do nhóm Quốc Dân Đảng của ông Nguyễn Văn Lực chủ mưu. Nhưng cán bộ này nguyên gốc là đảng viên Quốc Dân Đảng gia nhập và hoạt động tích cực trong đảng Cần Lao Nhân Vị. Do đó, ông đã sai anh Hồ Đắc Trọng vào trình Tổng Thống Diệm xin cứu xét trường hợp của cán bộ này. Anh này đã được Tổng Thống ra lệnh cho Tổng Nha Công An Cảnh Sát trả tự do ngay sau đó.

Đảng viên này đã mất trong trại tù cải tạo của Cộng Sản năm 1976. Tôn trọng vong linh anh và thông cảm sự đau buồn của gia đình anh, tôi xin được miễn nêu tên anh ở đây.

4. Đầu năm 1955, khi lực lượng đảng Đại Việt miền Trung tại Tỉnh Quảng Trị ly khai chống Chính Phủ Ngô Đình Diệm. Ông Trần Điền, một đảng viên trong thành phần lãnh đạo đảng Đại Việt, đang giữ chức Tỉnh Trưởng. Ông Điền trước kia đã hợp tác với ông Ngô Đình Cẩn trong cuộc vận động cho giải pháp Ngô Đình Diệm. Vì vậy, sau khi lực lượng ly khai bị dẹp, những người chủ mưu bị đưa ra tòa án xét xử, ông Điền bị kết án 7 năm tù ở. Ông Ngô Đình Cẩn giữ đúng lời hứa “không quên sự hợp tác trước kia. . . “, ông đã can thiệp và ông Trần Điền không phải ở tù ngày nào. Ông còn sắp xếp cho ông Điền làm Giám Học và dạy tại Trường Tư Thục Bình Minh để sinh sống. Còn tất cả những người khác, tuy phải ở tù nhưng ông cũng đã can thiệp cho họ được tổ chức thành một tổ do ông Nguyễn Văn Mân làm Tổ Trưởng (thời Đệ II Cộng Hòa, ông Mân làm Thượng Nghị Sĩ trong liên danh đảng Đại Việt) đi rừng đốn cây về làm đồ mộc, chặt củi, đem về bán. Tất cả tiền thu được từ những sản phẩm này họ được hưởng trọn để giúp gia đình.

Thiết tưởng cũng nên nói thêm ở đây về cách đối xử của gia đình họ Ngô với Bà Từ Cung, thân mẫu Cựu Hoàng Bảo Đại.

Một vị cán bộ kỳ cựu của ông Cẩn, cựu Đại Tá Phùng Ngọc Trưng, kể lại với tôi rằng: Trong dịp về lạy chào thân mẫu trước khi bôn ba hải ngoại (1950), ông Ngô Đình Diệm đã dặn dò ông Cẩn phải thường xuyên thăm hỏi Bà Từ Cung, thân mẫu Cựu hoàng Bảo Đại và chỉ định ông Trưng trách nhiệm liên lạc giữa ông Cẩn và Bà Từ Cung.

Cảm kích trước lòng chung thủy của gia đình họ Ngô, một hôm Bà Từ Cung đích thân đến thăm và tặng cho Bà Cụ Ngô Đình Khả hai cây gấm. Ông Cẩn mặc áo thụng, đội khăn đóng đưa Bà Cụ lên căn giữa ngôi nhà chính đón tiếp Bà Từ Cung. Khi hai bà chuyện vãn, ông Cẩn đứng khoanh tay đứng cạnh Bà Cụ. Ông Trưng lo hầu trà hai bà. Trong lúc chuyện vãn, Bà Từ Cung gọi Bà Cụ Khả bằng Thím, còn Bà Cụ Khả vẫn một mực cung kính “Tâu Ngài”.

Sau này, trong suốt thời Đệ I Cộng Hòa, gia đình Tổng Thống Diệm vẫn giữ lòng kính trọng Bà Từ Cung như trước kia. Hằng năm, vào các dịp Tết, ông Cẩn vẫn không quên cho người đem lễ vật: Rượu, thịt, nếp, gạo. . . đến biếu Bà. Người thường được ông Cẩn nhờ làm việc này là Thiếu Tá Phan Xuân, Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo An Thừa Thiên. Cựu Thiếu Tá Xuân hiện ở Thành Phố Graden Grove, Orange County, California.

Tôi được biết, gia đình họ Ngô đã luôn luôn tỏ lòng kính trọng, giữ đúng lễ nghi theo truyền thống Việt Nam đối với Bà Từ Cung một phần là để nhớ ơn Vua Khải Định đã phục hồi phẩm vị cho Cụ Ngô Đình Khả. Riêng ông Diệm tuy không đồng ý với lập trường chính trị của cựu hoàng Bảo Đại nhưng ông vẫn luôn giữ đúng lễ phép với cựu Hoàng. Ông Trần Trung Dung kể lại với tôi, sau khi lấy lại được Dinh Độc Lập, số anh em theo ông Diệm từ ngoại quốc về ở cả trong Dinh cùng với ông Diệm và ông Nhu, ông Luyện. Tất cả đều ở bên cánh phải, bên cánh trái bỏ trống. Vì chật chội và muốn được thoải mái hơn, ông Dung và một số anh em đề nghị ông Diệm qua ở bên cánh trái, ông trả lời:

“Không được. Bên đó phải dành để khi Quốc Trưởng về có nơi để Ngài ngự cho xứng đáng”.

Ông Cẩn cũng còn là một người con chí hiếu. Một cử chỉ của ông đối với thân mẫu đã gây xúc động mạnh cho những người được chứng kiến:

Như thông lệ từ khi Bà Cụ Khả bị đau liệt nửa người. mỗi sáng Chủ Nhật, khi Linh Mục vào dâng Thánh Lễ cho Bà Cụ, Cô Nguyễn Thị Kinh con Bà Thận chị họ ông Cẩn, người hàng ngày hầu hạ Bà Cụ, bồng Bà lên ngồi trên ghế trước bàn thờ và đứng sau lưng vịn hai vai Bà để Bà khỏi té. Khoảng giữa năm 1962, một buổi sáng Chủ Nhật, không biết cô sơ ý thế nào để Bà Cụ té sấp xuống ghế quỳ trước mặt.

Sau khi Bà được Bác Sĩ Quyến băng bó vết sưng ở trán, ông Cẩn mặc áo thụng, đội khăn đóng, đến trước giường Bà Cụ nằm, quỳ phục xuống, khấu lạy ba lạy, vừa lạy vừa khóc, nghẹn ngào xin mẹ tha tội.

Ngay đến những giờ phút nguy hiểm nhất của đời ông, sáng ngày 2. 11. 1963, khi được Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Huế mời qua tỵ nạn, mặc dầu đã biết tin Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu đã bị sát hại, ông cũng đòi Tòa Lãnh Sự phải nhận cả Bà Cụ Ông mới qua.

Với ông Cẩn, không phải chỉ riêng bản thân ông hết lòng cúc cung phụng dưỡng mẹ già, mà bất cứ người nào, từ con cháu trong nhà đến người ngoài, ai phụ giúp ông trong việc chăm sóc, phục vụ Bà Cụ, đều được ông đối xử và đền đáp cách đặc biệt. Việc ông tặng Bác Sĩ Quyến, Bác Sĩ săn sóc sức khỏe cho Bà Cụ chiếc xe du lịch hiệu Mercedes vào thời điểm cuối thập niên 50 là một bằng chứng. Một điều đáng tiếc là lòng hiếu thảo của ông Cẩn đã bị một vài người trong thân tộc từng phụ giúp ông trong việc phụng dưỡng Bà Cụ Khả lợi dụng. Họ lấy danh nghĩa ông làm những chuyện thất nhân tâm gây không ít tai tiếng cho ông.

Trong giao dịch, ông có cách đối xử với mọi người rất đặc biệt. Tất cả những người đã từng giao dịch, tiếp xúc nhiều với ông Ngô Đình Cẩn, đều gọi ông là “ông Tam Thế”, nghĩa là không hiểu được ông, không nắm bắt được ý muốn đích thực của ông. Nhưng bất cứ ai đến gặp ông, khi trở ra, nếu không hoàn toàn thì cũng một phần, được thỏa mãn.

Tôi được nghe nhiều người dân địa phương nói, từ khi còn trẻ ông đã rất lanh lợi và có tài biến báo. Vì vậy mà nhiều người khi gặp chuyện khó khăn, đã đến nhờ ông giúp giải quyết.

Để quý độc giả có thêm yếu tố đánh giá về một con người mà sau khi ngã ngựa, đã từng bị gọi là “Lãnh Chúa” Miền Trung. Sau đây, tôi xin trích dẫn nhận xét về con người ông Ngô Đình Cẩn của một vài người bạn từ hồi nhỏ và đồng chí kỳ cựu, từng cộng tác hoạt động với ông Cẩn từ khi Thượng Thư Ngô Đình Diệm mới treo ấn từ quan, và một số dữ kiện, tài liệu, chứng minh cho những việc ích quốc lợi dân ông Cẩn đã làm.

1. Cố Đại Tá Nguyễn Thế Như, tôi đã đề cập ở trên, một người thực sự bị thất sủng trong thời Đệ I Cộng Hòa, sau một thời gian giữ chức Tư Lệnh Lữ Đoàn Phòng Vệ Tổng Thống Phủ. Khi còn sinh thời, được tôi hỏi về ông Ngô Đình Cẩn, trong thơ trả lời, ngay đầu thơ Đại Tá Như viết:

“Thời Đệ I Cộng Hòa, người đời ít ai biết đến Cậu Cẩn, có chăng thì có tại miền Trung, mà có biết thì biết việc trái của Cậu nhiều hơn việc tốt, mà đã chắc gì những việc trái đó do Cậu tự làm, mà là bọn tay sai, thậm chí một số sĩ quan và Tỉnh Trưởng vào ra nịnh bợ làm sai rồi đổ lỗi cho Cậu”

Nhận xét của cựu Đại Tá Nguyễn Thế Như trên đây là một nhận xét rất có giá trị, theo những gì tôi được biết về con người ông Ngô Đình Cẩn.

2. Mùa Hè năm 1996, được tin cựu Đại Tá Phùng Ngọc Trưng, hiện ở Pháp, qua thăm người em là cựu Trung Tá Phùng Ngọc Bang, ở Thành Phố Garden Grove, Orange County, California, tôi đến thăm ông. Vì quá lâu ngày, từ năm 1960 đến nay mới gặp nhau, chúng tôi ôn lại nhiều chuyện cũ từ gần bốn mươi năm qua.

Sau khi thố lộ với tôi một số uẩn khúc đối với ông Cẩn, mà ông Trưng cho biết chưa hề nói ra với bất cứ một người nào, ông kể cho ta nghe, có lần ông Cẩn đã tâm sự với ông rằng:

“Trong số anh em, ta thấy chú mi có tình có nghĩa. Mình làm cách mạng có khi phải ác, khi làm ác có thể có lầm lẫn. Mai mốt ta chết và mi cũng sẽ chết. Ta thì không con cái chi, mi nhớ nói con mi thắp cho ta một nén nhang”.

Sau khi nghe ông Trưng kể lại lời tâm sự trên đây của ông Cẩn, tôi hỏi ông:

– Bác đã cộng tác với ông Cẩn từ khi ông Cụ (Tổng Thống Diệm) còn hoạt động trong bí mật. Bác được các ông coi như người thân trong gia đình, dĩ nhiên sự hiểu biết của bác về các ông hơn tôi gấp nhiều lần. Xin bác thẳng thắn cho biết ý kiến về nhận xét sau đây đúng hay sai.

– Ông Cậu miệng thì ác, nhưng tâm không ác. Rất tình nghĩa và rất tôn trọng lễ giáo.

Ông Trưng đứng bật dậy trước mặt người em, bước lại xiết chặt tay tôi nói:

– Đúng! Toa nói đúng! Moa hoàn toán đồng ý với toa.

Tưởng cũng cần phải nói thêm rằng, cựu Đại Tá Phùng Ngọc Trưng là bạn đồng ngũ và rất thân thiết với Tướng Đỗ Mậu. Hồi Pháp thuộc, hai ông cùng ở trong một cơ đội khố xanh. Hai người cùng biết và theo phò Thượng Thư Ngô Đình Diệm từ khoảng năm 1942. Ông Trưng là người được cả gia đình Tổng Thống Diệm, nhất là ông Cẩn, tin yêu hơn tất cả các bạn bè của ông, nhưng ông lại không được may mắn như ông Mậu. Giữa năm 1960, đang giữ chức vụ Giám Đốc Ngành Hành Chánh Tài Chánh Quân Khu II thì một việc không đẹp chạm đến tự ái và danh dự của ông do cơ quan Anh Ninh địa phương tạo ra, mà ông tưởng là họ đã làm theo lệnh của ông Cẩn, mặc dù ông Cẩn đã xác quyết với người bạn của ông Trưng, ông Huỳnh Hữu Hiến, rằng ông không hay biết gì về việc ấy. Sau đó ít lâu lại xảy ra việc ông Trưng phải rời nhiệm sở đi nhận một nhiệm vụ khác. Những sự kiện này đã làm cho ông có cảm tưởng bị thất sủng. Mặc dầu theo tôi, đây chỉ là một sự trùng hợp không may. Nhưng với ông Trưng thì lại là một nỗi u uất mà cho đến bây giờ ông vẫn chưa giải tỏa được. Trong đầu ông luôn luôn lẩn quất ý nghĩ. Lúc nào mình cũng ăn ở hết lòng hết dạ với ông Cậu mà sao lại đối xử như vậy?

Qua buổi tâm tình này, tôi nhận thấy nơi cựu Đại Tá Phùng Ngọc Trưng một tư cách đáng quý. Tuy luôn mang trong mình một tâm trạng u uất cho đến nay, nhưng ông vẫn im lặng, không có hành động “trở giáo” ồn ào như một số người khác đã làm. Và ông còn thẳng thắn nhìn nhận: “Ông Cẩn ác khẩu nhưng không ác tâm và có tình có nghĩa”.

Sau cuộc đảo chánh 1. 11. 1963, một số người và sách báo đã nói nhiều đến xấu xa, tội lỗi cho ông Ngô Đình Cẩn. Ngoài những điều bịa đặt, một vài điều đã được thổi phồng lên một cách quá đáng, hoặc có ý diễn dịch sai lạc. Ví dụ như:

Về “khu nhà mát” (cụm từ Tướng Đôn dùng để chỉ 3 căn nhà lá, mỗi căn vuông vức mỗi bề 4 thước) của ông Cẩn tại bờ phía Tây Phá Tam Giang đã được Tướng Đôn viết trong hồi ký “Việt Nam Nhân Chứng” nói là: “trên bờ biển Thuận An”. Những đoạn văn Tướng Đôn tả địa điểm của mấy căn nhà này đọc lên nghe quả là thơ mộng. Nhưng rất đáng tiếc đó toàn là những điều sai sự thật. Rất nhiều người, từ hàng Bộ Trưởng, Tướng lãnh đến hàng thứ dân đã đến gặp ông Cẩn tại khu này. Và chắc chắn không ai không biết con đường dẫn vào mấy căn nhà ấy là một con đường cụt, chẳng có cây cối gì. Đến năm 1960 ông Cẩn mới cho ươm trồng khoảng hơn 10 gốc dừa, cuối năm 1963, số dừa này cao chưa đến một thước thì làm sao có được “những hàng dừa rũ lá”. Con đường này chỉ trải đá, chứ không phải là “đường trải nhựa”. Phía bên phải con đường chẳng có gì có “bãi cát trắng phau” mà chỉ có cánh đồng sình lầy. Phía bên trái cũng chẳng làm gì có “nước biển trong xanh ôm lấy con đường” mà chỉ có nước Phá Tam Giang ở gần bờ, nước cạn, lộ rõ màu đen lờ lờ của bùn. . . Tướng Đôn còn viết:

“Tôi phải cho lính lấy đá về xây một vườn cây trên nước, quanh nhà có một dãy tường bằng đá bao bọc cho các ghe thuyền không được đến gần. Trên dãy tường đó đã rải rác các chòi canh. . . “ (trang 109)

Nếu quả thật Tướng Đôn đã cho xây một vườn cây trên nước và một dãy tường bao quanh khu nhà này, thì dãy tường ấy phải dài tối thiểu từ hai đến ba trăm thước.

Tại Việt Nam vào thời kỳ ấy, không biết Tướng Đôn đã dùng kỹ thuật nào để ngăn nước mà xây được một vườn cây và dãy tường dưới dòng nước Phá Tam Giang?

Hoặc như về vụ khám phá màn lưới gián điệp Pháp tại miền Trung và tổ chức điệp báo và quân báo Việt Cộng tại cả miền Trung và miền Nam. Hai vụ này được Tướng Mậu, trong hồi ký “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” khẳng định là những vụ “bày ra” để bắt bớ giam cầm, tống tiền những người giầu có. Tôi sẽ nói về hai vụ trên đây trong một phần sau.

Trong các sách báo viết về Tổng Thống Ngô Đình Diệm, về Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam mà tôi đã đọc, tôi rất lấy làm tiếc về cuốn Nhật Ký của Đỗ Thọ “Nhật Ký Đỗ Thọ”. Đỗ Thọ là một Đại Úy Không Quân được một người bạn cùng khóa, Đại Úy Lê Công Hoàn, Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống Diệm giới thiệu và được Tổng Thống nhận cho làm Sĩ Quan Tùy Viên từ tháng 3. 1961. (Đại Úy Hoàn có cấp bậc cuối cùng là Trung Tá, anh mất tại Sài Gòn cuối năm 1991 sau mười hai năm ở tù cải tạo Cộng Sản) Đại Úy Thọ đã đi theo Tổng Thống Diệm cho đến khi ông bị đẩy lên xe M113 sáng ngày 2. 11. 1963. Đầu năm 1964 anh bị tử nạn khi chiếc máy bay anh lái từ Sài Gòn ra đón Tướng Nguyễn Khánh tại Huế bị rơi dọc đường. Cuốn “Nhật Ký Đỗ Thọ” được phổ biến năm 1970, tức là sáu năm sau khi anh bị tai nạn.

Đọc Nhật Ký Đỗ Thọ, tôi cảm phục thấy anh “không thể đồng lõa với bóng đêm” (trang 285) đã viết về Tổng Thống Ngô Đình Diệm khá vô tư và trung thực, theo những gì tôi biết về ông, mặc dù rất ít, nhất là về cá tính của ông. Anh đã giải bày được lòng tôn kính, dạ trung thành, đối với một vị Tổng Thống mà anh được gần gũi trong chức vụ Sĩ Quan Tùy Viên gần ba năm. Anh nhận thấy ở ông những đức tính cao cả: Hết lòng yêu nước, thương dân, đức độ, đôn hậu.

Nhưng điều đáng tiếc là nhiều phần khác trong Nhật Ký của anh đã được viết thiếu trung thực. Như đoạn anh viết về ngày Tết tại nhà ông Cẩn:

“Nào là Bộ Trưởng, Tướng, Tá từ Trung Ương ra, từ địa phương đến, tất cả đều đến bái lạy chúc thọ Cụ Bà Ngô Đình Khả, sau khi toàn gia đình họ Ngô đã “lạy sống” Cụ Bà. Nào là câu đối, trướng liễn, quà ngon vật lạ dâng lên gia đình họ Ngô nhiều đến nỗi chỉ quà của cấp Trung Ương mới để trong nhà ông Cẩn, còn quà của cấp Tỉnh, cấp Quận và địa phương phải để trên Văn Phòng Chỉ Đạo. Những món quà tặng nhiều lúc rất kỳ lạ. . .” (trang 31).

Đặc biệt như đoạn viết sau đây:

“Tối hôm đó, sau giờ giao thừa Tổng Thống Diệm đọc lại những câu đối, trướng liễn để coi có đứa nào nó chơi chữ với gia đình ông không.

Tuy nhiên cái Tết, tôi theo chân Tổng Thống về Huế và sau phút đọc lại câu đối, ông rất thỏa mãn với những bầy tôi trung thành” . (trang 32)

Đọc đoạn Nhật Ký Đỗ Thọ trên đây, tôi không biết Đỗ Thọ thực sự viết được bao nhiêu trang trong cuốn Nhật Ký mang tên anh? Vì đoạn này nhất định không phải anh viết. Là Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống Diệm hơn hai năm, mặc dù chỉ trải qua hai cái Tết. Nhưng anh không thể không biết rằng, Tổng Thống Diệm không bao giờ về Huế ngày 30 Tết. Vì Tổng Thống phải có mặt ở Sài Gòn sáng mồng một Tết để nhận lời chúc đầu năm của Chính Phủ, Quốc Hội, của Ngoại Giao Đoàn v. v. . . rồi mới về Huế. Vì vậy mà không bao giờ ông về Huế trước trưa ngày mồng một Tết. Do đó, làm sao ông lại có thể đi coi câu đối, trướng liễn, sau giờ giao thừa được?

Về vấn đề quà cáp, làm việc ở văn phòng ông Cẩn suốt từ khi văn phòng hoạt động cho đến ngày nền Đệ I Cộng Hòa bị lật đổ, không có dịp Tết nào tôi không có mặt ở Huế. Tôi không hề thấy ai đem biếu ông Cẩn câu đối, trướng liễn bao giờ. Vật lạ như trăn, hươu sao, cả cọp con nữa, thì có. Nhưng không phải là quà Tết, mà là khi một chính quyền địa phương miền Núi bắt được những loại thú rừng ấy đem biếu ông. Và tại Văn Phòng Chỉ Đạo, nơi chúng tôi làm việc, chưa hề bao giờ chất chứa quà cáp của ông Cẩn, dù chỉ một vài món.

Theo tôi, đoạn viết nêu trên và phần được viết về những việc, những sự kiện ngoài những gì Đỗ Thọ nói về Tổng Thống Diệm, chắc đã được ai đó viết thay anh sau khi anh bị tử nạn. Rất tiếc những phần ấy đã viết thiếu trung thực làm cho cuốn Nhật Ký của anh mất đi khá nhiều tín độ.

Riêng về vấn đề tiền bạc, ông Ngô Đình Cẩn cũng là người mang nhiều tai tiếng nhất trong các anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tài sản của ông có những gì? Sau khi đảo chánh thành công, các Tướng đảo chánh đã cho thành lập cả một Ủy Ban để điều tra về tài sản nhà Ngô, họ đã tìm kiếm được bao nhiêu vàng bạc của nhà Ngô nói chung, của ông Cẩn nói riêng? Kết quả điều tra, báo chí thời ấy đã đăng tải. Mọi người đều đã biết.

Tướng Đôn nói Tướng Khánh cho Tướng Phát đến nhờ Bà Trần Trung Dung vào khám Chí Hòa nói ông Cẩn trao 6 triệu đô la trong ngân hàng Thụy Sĩ cho ông Khánh thì ông Khánh sẽ bí mật cho đưa ông Cẩn ra ngoại quốc. (Việt Nam Nhân Chứng, trang 248-249). Trong một lần đến thăm ông Trần Trung Dung ở nhà dưỡng lão trên Đường 13, Thành Phố Westminster, tôi có hỏi ông về chuyện này và được ông kể lại như sau:

“Một hôm vào buổi sáng, tôi và nhà tôi đang ngồi uống trà, Lâm Văn Phát Tổng Trưởng Nội Vụ của Khánh đến. Anh ta xin tôi cho phép được nói chuyện riêng với nhà tôi, tôi đồng ý. Sau khi anh ta về rồi nhà tôi cho biết, anh ta được Khánh sai tới nhờ vào Chí Hòa yêu cầu ông Cẩn trao số tiền 6 triệu đô la ông để ngân hàng Thụy Sĩ cho anh ta (Khánh). Nếu ông Cẩn chịu thì anh ta (Khánh) sẽ cho người bí mật đưa ông ra ngoại quốc. Hôm sau nhà tôi vào gặp ông Cẩn nói lại chuyện Khánh yêu cầu, ông nói “Tao bây chừ còn tiền bạc mô nữa mà cho chúng nó”.

Tôi hỏi ông Dung: Còn chuyện ông Đôn nói ông Cậu bảo nếu bà nhà nhận thì ông giao cho. Điều đó có không?

Ông Dung trả lời: “Làm gì có chuyện đó” Và ông nói thêm: “Thời đó làm sao mà có được số tiền lớn như vậy được”.

Tôi cũng được Linh Mục Tuyên Úy của ông Cẩn và Thày Edmond, Quản Lý Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, người giữ sổ sách chi thu mọi nguồn tài chánh của Tỉnh Dòng, hiện ở Chi Dòng Long Beach, xác nhận: Ông Cẩn không hề cho Nhà Dòng số tiền 6 triệu đô la bao giờ.

Ông Cẩn còn bị nghi ngờ là đã có con với một người đàn bà trong thân tộc. Chuyện này một vài người gần gũi trong gia đình ông cũng nghi ngờ như vậy. Một lần gặp Linh Mục Ngô Văn Trọng, Cha Phó Xứ Phú Cam trong thập niên 40, người hàng tuần đến giải tội và cho Bà Cụ Ngô Đình Khả và ông Cẩn rước lễ. Khi tôi đề cập đến chuyện này, ngài chỉ nói với tôi: “Ông Cẩn là người có lương tân rất nhiệm nhặt”. Vì theo luật đạo, vị Linh Mục dù phải chết cũng không được tiết lộ TỘI một tín hữu đã xưng với mình trong tòa giải tội. Vì thế, Cha Trọng không thể nói rõ về tội của ông Cẩn, nhưng câu nói trên đây đủ cho thấy ông Cẩn bị nghi oan. (Cha Trọng hiện ngụ tại Thành Phố Garden Grove, Orange County California)

Với ông Ngô Đình Cẩn, ngoài những thiếu sót, sai lầm của một con người như mọi con người bình thường. Theo sự hiểu biết của tôi, một yếu tố quan trọng đã góp phần chính yếu vào việc tô vẽ hình ảnh ông thành một con người hung bạo, tàn ác còn hơn một bạo chúa thời Trung Cổ, là mối oán thù tích tụ từ những vụ như vụ gián điệp Pháp, những thành quả mà sách lược chống cộng của chế độ Đệ I Cộng Hòa, do ông điều phối tại miền Trung đã thu lượm được. Và đặc biệt là từ vụ phá vỡ hai màng lưới gián điệp và quân báo của Việt Cộng hoạt động tại miền Nam Việt Nam.

4- CÔNG VIỆC

Theo lời ông Cẩn kể lại thì, sau khi từ quan ông Ngô Đình Diệm thường tiếp xúc với các nhà hoạt động cách mạng đương thời như các Cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh v. v. . .

Ông Ngô Đình Diệm đặc biệt kính phục Cụ Phan Bội Châu nên rất năng lui tới với Cụ, mặc dù khi ấy Cụ đang bị thực dân Pháp quản thúc tại Bến Ngự.

Nhằm bảo toàn tổ chức phòng khi rủi ro một cơ sở bị khám phá, các nhà cách mạng của ta hồi ấy hoạt động theo phương thức NGĂN CÁCH một cách rất chặt chẽ.

Ông Ngô Đình Cẩn, qua vai trò liên lạc viên của ông Ngô Đình Diệm, được Cụ Phan biết và thương, nên Cụ đã truyền dạy cho ông nhiều điều. Từ đó, ông chịu ảnh hưởng sâu đậm phương thức hoạt động của Cụ và phương thức ấy đã thành nếp trong cuộc đời hoạt động của ông. Đến nỗi, khi đã có chính quyền, phương thức NGĂN CÁCH trong hoạt động vẫn được ông triệt để áp dụng.

Vì ông làm việc theo phương thức ấy, nên ít ai biết được hết các công việc của ông.

Phương thức hoạt động NGĂN CÁCH và không câu nệ những nguyên tắc quá phức tạp, làm giảm hiệu năng công tác đã góp phần khá lớn trong việc đem lại cho chính sách chống Cộng Sản của Chính Phủ thời ấy tại miền Trung do ông điều phối, những kết quả ngoạn mục. Nhưng nó cũng là một khuyết điểm khá lớn, tạo môi trường thuận lợi cho bọn thời cơ chủ nghĩa lớn nhỏ, lợi dụng khai thác, làm những việc bất nhân tâm, gây tai tiếng, oán thù cho ông và ảnh hưởng xấu đến chế độ.

Ngoài ra, tôi thấy cũng cần phải nói đến một tài năng đặc biệt mà ông Ngô Đình Cẩn và anh em gia đình họ Ngô đã được Trời ban cho, đó là “trí thông minh và một trí nhớ tuyệt luân”.

Ông Cẩn là người vốn bị khinh chê ít học. Quả thật, so với các anh em trong gia đình, ông là người được học hành ít nhất. Nhưng về phần thông minh và trí nhớ thì ông cũng được hưởng lộc như các anh em ông.

Trong suốt tám năn làm việc với ông, riêng trong phần vụ của tôi, không bao giờ tôi phải làm phúc trình, phân tách dài dòng về bất cứ một vấn đề gì. Trường hợp có vấn đề khúc mắc, phức tạp, tôi chỉ cần tóm tắt trong một hai trang vở học trò. Cuối ngày, tôi đem vào để dưới gối trên giường ngủ của ông. Vậy mà khi đề cập, hoặc tiếp xúc với những người liên quan đến những vấn đề ấy, ông đã nói lại và giải đáp không sót một chi tiết nào.

Ông Ngô Đình Cẩn được rèn luyện theo cùng một khuôn mẫu và chịu ảnh hưởng hoàn toàn tinh thần cách mạng của thân phụ như tất cả các anh chị em ông. Do đó, họ đều có cùng một chí hướng, một quyết tâm: Tiếp tục thực hiện lý tưởng cách mạng của thân phụ. Vì vậy và vì vâng giữ lời trăng trối của thân phụ mà tất cả anh em ông, mỗi người đều đã hăng say làm việc hết khả năng của mình để yểm trợ ông Ngô Đình Diệm khi ông gánh vác trọng trách lãnh đạo đất nước. Và đó là lý do mà các ông bị công kích là gia đình trị.

Tại miền Trung, từ khi ông Ngô Đình Diệm bôn ba hải ngoại đến khi về chấp chánh, ông Cẩn vẫn âm thầm tiến hành công việc quản bá tư tưởng, đường lối đấu tranh, tổ chức cơ sở. Ông đã tổ chức được một hệ thống đảng “Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng” khá vững mạnh và rộng rãi trong nhiều cơ sở của chính quyền, quân đội và các giai tầng xã hội.

Tôi bắt đầu được biết đến những hoạt động của ông Ngô Đình Diệm tại miền Trung.

Như tôi đã kể lại trong “Duyên Tri Ngộ”, tôi được biết ông Ngô Đình Cẩn trong thời gian nghỉ dưỡng bệnh tại Huế, tháng 4. 1954. Một hôm vào đầu tháng 6, khoảng chín mười giờ sáng, anh Nguyễn Văn Ái con bà Luyến chị họ ông Cẩn, đến tìm tôi cho biết ông Cẩn muốn gặp. Tôi đến gặp ông, ông hỏi:

– Răng chừ anh ra lại Tiểu Đoàn?

– Dạ, cuối tháng sáu này.

– Rứa thì cũng gần đến rồi.

– Dạ.

– Anh có thể ra sớm hơn được không?

– Dạ, nếu có chuyện chi cần thì con có thể ra bất cứ lúc nào.

– Có chuyện ni tôi biết anh có thể mần được, nhưng không biết anh có chịu mần không?

– Dạ, ông Cậu cứ cho biết, việc gì làm được con sẽ cố gắng hết sức.

– Hiện nay ông Bảo Đại đang mời ông Cụ (ông Ngô Đình Diệm) ra mần Thủ Tướng. Ông Cụ chưa thuận vì còn một vài điều kiện chưa được thỏa mãn. Mặt khác, ông Cụ xa nhà lâu ngày không rõ tình hình nhân sự và dân tâm bên ni lắm, nên còn ngần ngại. Bây chừ mình phải phát động một phong trào dân chúng ủng hộ và yêu cầu ông Cụ về chấp chánh, để ông Cụ yên tâm trở về.

Tôi muốn nhờ anh phụ trách khu vực ngoài nớ. Tổ chức cho rải truyền đơn, trương biểu ngữ với nội dung đại ý: “Toàn dân ủng hộ Chí Sĩ Ngô Đình Diệm”, “Yêu cầu Chí Sĩ Ngô Đình Diệm về chấp chánh” v. v. . . Nếu biểu tình được càng tốt. Amh mần được chứ?

– Dạ, việc đó con có thể làm được, vì vùng Cửa Tùng con nắm vững cả.

– Rứa thì anh về thu xếp đi càng sớm càng tốt, công chuyện gấp lắm. Cứ tổ chức sẵn sàng như ý tôi mới nói, đợi khi mô anh nhận được một điện tín viết: “bien arrivé Ái”, thì anh cho phát động.

– Dạ, con sẽ cố gắng hết sức.

– Gửi điện tín cho anh địa chỉ ra răng?

Tôi ghi vào miếng giấy nhỏ: “Lnt. Nguyễn Văn Minh. KBC. . . . ” đưa cho ông.

– Ông Cậu cứ cho ghi địa chỉ như thế này là con nhận được.

– Con sẽ coi máy bay hoặc xe đò, bên nào tiện thì con đi. Ra bây giờ con chưa về Tiểu Đoàn ngay được vì phải đợi chuyến xe tiếp tế của Séc-tơ, thường là vào cuối tháng (séc-tơ là tiếng Pháp Secteur, sau này Quân Đội Việt Nam dùng danh từ Tiểu Khu. Nhưng ở Đông Hà con có thể liên lạc được với vùng Cửa Tùng dễ dàng.

– Nếu anh đi xe đò, đến Mỹ Chánh ghé gặp Hoàng Ngọc Trợ, Quận Trưởng, (ông Trợ hiện ở San José California Hoa Kỳ) tới Quảng Trị vô gặp Nguyễn Đình Cẩn. Trưởng Ty Tài Chánh, nói hai anh ấy cùng làm như tôi đã nhủ anh. Trước khi tôi ra về, ông đưa cho tôi bản điều lệ của “Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng” và dặn: “khi mô rảnh anh đọc kỹ cái ni nghe”.

Tôi về nhà cho vợ tôi biết vì có việc cần tôi phải trở về Tiểu Đoàn ngay, và qua gởi gắm vợ tôi cho Bà Cụ thân mẫu Cha Bửu Đồng nhờ Bà săn sóc giùm, vì vợ tôi sắp sinh cháu đầu lòng. Tôi lấy vé máy bay đi Đông Hà ngày 5 tháng 6. Sau khi lấy vé, tôi vào tin cho ông Cẩn biết ngày tôi đi và đi bằng máy bay, nên không ghé Mỹ Chánh và Quảng Trị được.

Đến Đông Hà trưa ngày 5 tháng 6, sau khi trình diện hậu cứ Tiểu Đoàn, tôi viết thư và ra chợ nhờ một người dân ở Cửa Tùng vào bán cá, đem về cho ông Nguyễn Văn Tâm, Xã Trưởng Xã An Ninh Thượng, một vị Xã Trưởng uy tín nhất vùng và tôi tin tưởng hơn cả. Tôi nhờ ông Tâm chuẩn bị ngay những điều ông Cẩn đã nói với tôi, đồng thời thông báo cho các Xã khác cũng chuẩn bị như vậy. Tôi sẽ cho biết ngày giờ phát động chiến dịch sau.

Chiều ngày 9 tháng 6, tôi nhận được bức điện tín “bien arrivé, Ai”. hôm sau tôi nhắn ông Tâm cho phát động chiến dịch.

Sau này được biết, vì thời gian chuẩn bị quá ngắn, tôi không có mặt tại chỗ, nên chiến dịch tuy được phát động nhưng không được rầm rộ như ý. Lần thứ hai tôi được biết đến công việc của ông Cẩn là vụ đối phó với phe nhóm Tướng Nguyễn Văn Hinh.

Nằm đợi ở hậu cứ Tiểu Đoàn tại Đông Hà gần ba tuần lễ, ngày 24.6.54 tôi theo đoàn xe tiếp tế của Séc-tơ về lại Tiểu Đoàn đóng cạnh Quận Lỵ Vĩnh Linh. Ngay chiều hôm ấy, ông Tiểu Đoàn Trưởng đưa tôi vào chỉ huy Đại Đội 4 thay Trung Úy Bùi Xuân Lãng được tuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt (cấp bậc cuối cùng của Trung Úy Lãng là Đại Tá. Ông đã định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO). Đại Đội đóng trên Đồi 46, gần Quận Lỵ Gio Linh, cách bờ phía Nam sông Bến Hải chừng bốn cây số.

Ngày 1 tháng 8. 1954, Hiệp Định Genève có hiệu lực. Sau mấy tuần lễ mệt nhọc đón đồng bào di cư từ phía bờ Bắc sông Bến Hải qua, Đại Đội tôi theo Tiểu Đoàn chuyển về đồn trú tại Diêm Sanh, Thủ Phủ của Phủ Hải Lăng. Đây là nơi trị nhậm đầu tiên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi ông được phong phẩm hàm Tri Phủ. Diêm Sanh cách Thị Xã Quảng Trị 10 cây số về phía Nam. Các Đại Đội khác đều đóng quân trong cùng Doanh Trại với Tiểu Đoàn cạnh Quốc Lộ 1. Riêng Đại Đội của tôi được đưa xuống đóng tại Đồn Thi Ông, cách Quốc Lộ 1 về phía biển bốn cây số, phụ trách thêm Đồn Cù Hoan, nằm giữa Diêm Sanh và Thi Ông.

Tưởng bị đày, không dè tôi lại hên, được sống như đơn vị biệt lập. Thời gian này, Quân Nhân các cấp từ lớn đến nhỏ đều coi như thời gian được nghỉ ngơi, sau những năm chiến đấu mệt mỏi. Các đơn vị không có hoạt động gì ngoài việc canh gác bảo vệ đồn trại.

Lúc này cuộc đối đầu với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm của Tướng Nguyễn Văn Hinh đã thật sự ồn áo và gay gắt. Một hôm vào đầu tháng 10.1954, lúc đó khoảng ba, bốn giờ chiều, tôi đang nghỉ ở nhà, anh Ái cháu ông Cẩn lại đến kiếm mời tôi xuống gặp ông. Tôi vào gặp ông Cẩn, sau vài câu hỏi thăm vợ con tôi, ông hỏi:

– Anh đã đọc cái tập nhỏ tôi đưa cho anh bữa trước chưa?

– Dạ, con đọc rồi.

– Lâu ni anh đã hợp tác với tôi, chừ tôi quyết định thâu nhận anh vô Đảng Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng, anh có ưng không?

– Dạ, thưa ông Cậu ưng chứ ạ!

Ông đứng dậy:

– Anh đi theo tôi.

Ông dẫn tôi lên lầu. Trên lầu, ở phần trong cùng của căn giữa có một bàn thờ Tổ Quốc. Trên án thư, ngoài hết là một hộp đựng thanh đoản kiếm bằng bạc, tượng trưng uy quyền của Đảng (ông Cẩn cho biết thanh kiếm này do Cụ Phan Bội Châu trao lại), kế đến là bộ lư hương và hai chân nến lớn bằng đồng, phía sau là bản đồ Việt Nam, trong cùng là đảng kỳ của Đảng Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng rộng kín bề ngang canh nhà, dài chấm đến sàn. Cờ được chia làm hai phần theo chiều dọc, nửa đỏ, nửa xanh lá mạ. Trên nền xanh có ba ngôi sao đỏ xếp theo hình tam giác. Ông với tay lấy cái áo dài đen treo trên cột nhà cạnh bàn thờ, mặc vào chỉnh tề, thắp nến lên, chỉ cho tôi cách thức tuyên thệ rồi ông thực hiện nghi thức gia nhập Đảng cho tôi.

Trở xuống, ông nói với tôi:

– Tình hình giữa Ông Cụ và Nguyễn Văn Hinh gay go quá. Phe cách của hắn ở đây có quyền hành, gây cho mình nhiều khó khăn. Số anh em cốt cán trong Quân Đội đều bị Trương Văn Xương, (Đại Tá Tư Lệnh Quân Khu II lúc ấy) gọi lên dằn mặt và cho người theo dõi rát quá. Chừ họ không hoạt động chi được cả. Chú (ông không gọi tôi bằng anh nữa) tính coi có cách chi giải tỏa bớt tình trạng ni được không?

Sau một phút suy nghĩ, tôi thưa lại:

– Thưa ông Cậu, câu chuyện hơi đột ngột, ngay bây giờ con chưa nghĩ ra được cách gì. Xin ông Cậu cho con về suy tính, sáng mai con sẽ xuống thưa lại.

– Được, chú ráng nghe.

Về nhà suy lui tính tới, tôi thấy phải có thêm người rồi mới tính tới làm gì, chứ một mình không thể làm gì được. Mà thêm người thì làm sao phải kiếm được người hoàn toàn tin cậy, công việc mới không bị lộ. Vì tình hình như ông Cẩn vừa cho biết, chắc chắn khu vực Phú Cam, đặc biệt khu nhà ông, bị canh chừng gắt gao lắm.

Moi óc “điểm danh” bạn bè, tôi tìm được hai bạn thân là sĩ quan cùng Tiểu Đoàn có thể đáp ứng yêu cầu của tôi. Một anh thường xuyên ngậm thuốc “liều” là Trần Quốc Thái, Sĩ Quan Truyền Tin Tiểu Đoàn đang nghỉ bệnh tại Huế. Anh kia thuộc loại như người xưa dạy: “Tẩm ngẩm tầm ngầm, đá ngầm chết voi” là Nguyễn Hoàng Bảo. Anh Thái có nhiều sáng kiến và rất hăng hái, sau này làm Quận Trưởng Quận Hương Trà Tỉnh Thừa Thiên, rồi Quận Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam. Tại cả hai nơi, anh đã lập được thành tích xuất sắc trong chiến dịch tố cộng. (anh Thái mới mất cuối tháng 11.2001 tại Orange County, California) Anh Bảo là Sĩ Quan Trừ Bị khóa 1 Nam Định, Trung Đội Trưởng thay tôi ở Đồn Cửa Tùng khi tôi coi Đại Đội 3 và nay là Đại Đội Trưởng Đại Đội này. Sau này anh làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 45, đóng tại khu nhà máy với Long Thọ, Huế (anh Bảo mất vì bệnh tim năm 1964, vợ con anh hiện định cư tại Cannada). Tôi vội lái xe đi kiếm, may mắn gặp được cả hai ở nhà. Tôi “bốc” hai anh chàng lên xe nói là đi bát phố, nhưng tôi đưa về nhà tôi, kể lại việc ông Cẩn mới nói với tôi về đề nghị cả ba người cùng hợp lực làm một cái gì.

Sau một hồi bàn tính, theo ý kiến của anh Thái, chúng tôi, đồng thuận làm một tờ báo bí mật, lấy tên là TRANH ĐẤU. Số báo đầu, bài vở phải được ít nhất hai mươi trang, in ronéo. Riêng tờ bìa sẽ tìm cách thêm in đàng hoàng.

Sau hôm sau, 8 giờ tôi vào gặp ông Cẩn:

– Thưa ông Cậu, việc ông Cậu nói chiều bữa qua, con đã bàn với hai người bạn thân, là Sĩ Quan cùng Tiểu Đoàn. Chúng con xin ông Cậu giúp phương tiện cho tụi con làm một tờ báo bí mật. Vì cách đó không những mình làm cho nhóm Hinh, Xương thấy, ngoài nhóm họ đã biết và đang theo dõi, trong Quân Đội còn có những nhóm khác ủng hộ Ông Cụ và sẽ làm cho nhiều người chú ý đến việc ủng hộ Ông Cụ nữa.

Ông suy nghĩ một chút:

– Ừ, mần như rứa được đó.

– Để thực hiện tờ báo, xin ông Cậu cho chúng con số vật liệu ghi trong miếng giấy này:

1. Máy đánh chữ nhỏ.
2. Một máy in ronéo nhỏ.
3. Một hộp giấy than
4. Một hộp giấy đánh máy.
5. 15 ram giấy và 5 ống mực ronéo.

Nhận miếng giấy từ tay tôi, đọc qua, ông nói:

– Được rồi, chú cứ về, chiều tôi sẽ cho đưa những thứ ni qua cho chú.

Chiều hôm đó, trời vừa chạng vạng tối, hai vợ chồng tôi đang chơi với cháu bé trong hàng hiên trước nhà, thấy một xe xích lô từ từ dừng trước cổng. Một thanh niên từ trên xe bước xuống, tôi nhận ra đó là Ái cháu ông Cẩn. Đến gần tôi, Ái nói nhỏ:

– Ông Cậu nhủ chở ít đồ qua cho anh.

– Anh cho xe vô hẳn trước hiên này đi.

Xe vô trước thềm nhà, Ái xách vô 2 bao bố. Sau khi Ái ra về, tôi mở bao ra coi, đó là một máy đánh chữ loại xách tay hiệu Jappy, một máy quay ronéo hiệu Everest cũng loại xách tay, giấy mực. . . đầy đủ như tôi đã xin. Xếp các thứ vào phòng xong, tôi lái xe đi báo cho Thái và Bảo biết để bắt đầu viết bài. Chúng tôi hẹn nhau sau ba ngày sẽ tập trung bài tại nhà tôi và tính chuyện ấn hành.

Tối ngày thứ ba chúng tôi gặp nhau, bài vở dồi dào. Nhưng khi đề cập đến vấn đề đánh máy chúng tôi mới ngớ ra là cả ba người chẳng ai biết xử dụng máy chữ. Nếu xài cách đánh “mổ cò” thì đến bao giờ báo mới “ra mắt” độc giả được. Tôi phải cầu cứu vợ tôi. Và từ hôm ấy, những ngày tôi nghỉ ở nhà, trừ những lúc vợ tôi phải lo cho cháu bé những việc mà tôi không làm được, tôi phải trông coi nó, ru nó ngủ v. v. . . để vợ tôi đánh máy giúp. Mất hơn một tuần lễ thì số báo ra mắt hoàn tất. Số đầu này chúng tôi “phát hành” 500 tờ, mỗi tờ 20 trang.

Tôi đem một tờ qua cho ông Cẩn coi thử. Cầm tờ báo ngắm nghía rối mở ra đọc lướt qua một hai trang, ông tủm tỉm cười:

– Được, các chú mần được lắm.

– Răng chừ mới phổ biến?

– Dạ, việc phổ biến con đề nghị: Để đánh lạc hướng theo dõi, truy tìm của nhóm Hinh, Xương, con sẽ đưa qua ông Cậu 400 tờ. Xin ông Cậu cho đưa số này vô phổ biến trong các Tỉnh phía Nam càng xa càng tốt như Phú Yên, Nha Trang chẳng hạn. Khi nào ông Cậu được anh em ở Đà Nẵng, Quảng Nam báo cáo đã nhận được báo, ông Cậu cho con biết, con sẽ phổ biến từ đây ra Quảng Trị 100 số còn lại.

– Ừ được.

– Tối nay xin ông Cậu cho anh Ái qua nhà con như bữa đem phương tiện cho tụi con.

– Được, tối Ái nó lên.

Khoảng 8 giờ tối Ái đến bằng chiếc xe xích lô như bữa trước, nhận 400 số báo trong cái bao bố và lên xe đi ra yên ổn. Chừng hai tuần lễ sau Ái lại đến kêu tôi xuống gặp ông Cẩn. Vừa thấy tôi ông Cẩn cười vui vẻ:

– Chú cho phổ biến báo phía ngoài ni đi, trong tê anh em nhận được cả rồi, phấn khởi lắm. Mà chú mô viết mấy bài chửi bọn đó thậm tệ quá rứa?

– Dạ, mấy bài ấy do Trần Quốc Thái viết.

– Chú ni hung dữ hè!

Nội dung tờ báo của chúng tôi mang nhiều tính chất giỡn cợt có pha chút màu “dao búa”, đã làm cho một số sĩ quan cao cấp trong nhóm Hinh-Xương lên ruột. Riêng ông Tiểu Đoàn Trưởng của chúng tôi, một đêm, sau khi đọc số báo đầu tiên do ông Hạ Sĩ già tuỳ phái tên Lợi, kín đáo đặt dưới gối của ông vào buổi tối, sáng hôm sau ông tuyên bố bị đau nặng cần về Huế chữa bệnh. Ông giao quyền chỉ huy Tiểu Đoàn cho Sĩ quan phụ tá, Trung Úy Phan Văn Kế, rồi ra đi và đi luôn không trở lại nữa. Chỉ vì trong số báo ấy anh Trần Quốc Thái đã viết một bài dài như bài sớ, kể rõ mọi hành động không mấy sáng sủa của ông với hai câu kết:

Nhất độc là rắn hoa mai
Thứ nhì D. bụng, thứ ba chó càn.

Việc phát hành tờ ĐẤU TRANH là việc làm khá liều lĩnh của ba chúng tôi. Một công việc đã đem lại cho bọn tôi nhiều hồi hộp mà cũng nhiều thích thú. Theo dõi phản ứng của nhóm Hinh-Xương chúng tôi được an tâm phần nào. Vì hướng tìm kiếm, truy lùng của họ được hướng vào Trung Tá Lê Văn Nghiêm, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn Lưu Động 21 (G. M. 21, viết tắt của tiếng Pháp Groupement mobile 21). Họ cho rằng chỉ có Trung Tá Nghiêm trong cuộc hành quân Atlante (cuộc hành quân tại Phú Yên, trước ngày Hiệp Định Genève được ký kết) đã bắt được máy in của địch, mới có phương tiện làm được tờ báo như vậy.

Chúng tôi tiếp tục cho ra báo bất định kỳ khi một tuần, khi mười ngày, khi ba tuần một số. Mỗi kỳ, chúng tôi đều được ông Cẩn cung cấp đầy đủ mọi vật liệu. Một thời gian sau, đầu tháng 12 Tướng Hinh phải rời Việt Nam theo lệnh của Quốc Trưởng Bảo Đại, các hoạt động mưu phản của phe nhóm ông được giải quyết. Chúng tôi ngưng phát hành tờ TRANH ĐẤU, sau khi cho ra số báo Xuân Ất Mùi (1955).

LỰC LƯỢNG HAI ĐẢNG ĐẠI VIỆT VÀ QUỐC DÂN ĐẢNG LY KHAI

Sau khi Việt Minh phát động cuộc kháng chiến toàn quốc (19.12.1946), ông Ngô Đình Diệm khi ấy đang ở Hà Nội, được Đô Đốc Thierry D’Argenlieu, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương mời đứng ra thành lập Chính Phủ, hợp tác với người Pháp để bảo toàn quyền lợi của hai phía Việt-Pháp. Ông Diệm đã từ chối lời mời này vì điều kiện: “Việt Nam phải được độc lập hoàn toàn và toàn vẹn lãnh thổ” không được thỏa mãn.

Liền sau đó, ông tập họp các cộng sự viên tại Ấp Ngã Tư Sở ở ngoại ô Hà Nội, tuyên bố rõ kế hoạch xây dựng đất nước trong mọi lãnh vực kinh tế, chính trị xã hội. Kế hoạch này nhằm mục đích thiết lập một xã hội dân chủ, tự do công bằng, nâng cao đời sống của người dân để chống lại chủ trương vô sản hóa nhân dân của Cộng Sản. Ông minh định lập trường phải tranh đấu chống thực dân Pháp cho đến khi dành lại được độc lập hoàn toàn. Vì theo ông, đó là con đường duy nhất để giải thoát đất nước về mọi mặt. Bao lâu mục đích ấy chưa đạt được, thì không thể làm được bất cứ điều gì ích lợi cho dân.

Thấy rõ tham vọng của thực dân Pháp, và sự nguy hại của chủ nghĩa Cộng Sản, ông cho biết cuộc tranh đấu sẽ rất cam go, đòi hỏi nhiều hy sinh, cần phải được mọi người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, đảng phái yểm trợ. Để phổ biến lập trường và nhận định trên, ông ủy thác cho ông Ngô Đình Nhu chịu trách nhiệm tại miền Nam. Ông Ngô Đình Cẩn đảm nhiệm miền Trung. Hai ông Trần Trung Dung và Nguyễn Đình Thuần trách nhiệm xuất bản một tờ báo tại Hà Nội. Các ông Lê Quang Luật, Hoàng Bá Chương tức Vinh, Vũ Văn Cương tức Tâm, nghiên cứu thành lập một đoàn thể chính trị có thể tập hợp được toàn dân tham gia cuộc tranh đấu và xây dựng một chế độ “Dân Chủ Xã Hội”cho Việt Nam sau khi thu hồi được Độc Lập. Ba nhân vật này đã thành lập Đảng Xã Hội Công Giáo nhằm thực hiện các mục tiêu hầu đạt mục đích ông Diệm đề ra. Nhưng sau ba tháng hoạt động, nhận thấy danh từ Công Giáo đã làm trở ngại việc tập hợp những lực lượng chống cộng ngoài Công Giáo như: Liên Hiệp ba Hội Cựu Chiến Binh Cứu Quốc của các ông Bạch Văn Sâm, Trần Xuân Diên và Nguyễn Văn Mẫn và Mặt Trận Liên Tôn Chống Cộng của Thượng Tọa Thích Tâm Châu. Mặc dầu các tổ chức này rất tán thành đường lối đấu tranh và chủ trương xây dựng đất nước của ông Diệm. Vì thế ba ông nói trên đã đổi tên Đảng Xã Hội Công Giáo thành Phong Trào Dân Chúng Liên Hiệp. (Vietnam’s War. trang 156)

Được giao đảm trách Miền Trung, ông Ngô Đình Cẩn đã tích cực hoạt động theo đường lối đã được ông Diệm hoạch định. Ông tập hợp những người từng ủng hộ ông Diệm. Phổ biến tư tưởng, lập trường, đường lối đấu tranh, kế hoạch xây dựng đất nước. Ông cũng đã tranh thủ được sự ủng hộ và liên kết của hai đảng Đại Việt và Quốc Dân Đảng tại địa phương.

Khi chấp chánh, tháng 7 năm 1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã thực hiện ngay chủ trương ông hằng theo đuổi: Tạo tình đoàn kết toàn dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái. Ông trao quyền quản trị Tỉnh Quảng Trị cho đảng Đại Việt, hai Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi cho Quốc Dân Đảng. Các chức vụ Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng, cũng như Công An Cảnh Sát, Lực Lượng Võ Trang, đều do các đảng này cử người nắm giữ. Một đảng viên Quốc Dân Đảng, ông Nguyễn Chữ, được giao phó chức vụ Giám Đốc Nha Công An Cảnh Sát Trung Nguyên Trung Phần.

Nhưng thế đoàn kết này chỉ duy trì được có 8 tháng với đảng Đại Việt và 9 tháng với Quốc Dân Đảng. Chủ trương đoàn kết này thất bại đã gây cho Chính Phủ nhiều khó khăn trong tình hình lúc ấy. Ông Ngô Đình Cẩn đã phải bỏ nhiều công sức cố gắng cứu vãn sự đổ vỡ tai hại này. Nhưng việc dàn xếp đã thất bại với đảng Đại Việt chỉ thành công được với Quốc Dân Đảng.

Từ sau khi giải quyết xong vụ ly khai của hai đảng Đại Việt và Quốc Dân Đảng, mỗi lần đề cập đến vấn đề đối lập, ông Cẩn đều nói: “Quan niệm về đối lập của người mình còn non nớt quá, hễ cứ nói đối lập là nghĩ ngay đến việc phải làm mọi cách, bất kể luật pháp, để cướp cho được chính quyền. Đối lập ở nước mình chỉ gây thêm khó khăn, chẳng giúp ích chi cho công cuộc chung”.

THÀNH LẬP VĂN PHÒNG

Qua những biến cố vừa kể trên đây, các đoàn thể, hội đoàn tại miền Trung và Cao Nguyên Trung Phần đều thấy cần phải tái tạo sự đoàn kết đã bị sứt mẻ, tạo sức mạnh dồn mọi nỗ lực vào công cuộc chống cộng, ổn định tình hình hầu thực hiện cuộc cách mạng cải tạo xã hội, canh tân đất nước. Các tổ chức này đã đồng thuận mời ông Ngô Đình Cẩn làm Cố Vấn Chỉ Đạo chung. Vì vậy, ông đã thành lập một văn phòng lấy tên là: “Văn Phòng Cố Vấn Chỉ Đạo các Đoàn Thể Chính Trị Trung và Cao Nguyên Trung Phần”, để phụ giúp ông trong nhiệm vụ này. Ông Cẩn đã xin Quân Đội biệt phái tôi đến làm việc tại văn phòng của ông. Khi ấy tôi đang làm việc ở Văn Phòng Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia Quân Khu II với Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Khôi Tổng Thơ Ký Phong Trào. (Ông Khôi có cấp bậc sau cùng là Đại Tá, hiện ở Thành Phố Garden Grove, Orange County, California, Hoa Kỳ).

Văn Phòng Cố Vấn Chỉ Đạo (thường được gọi tắt như vậy) được đặt tại một căn nhà ba tầng lầu ngay sát cạnh nhà ông Cẩn. Căn nhà này do ông Nguyễn Văn Bửu, một nhà thầu khoán giầu có và là cháu rể ông Cẩn cho mượn.

Về nhân sự khi thành lập văn phòng gồm có:

– Ông Đào Hữu Dương, một Luật Sư từ Sài Gòn ra. Trước kia ông Dương đã có thời gian làm Thẩm Phán tại Tòa Án Huế.

– Ông Phạm Văn Nhu, một nhà giáo chuyên nghiệp, đã từng là Giám Đốc Nha Học Chánh Trung Phần, cựu Nghị Sĩ khối Liên Hiệp Pháp.

– Phía Hành Chánh có ông Hồ Đắc Trọng, hiện ở Thành Phố Gardena, Los Angeles County, California. Hoa Kỳ.

– Phía Quân Sự có tôi.

Mỗi bên có một số nhân viên bốn năm người.

Văn Phòng chính thức hoạt động từ ngày 1. 1. 1956. Ngày khai trương văn phòng có đầy đủ đại diện các đoàn thể, hội đoàn tham dự.

Khi cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến được tổ chức, tháng 3. 1956, hai ông Đào Hữu Dương và Phạm Văn Nhu đều ra ứng cử và đã đắc cử. Từ đó hai ông làm việc ở Quốc Hội không phụ trách gì ở văn phòng Cố Vấn Chỉ Đạo nữa. Tại văn phòng này chỉ còn lại ông Hồ Đắc Trọng và tôi. Hai anh em chúng tôi tuy có phối hợp trong công việc, nhưng mỗi người biệt lập phụ trách công việc theo lãnh vực của mình và thi hành những việc được ông Cẩn giao cho.

HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG

Ngoài công việc thường ngày, tùy tình hình, tùy lãnh vực công việc, ông Cẩn thường giao cho ông Trọng hoặc tôi một số công việc riêng biệt.

Thời gian này có lẽ ông Cẩn đã được giao nhiệm vụ đặc trách về đoàn thể, nên ông bắt đầu thực hiện việc kiểm tra và chỉnh đốn Đảng Cần Lao, vì trong hai năm 1955-1956 Đảng đã phát triển quá nhanh.

Mở đầu chương trình này, cuối năm 1957, sau vụ Tổng Thống Diệm bị ám sát hụt tại Hội Chợ Kinh Tế Ban Mê Thuột, ông chỉ thị cho tôi vào Sài Gòn để cùng với Trung Tá Lê Quang Tung, Chỉ Huy Trưởng Liên Đội Quan Sát (tiền thân của Lực Lượng Đặc Biệt) lên xem xét tại chỗ tình hình Ban Mê Thuột, thăm các cơ sở Đảng tại đây và sau đó, các cơ sở tại Sài Gòn.

Một ngày sau khi từ Ban Mê Thuột trở về Sài Gòn, tôi đến gặp đại diện các cơ sở Đảng thuộc nhóm ông Đào Hữu Dương tại nhà ông, số 9B Đường Tú Xương Sài Gòn. Sau đó, tôi được ông đưa đến sinh hoạt với một số Chi Bộ ở khu vực Chí Hòa và ngã tư Bảy Hiền. Hôm sau nữa, tôi được Bác Sĩ Trần Kim Tuyến cho Đại Úy Nguyễn Thành Hoàng hướng dẫn đi thăm một số cơ sở thuộc nhóm của ông.

Tại cả hai nhóm, cán bộ, đảng viên đều hết sức hăng say và nhiệt tình. Nhưng vấn đề gai góc nhất mà tôi nhận thấy là việc giải quyết đưa lại sự thống nhất lãnh đạo tại Sài Gòn.

Trở về Huế, khi báo cáo kết quả chuyến đi, tôi đã đặc biệt trình bày về tình hình này với ông Cẩn. Ông nói đảng mô cũng rứa, khi đã có chính quyền rồi là bắt đầu chia rẽ vì tranh dành ảnh hưởng, quyền lợi. Tình trạng này phải từ từ giải quyết mới được.

Thường thì một hai năm ông lại sai chúng tôi đi thăm cơ sở tại các Tỉnh một lần. Riêng tôi, ngoài lần đi năm 1957 vừa kể ở trên, năm 1958 được chỉ định đi cùng với ông Nguyễn Văn Hà, Phó Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên. Năm 1960 đi cùng với ông Hồ Đắc Trọng và năm 1961 đi một mình. Mỗi chuyến đi như thế, chúng tôi không có đủ thì giờ và đủ sức đến hết mọi cơ sở, thu thập được hết mọi tin tức, ý kiến, nhận xét sâu sát được mọi khía cạnh về mọi vấn đề: Nhân sự, tình hình các mặt v. v. . . Chưa kể đến việc đụng phải bức tường “thủ khẩu” của địa phương như trường hợp sau đây:

Giữa năm 1962, nhân một chuyến vào công tác tại Đà Nẵng, tôi gặp Đại Úy Nguyễn Hữu Tiến, Trưởng Khu XII An Ninh Quân Đội kiêm Ty An Ninh Quân Đội Đà Nẵng, được anh cho biết: Tại địa phương, có một người tên là Duyên (nếu tôi nhớ không lầm) xưng là mật vụ đặc biệt của ông Cố Vấn. Trong nhà y thiết trí một bàn thờ Tổ Quốc ngay giữa nhà, trên bàn thờ có ảnh ông Cố Vấn. Hắn đã làm tiền nhiều người bằng nhiều hình thức, đến các cơ quan xin thầu đủ thứ nói là để gây quỹ cho đoàn thể và hoạt động tình báo. Anh Tiến hỏi tôi: Anh này có phải là mật vụ của ông cố Vấn thật không?

Nghe câu chuyện tôi nghi ngay anh chàng này chỉ là một tên bịp, nhưng lại tự hỏi: Nếu hắn bịp thì ông Thị Trưởng là người đã từng đứng đầu ngành Hành Chánh tại Thừa Thiên, có thể gặp ông Cẩn bất cứ khi nào để hỏi. Rồi còn các cơ sở đoàn thể dân sự, các cơ quan Công An Cảnh Sát địa phương không ai biết hành động của tên Duyên này sao? Tại sao không cơ quan nào thắc mắc, báo cáo? Hay hắn là người của ông Cậu thật?

Tôi hỏi lại anh Tiến:

– Hắn làm như vậy lâu chưa?

– Khá lâu rồi mà chẳng ai dám đụng tới hắn. Mấy lần thấy chướng quá, tôi đã định tóm cổ hắn, rồi tới đâu thì tới, nhưng lại không dám làm ẩu.

– Thôi được, tôi nói với anh Tiến, ngay sau đây anh cho người theo dõi sát hắn đi, chiều về tôi sẽ hỏi ông Cố Vấn ngay và sẽ tin lại cho anh nội trong tối nay.

Buổi chiều về tới Huế, tôi vào gặp ông Cẩn, sau khi báo cáo kết quả công việc, tôi hỏi ông:

– Trong Đà Nẵng có một người tên là Duyên, xưng là mật vụ đặc biệt của Cậu. Trong nhà hắn có đặt một bàn thờ Tổ Quốc, trên bàn thờ có ảnh của Cậu. Bàn thờ được đặt ngay giữa nhà, bước qua cửa là thấy ngay, nên khi hắn xưng là mật vụ đặc biệt của Cậu ai cũng sợ.

– Mần chi có chuyện nớ. Mấy đứa mần tào lao như rứa mà mấy chú cũng còn hỏi tôi nữa. Làm mật vụ mà khoe khoang trống trải như rứa thì dù có mật vụ thật cũng cứ bắt cổ nó lại, cần chi phải hỏi.

– Con sẽ tin cho An Ninh Quân Đội nhờ bắt hắn ngay tối nay.

– Bắt ngay đi. Hỏi cho ra tổ chức mô, người mô nhủ hắn mần như rứa?

Chừng một tuần lễ sau anh Tiến gửi cho tôi bản khai cung của tên Duyên. Tên này là một đoàn viên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia địa phương. Trong một dịp đến nhà ông Chủ Tịch, hắn đã đánh cắp được tấm ảnh ông Cẩn. Ban đầu hắn chỉ muốn dùng tấm ảnh hù cho thiên hạ ngán chơi thôi. Không dè, dần dà một số dân làm ăn, nhất là những bàn tay không được trơn tru lắm, đã đến xin được nấp bóng hắn. Thấy có vẻ ngon ăn mà lại “hách” nữa, thế là hắn làm tới luôn. Những người làm ăn có uy tín ở Đà Nẵng thời ấy như ông bà Lâm Mỹ Bạch Tuyết (hiện ở Thành Phố Foutain Valley), ông Huy (ở Thành Phố Santa Ana, Orange County, California, Hoa Kỳ) đều có nghe biết chuyện mạo danh của tên Duyên.

Một vụ lợi dụng lớn như vụ tên Duyên trên đây, xảy ra ngay giữa một Thành Phố chỉ cách Huế có 100 cây số mà còn không đến được tới tai ông Cẩn. Thì việc ông ở những nơi xa xôi, trong các làng xã, nhất là lại tận trên Cao Nguyên hay là trong miền Nam, cũng là điều dể hiểu. Đó là hậu quả của thái độ “thủ khẩu như bình” vì sợ bị phiền phức, oán thù, của chính quyền, cán bộ có trách nhiệm tại các địa phương. Thái độ này đã cho thấy rõ tinh thần “cách mạng” của một số không nhỏ đảng viên đảng Cần Lao có chức có quyền hồi đó. Nó đã làm thui chột thiện chí của nhiều cán bộ trung và cấp nhỏ, làm cho Đảng Cần Lao từ năm 1962, gần như hoàn toàn bị tê liệt. Đây là biểu hiện tinh thần của một xã hội chậm tiến.

MỞ MANG GIÁO DỤC

Tất cả các anh em trong gia đình họ Ngô đều có chung một quyết tâm: Thực hiện tiếp nối đường lối cách mạng của thân phụ. Một trong những điểm then chốt của đường lối cách mạng này là mở mang giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài. Vì vậy khi nắm chính quyền, tuy tình hình dân trí của ta đã khá hơn nhiều so với thời Cụ Ngô Đình Khả làm Thượng Thư, Chính Phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng vẫn đặt việc mở mang giáo dục là một trong những ưu tiên hàng đầu.

Một sự thật không ai có thể phủ nhận: Dưới thời Đệ I Cộng Hòa, mặc dầu phải đương đầu phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của Cộng Sản, hệ thống trường ốc, từ Tiểu Học đến Đại Học công, tư đã được mở mang hết sức rộng rãi trong toàn miền Nam. Sách lược xây dựng đất nước cũng đã được đặt trên nền tảng giáo dục.

Về Hành Chánh, Trường Quốc Gia Hành Chánh được cải tiến từ trường sở đến chương trình giảng huấn, để có khả năng đào tạo những nhà cai trị cấp Tỉnh, cấp căn bản của một nền hành chánh độc lập.

Về Quân Sự, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt được cải tiến toàn diện, từ cơ sở đến chương trình đào luyện, nhằm đào tạo những sĩ quan chỉ huy đơn vị Quân Đội không chỉ về kỹ thuật chiến tranh, mà cả về khả năng văn hóa, hiểu biết tổng quát, để khi ra chỉ huy, họ có thể đứng ngang hàng với hàng ngũ sĩ quan của bất kỳ một quốc gia tiến tiến nào. Do chủ trương đó mà tổ chức Trường Võ Bị Quốc Gia đã có thêm Ban Văn Hóa Vụ. Chương trình huấn luyện được tăng từ hai đến bốn năm. Các Sinh Viên Sĩ Quan trúng tuyển kỳ thi văn hóa cuối khóa được cấp bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đã trở thành một Học Viện Quân Sự lớn nhất vùng Đông Nam Á thời bấy giờ.

Về Kỹ Thuật, Trường Kỹ Thuật Phú Thọ đã cải tiến chương trình giảng dạy, để không chỉ đào tạo cấp chuyên viên, mà đào tạo đến cấp kỹ sư cho các ngành chuyên môn.

Môn học “Đạo Đức Chỉ Huy” là một đề tài trọng yếu hàng đầu trong chương trình giảng dạy tại cả ba Trường trên đây.

Tại Huế, ông Cẩn đã tích cực thực hiện chủ trương mở mang giáo dục bằng cách tự tổ chức một số trường tư. Có lần ông nói với tôi, mở được trường học càng nhiều càng tốt. Có nhiều trường học không những chỉ giúp cho tuổi trẻ dễ dàng trong việc học hành, mở mang kiến thức mà còn từ đó, mình có thể lựa chọn được những thành phần có được các đức tính cần thiết, để đào tạo thành các nhà lãnh đạo sau này. Nếu mình có được 10 trường học, mỗi trường có 10 lớp, chọn trong mỗi lớp 1 hoặc 2 học sinh giỏi, hạnh kiểm tốt và có một số đức tính cần thiết, trường trích tiền lời, cấp học bổng cho chúng học đến thành tài, kể cả cho đi du học. Như vậy trong vòng 10 năm, ít nhất mình cũng có được một nửa số đó là cán bộ đủ tài đức, phục vụ cho guồng máy lãnh đạo quốc gia.

Thực hiện chủ trương này, năm 1957 ông mua lại một ngôi trường nhỏ có sáu lớp học của ông Hồ Đình Xuân (ông Xuân hiện ở Pháp), tại Đường Hàng Bè, Thành Phố Huế. Ông đặt tên Trường là Bình Minh và nhờ Linh Mục Nguyễn Văn Lập làm Hiệu Trưởng. Dịp lễ Giáng Sinh năm ấy, ông chỉ thị cho tôi tổ chức lễ tại Trường và cho học sinh ăn liên hoan mừng lễ. Đêm hôm đó mặc dầu trời mưa, ông cũng đã đến dự lễ và tiệc liên hoan với học sinh. Vị Linh Mục chủ lễ đêm hôm đó là Cha Nguyễn Văn Thuận, tức Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận sau này.

Qua năm 1958, ông mua lại ngôi trường Hồ Đắc Hàm trên Đường Lý Thường Kiệt. Ngôi trường này khi ấy do Sở Truyền Tin Quân Khu II trú đóng. Ông đã can thiệp với Quân Khu cấp một địa điểm khác cho Sở Truyền Tin và mở cơ sở chính của Trường Bình Minh tại đó. Trường cũ ở Đường Hàng Bè trở thành chi nhánh. Từ đó hệ thống Trường Bình Minh được giao cho Kỹ Sư Trần Quang Ngọc, Dân Biểu Quốc Hội làm Hiệu Trưởng trực tiếp quản lý và điều hành.

Ông Trần Điền, một lãnh tụ Đại Việt miền Trung bị án 7 năm tù, đã được ông Cẩn không những cho dạy mà còn đặt làm Giám Học tại trường này, thay vì ở tù.

Trong thời gian này ông cũng đã yểm trợ cho Hội Đồng Hương Quảng Bình mở một Trường Trung Học trong khu vực Thành Nội. (khu vực bên trong vòng thành bao quanh khu cung điện Nhà Vua và trụ sở các Bộ).

Năm 1960 ông chỉ thị cho tôi kiếm địa điểm mở một trường riêng cho nữ sinh. Tôi đã tìm đến trụ sở Hội Bắc Việt Tương Tế nằm trên Đường Phan Đình Phùng. Trụ sở khi ấy đang được Quân Đội thuê làm cư xá cho sĩ quan và Đại Úy Hồ Ngọc Tâm đang cư ngụ tại đó (Đại Úy Tâm cấp bậc sau cùng là Đại Tá, hiện ở Thành Phố Westminster, Orange County, California). Tôi phải xin Quân Khu cấp cho gia đình Đại Úy Tâm một căn nhà khác, cấp tốc xây thêm 3 phòng học, nhờ một Giáo Sư Pháp Văn uy tín tại Huế, ông Trần Văn Thông (hiện ở Việt Nam) làm Hiệu Trưởng và điều hành. Trường mang tên là Trường Nữ Trung Học Mê Linh. Cũng trong năm này ông đã yểm trợ cho một số Giáo Sư mở một Trường Trung Học nữa trong khu Tây Lộc cũng nằm trong khuôn viên Thành Nội.

Song song với việc tổ chức mấy Trường tại Huế, ông vẫn nghĩ đến việc tổ chức một vài trường thật quy mô ở Sài Gòn. Vì theo ông, Sài Gòn đông người, thanh thiếu niên phạm pháp. Ông chỉ thị cho tôi kiếm người hợp tác thực hiện kế hoạch này. Qua mấy người bạn là Giáo Sư Trường Trung Học Trung Thu tại Sài Gòn, trong số đó có anh Bùi Văn Thưởng (hiện định cư tại TB Oregon), tôi đã gặp được anh Nguyễn Văn Thức (hiện còn ở Việt Nam). Giám Đốc Trường Trung Học tư thục Hoàng Việt, trên Đường Phan Đình Phùng gần chợ Vườn Chuối. Anh Thức một người có tài tổ chức, thích làm những việc có quy mô lớn, sẵn sàng đứng ra thực hiện kế hoạch mở trường học tại Sài Gòn của ông Cẩn. Tiếc vì vấn đề tài chánh không giải quyết được, nên kế hoạch đã không được thực hiện.

Trong đường hướng giáo dục, ông có quan niệm rất thực tiễn về việc đào tạo thanh thiếu niên. Theo ông, cần tổ chức cho học sinh đi du ngoạn, sinh hoạt trại tại các xùng thôn quê, tạo dịp cho học sinh thấy được phong cảnh sông núi, đất nước, tiếp xúc được với người dân thôn quê, sau này khi làm việc, họ dễ thông cảm với dân chúng hơn. Đây là điểm thể hiện rõ rệt đường lối mở mang dân trí, đào tạo nhân tài và tinh thần yêu quê hương, đất nước và dân tộc mà ông cũng như anh em ông đã nhận được từ thân phụ.

Cụ Ngô Đình Khả khi giữ nhiệm vụ Trưởng Giáo Trường Quốc Học Huế, cùng với Cụ Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, Quản Giáo, hai Cụ luôn luôn khuyến khích học trò học Quốc Ngữ. Ngoài ra. mỗi ngày Chủ Nhật hai Cụ thường dẫn học trò đi thưởng ngoạn các danh lam thắng cảnh của chốn Kinh Đô. Theo hai Cụ, đó là cách tốt nhất để khơi động lòng yêu đất nước quê hương cho tuổi trẻ.

Nhiều lần ông bảo tôi khuyến khích các trường tôi quen biết tại Sài Gòn tổ chức cho học sinh du học sinh du ngoạn các thắng cảnh Huế. Nhưng việc tổ chức một cuộc đi chơi xa cả mấy trăm cây số, cho hàng trăm học sinh là một việc không dễ dàng thực hiện về các mặt: Phương tiện di chuyển, nơi ăn chốn nghỉ. . . chưa kể đến vấn đề an ninh, vấn đề những rủi ro có thể xảy ra dọc đường. Vì vậy mà việc thuyết phục các trường tổ chức những cuộc du ngoạn như thế thật hết sức khó khăn. Tôi lại đến với anh Thức và được anh đồng ý tiên phong tổ chức “cuộc du ngoạn mẫu”.

Hè 1960 anh Thức đã đưa hơn 200 học sinh Trường Hoàng Việt của anh ra du ngoạn Huế. Ông Cẩn đài thọ phần lớn phí tổn cho cuộc du ngoạn này. Đoàn học sinh ở lại đi thăm các thắng cảnh Huế 4 ngày. Phương tiện di chuyển được Quân Đội yểm trợ. Nơi tạm trú được Trường Bình Linh (Trường Pellerin cũ) cho mượn khu nhà của học sinh nội trú. Được yểm trợ tiền ăn, học sinh được tổ chức thành từng toán thay phiên tự đi chợ, nấu ăn.

Ngày cuối, trước khi trở về Sài Gòn, họ cắm trại tại Lăng Minh Mạng, ông Cẩn cho hạ bò, heo. . . đãi họ ăn bữa trưa và tối hôm ấy. Buổi trưa ông đến ăn cơm và chuyện trò với họ, hỏi thăm gia đình từng em rất cởi mở và bình dị.

Mùa mưa năm 1962, vùng Hà Úc, bên bờ phía Đông Phá Tam Giang bị lụt, mùa lụt sắp đến ngày gặp bị ngập úng. Ông Cẩn chỉ thị cho tôi lo phương tiện chở Đoàn Thanh Niên Thiện Chí từ Sài Gòn ra giúp dân chúng thu hoạch kịp trước kia lúa bị hư thối. Theo ông, đây là cơ hội tạo dịp cho thanh niên thành thị thấy sự vất vả, khổ cực của dân chúng thôn quê. Vì là một đòi hỏi cấp bách, tôi đã phải xin Bộ Tổng Tham Mưu cấp một chuyến máy bay quân sự chở hơn 20 anh em đoàn viên do anh Đoàn Trưởng Nguyễn Hy Văn, Sinh Viên Khoa Kiến Trúc Trường Đại Học Sài Gòn hướng dẫn ra giúp họ. Trong số đoàn viên có một Linh Mục Chúa Cứu Thế mà tôi không còn nhớ tên. Anh Nguyễn Hy Văn hiện định cư tại Tiểu Bang Washington.

QUA LÀO BẢO VỆ “TÂY TRƯỜNG SƠN”

Ngày 20.7.1954 Hiệp định đình chiến được ký kết giữa Pháp và Việt Minh tại Genève, chia nước Việt Nam làm hai phần tại vĩ tuyến 17, lấy sông Bến Hải làm đường ranh phân chia hai miền Nam-Bắc. Thấy rõ mưu đồ của các phe ký kết hiệp định, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố: “Nội dung bản Hiệp định đã chất chứa mầm mống một cuộc chiến tranh khác tàn bạo hơn”. Đồng thời, Bộ Ngoại Giao ra tuyên ngôn cực lực phản đối chính phủ Pháp về việc tự ý thỏa hiệp chia đất cho Cộng Sản trái với nguyện vọng Độc Lập-Thống Nhất đất nước của nhân dân Việt Nam, ấn định ngày tổng tuyển cử mà không tham khảo với Chính Phủ Việt Nam. Thủ Tướng Diệm cũng minh định lập trường không có trách nhiệm thi hành một hiệp định mà Chính Phủ của ông không được thảo luận và không ký.

Sau đó, để đối phó với một cuộc chiến tranh như đã tiên kiến, Chính Phủ đã cho áp dụng nhiều kế hoạch nhằm ngăn chận mọi ngã đường Cộng Sản miền Bắc có thể xử dụng để xâm nhập, liên lạc, tiếp viện quân và chiến cụ cho chiến trường miền Nam khi họ phát động cuộc chiến. Các vị lãnh đạo Chính Phủ Việt Nam lúc bấy giờ đều thấy rõ, dãy Núi Trường Sơn là con đường tiếp tế, xâm nhập từ Bắc vào Nam có tính cách chiến lược quan trọng và an toàn nhất. Nếu Bắc Việt xử dụng được con đường này thì phần thắng trong cuộc chiến Quốc-Cộng sẽ lọt vào tay họ.

Để bảo vệ con đường chiến lược sinh tử này, năm 1956 Tổng Thống Diệm chỉ thị cho Quân Khu I thành lập hai đoàn đi thám sát sườn Núi phía Đông thuộc phần đất Việt Nam. Đoàn thứ nhất phụ trách đoạn đường từ sông Bến Hải vào đến địa giới Tỉnh Quảng Nam. Đoàn thứ hai phụ trách đoạn đường thuộc địa phận Tỉnh Quảng Nam vào đến Tỉnh Kontum. Hai đoàn này có nhiệm vụ thám sát những con đường mòn dọc dãy Trường Sơn trong lãnh thổ Việt Nam sang đến biên giới Lào do Phủ Tổng Thống hướng dẫn, tiếp xúc với đồng bào Thượng sống sâu trong các vùng rừng núi hiểm trở, tìm hiểu cuộc sống và các sinh hoạt của họ, dò tìm những con đường bộ đội Cộng Sản thường sử dụng trong cuộc chiến trước đó. Đoàn thứ nhất đã mất một năm và đoàn thứ hai mất hai năm rưỡi để hoàn thành công tác.

Nhưng muốn cho công cuộc bảo vệ con đường chiến lược này đạt hiệu quả, Việt Nam cần phải kiểm soát được cả phần phía Tây Trường Sơn thuộc lãnh thổ lân quốc Ai Lao. Đây là vấn đề gai góc mà Chính Phủ Việt Nam khi ấy không thể giải quyết được bằng đường lối ngoại giao. Vì các Chính Phủ Hoàng Gia Lào thời bấy giờ đều theo đuổi chính sách trung lập thân Pháp, thiên cộng, không hỗ trợ bất cứ một hoạt động chống cộng nào của Chính Phủ Việt Nam. Vì vậy, ông Ngô Đình Cẩn đã đề nghị một kế hoạch bắt thân với các lực lượng chống cộng ở Lào. Cùng lúc, thuyết phục họ hợp tác tổ chức một hệ thống an ninh chung theo dõi mọi hoạt động của lực lượng Cộng Sản Bắc Việt dọc con đường này. Và ông xin lãnh trách nhiệm thực hiện kế hoạch.

Được Tổng Thống Diệm chấp thuận, ông Cẩn khai thác ngay tình trạng của những người miền Bắc vượt Núi Trường Sơn qua Lào tìm đường di cư vào miền Nam để thi hành nhiệm vụ ông đã nhận lãnh.

Do tình hình từ giữa năm 1955, Cảng Hải Phòng bị đóng sau thời hạn 300 ngày quy định trong Hiệp định đình chiến Genève cho dân hai miền Nam, Bắc được quyền di chuyển đến vùng họ chọn để sinh sống. Nhiều đồng bào miền Bắc, nhất là đồng bào ở các Tỉnh hai bên ranh giới Bắc và Trung Phần, gặp nhiều trở ngại từ phía chính quyền Cộng Sản, không kịp di chuyển trong thời hạn được phép. Sau này họ phải dùng đủ mọi phương tiện, bằng đủ mọi cách, vượt biển, vượt rừng, vượt núi, để có thể thoát khỏi vùng Cộng Sản kiểm soát, trong đó có cách vượt biên giới tại vùng phía Bắc miền Trung qua Lào, rồi từ Lào đi vào miền Nam.

Các Chính Phủ Hoàng Gia Lào từ Thủ Tướng Souvana Phouma đến Thủ Tướng Cathay đều giữ lập trường trung lập. Họ không trả những người vượt biên về cho Bắc Việt, nhưng bắt phải tập trung được đủ 50 người họ mới đưa về Sài Gòn một lần. Thời gian chờ đợi cho có đủ số người, vấn đề ăn ở, những người vượt biên phải tự túc. Vì vậy họ đã bị thiếu ăn thiếu mặc một cách bi đát.

Khi biết rõ được tình hình trên đây, ông Cẩn cho hai ông Lê Đình Huệ (mới mất tại Việt Nam tháng 7. 2001) và Hoàng Ngọc Trợ, đem 300.000 đồng lên xin chính quyền địa phương cho phép tổ chức một nhà tạm trú cho đồng bào vượt biên tại Thị Trấn Thakhet. Gửi lại Việt kiều ở đó một số tiền nhờ săn sóc, nuôi ăn, giúp đỡ đồng bào trong khi họ chờ đợi được đưa về Sài Gòn. Thakhet ở vị trí xế bên trên, về phía Bắc, Thị Xã Đồng Hới, Tỉnh Quảng Bình, gần những nơi cửa ngõ từ các Tỉnh cực Bắc Trung Phần mở vào đất Lào. Đây là địa điểm thuận tiện nhất cho việc đón đồng bào vượt biên và liên lạc với nội địa miền Bắc.

Sau khi đã thiết lập được nơi tạm trú cho đồng bào vượt biên, ông Ngô Đình Cẩn cho ông Huệ tiếp tục lui tới giúp đỡ công việc săn sóc đồng bào và qua công việc này, liên lạc kết thân với các chính khách chống cộng tại Lào. Đồng thời tìm hiểu nhân sự giúp bộ phận tình báo đặt một cơ sở tại Thakhet. Từ giữa năm 1956 đến đầu năm 1959, dưới các Chính Phủ Trung Lập Lào, hoạt động của cơ sở tại Thakhet là thiết lập các đường dây liên lạc từ Lào vào nội địa Bắc Việt Nam thâu thập tin tức và đưa nhân viên tình báo xâm nhập miền Bắc. Công tác theo dõi đường xâm nhập vào miền Nam của lực lượng Cộng Sản Bắc Việt từ đất Lào tuy bị hạn chế vì không được chính quyền Lào yểm trợ, nhưng cũng đã thu đạt được nhiều kết quả tốt. Qua tin tức tiếp nhận được từ toán công tác tại Thakhet, kết hợp với kết quả thâu thập được của hai đoàn thám sát của Quân Đoàn I, cuối năm 1958 đầu năm 1959, Tổng Thống Diệm đã quyết định cho đại tu những đoạn Quốc Lộ 14 đã có và làm mới phần chạy qua các Tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên đến Ashao-Alưới Tỉnh Quảng Trị. Năm Quận miền Núi (4 tại Quảng Nam và 1 tại Thừa Thiên) và hơn mười đồn sơn cước được thiết lập trong hai Tỉnh này. Nha Công Tác Xã Hội Miền Thượng được chuyển từ Đà Lạt ra Huế.

Đầu năm 1957, một hôm vào trình công việc, khi chào ông để trở ra ông bảo tôi:

– Chú coi xem trong số cán bộ sĩ quan của mình có ai rành tiếng Lào không?

– Dạ, có Đại Úy Lê Quang Hồng, Trưởng Phòng Nhất Sư Đoàn 2.

– Mai chú đem lý lịch của anh ta xuống cho tôi coi.

Trước kia tôi chỉ biết Đại Úy Hồng, Trưởng Phòng Nhất Sư Đoàn 2 Bộ Binh tại Đà Nẵng, sinh trưởng tại Lào suốt thời niên thiếu anh sống và học ở Lào. Nhưng chừng hai tháng trước, nhân đưa cô cháu từ bên Lào về chơi ra thưởng ngoạn thắng cảnh Huế, anh Hồng đã dẫn cô lại thăm chúng tôi. Trong dịp này tôi được biết rõ thêm, anh nói tiếng Lào như người Lào, biết rành rẽ phong tục tập quán của họ và nhất là anh có nhiều bạn học và học trò đang làm việc trong các cơ quan Chính Phủ, trong Quốc Hội Lào. Sáng hôm sau đem phiếu lý lịch của anh Hồng qua trình ông Cẩn, đợi ông coi xong tôi trình thêm các chi tiết vừa kể. Ông bảo tôi:

– Chú nên viết thơ ngay cho ông Thung, (Trung Tá Đinh Sơn Thung Giám Đốc Nha Nhân Viên Bộ Quốc Phòng) nhủ trình lý lịch Đại Úy Hồng lên Tổng Thống ngay. Nhớ nói Thung trình rõ với Tổng Thống, đây là Sĩ Quan tôi đã trình xin cho qua làm việc tại Tòa Đại Sứ của mình ở Lào.

Khoảng một tháng sau, anh Hồng ra chào ông Cẩn trước khi qua làm việc tại Phòng Tùy Viên Quân Sự Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Vạn Tượng (Vientianne). Anh Hồng đã mất năm 1980 khi đang bị tù cải tạo cùng với tôi tại trại Tân Lập, Tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Việt.

Thời gian này ông Lê Văn Huệ đã kết thân được với nhóm chính khách Hữu phái và Tướng lãnh chống cộng tại Lào do Hoàng Thân Chau Boun Oum, thường được gọi là Roi de Champassak (Vua miền Hạ Lào) và Đại Tá Phoumi Nosavan lãnh đạo.

Hạ bán niên năm 1958, sau khi Đại Tá Phoumi Nosavan vinh thăng Thiếu Tướng, làm Bộ Trưởng Quốc Phòng được ít lâu, một hôm, khoảng bốn giờ chiều, ông Cẩn gọi tôi bảo:

– Lâu ni mình đã liên lạc nhiều với phe Hữu Lào, Lê Đình Huệ đã tiếp xúc với tất cả các Tướng lãnh và nhân vật phe Hữu, mọi chuyện đã sắp xếp xong xuôi. Chú về sửa soạn mai đi với Huệ một chuyến cho biết tình hình bên nớ.

Và ông cho tôi biết, Tổng Thống chấp thuận cung cấp cho họ số vũ khí, quân trang và tất cả những thứ quân đội Pháp để lại và huấn luyện chuyên môn bất cứ ngành nào cho sĩ quan của họ, nếu họ cần. Tóm lại tất cả những đồ về quân sự họ cần mà không đụng chạm tới đồ Mỹ viện trợ thì mình sẵn sàng cung cấp hết. Chỉ yêu cầu họ một điều là cho phép mình tổ chức một màng lưới tình báo để bảo vệ an ninh mạng sườn phía Tây dãy Núi Trường Sơn. Nếu họ đồng ý cùng tổ chức chung, mình sẽ yểm trợ thêm kinh phí và những gì họ cần để thực hiện màng lưới tình báo này.

Đại để như rứa, chú để ý thăm dò lập trường của các Tướng khác ngoài Tướng Phoumi, nếu gặp họ. Chú cũng cho họ biết tôi rất sẵn sàng chu cấp nơi ăn ở, mọi chi phí về học hành, và săn sóc chu đáo cho con các Tướng lãnh và các nhân vật phe Hữu muốn giữ qua học ở đây. Nói xong ông đưa cho tôi một cái hộp nhỏ dài.

– Chú đem theo cái này nói tôi tặng Tướng Phoumi, chúc cho sự lãnh đạo của ông mỗi ngày thêm vững mạnh.

Tôi mở ra coi, đó là cây gậy chỉ huy bằng đồi mồi có gắn 2 ngôi sao bạc.

Khoảng 6 giờ chiều ông Huệ đến cho tôi biết, ông đã xin ông Cẩn cho tôi đi với ông qua Lào một chuyến và hẹn năm giờ sáng hôm sau đến đón tôi. Vì theo ông cần phải đi sớm để kịp đến Savanakhet trước khi trời tối.

Sáng hôm sau, năm giờ ông Huệ đến đón tôi. Chúng tôi tới biên giới khoảng 11 giờ. Qua cầu biên giới chúng tôi được một Trung Tá quân đội Hoàng Gia Lào đón. Ông Huệ giới thiệu với tôi đó là Trung Tá Thong Thanh, Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Tchépone. Trung Tá Thong Thanh hướng dẫn chúng tôi về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu mời ăn cơm trưa. Khoảng hơn 12 giờ, từ giã Trung Tá Thong Thanh chúng tôi trực chỉ Savanakhet. Đến Savanakhet khoảng hơn 6 giờ chiều, chúng tôi tới nghỉ đêm tại nhà một Việt kiều. Chín giờ sáng hôm sau, một máy bay C47 đến đưa chúng tôi đi Vạn Tượng. Tại đây chúng tôi ngụ tại một khách sạn nhỏ. Ba giờ chiều chúng tôi đến Phòng Tùy Viên Quân Sự Tòa Đại Sứ Việt Nam xin cho Đại Úy Lê Hồng Quang cùng đi với chúng tôi trong những ngày chúng tôi ở Vạn Tượng. Bốn giờ, chúng tôi đến thăm Tướng Phouni Nosavan tại tư dinh của ông, bên ngoài không có gì lộng lẫy, cổng không có lính gác, cánh cổng mở rộng, người tài xế đưa chúng tôi vào thẳng trong sân phía sau. Từ trong xe chúng tôi thấy có một người đàn bà trạc khoảng 40 tuổi ngồi dưới thềm nhà cầu nối nhà trên với khu nhà bếp, ông Huệ nói với tôi:

– Bà Phoumi ngồi đó kìa bác.

– Trời! Bà Thiếu Tướng Tổng Trưởng mà xuề xòa quá nhỉ?

Anh Hồng giải thích:

– Người Lào họ sống mộc mạc thế đấy anh ạ!

Ra khỏi xe ba chúng tôi tới chào bà. Vừa lúc ấy Tướng Phoumi cũng về tới, ông người to con, nước da bánh mật trông rắn chắc, mắt nhỏ hơi xếch, đúng dáng con nhà võ. Ông mời chúng tôi vào nhà.

Sau khi được ông Huệ giới thiệu với Tướng Phoumi, tôi chào ông, nói mấy lời chúc mừng ông vinh thăng. Sau đó tôi trao chiếc hộp nhỏ cho ông, chuyển lời ông Cẩn gửi cầu chúc ông.

Ông mời chúng tôi qua quầy rượu tiếp tục câu chuyện và thảo luận. Sau khi ông Huệ nhắc lại những điều đã thảo luận với Tướng Phoumi trong những lần trước, tôi tiếp thêm những điều ông Cẩn dặn. Tướng Phoumi tỏ ra rất thỏa mãn và vui vẻ đồng ý cho tổ chức một màng lưới tình báo hỗn hợp Lào-Việt để bảo vệ an ninh chung dọc biên giới chạy dài theo phía Tây dãy Trường Sơn.

Chúng tôi cáo biệt Tướng Phoumi lúc khoảng 7 giờ tối.

Sáng hôm sau, 9 giờ chúng tôi đến thăm Tướng Ouane Ratthikoune, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Hoàng Gia Lào. Xe chở chúng tôi băng qua khu đồi nơi hàng năm được dùng tổ chức hội chợ Tết That Luong, đi vào con đường độc đạo qua một khu ruộng khá rộng để đến khu biệt thự phía bên kia.

Lại một cảnh tượng biểu hiệu cuộc sống vô tư, thanh thản của giới quyền cao chức trọng trong xã hội Lào.

Số là khi xe bắt đầu đi vào con đường độc đạo, trông thấy một ngôi biệt thự 3 tầng lầu ở đầu đường phía bên kia, cao và bề thế hơn tất cả các biệt thự cùng dãy, tôi hỏi ông Huệ:

– Tư dinh Tướng Ouane Ratthikoune là ngôi nhà lầu kia phải không bác?

– Không, đó là nhà của một Đại Úy Công Binh đấy.

Tới đầu đường, xe quẹo phải, tiến vào sân một biệt thự trệt khiêm nhượng hơn nhiều, sát cạnh ngôi biệt thự lầu vừa kể. Xuống xe chúng tôi được một người đàn ông hướng dẫn vào phòng khách. Chừng vài phút sau Tướng Ouane Ratthikoune từ một phòng bên cạnh bước ra.

Sau khi nghe ông Huệ thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Tướng Phoumi và chúng tôi chiều hôm trước, Tướng Ratthikoune hoàn toàn đồng ý những gì Tướng Phoumi đã nói với chúng tôi và ông thêm:

– Quả thật những nhu cầu của Quân Đội chúng tôi thật là cấp bách. Lính Pathet Lào được sĩ quan của quân đội Cộng Sản ở ngay trong khu của họ huấn luyện kỹ càng. Đặc biệt là có nhiều đơn vị quân Cộng Sản việt nam trà trộn, nên hoạt động của họ từ những ngày gần đây trở nên mạnh và rất nguy hiểm. Để đối phó với tình hình này, chúng tôi phải tuyển mộ thêm quân. Vì vậy đồ trang bị của Quân Đội chúng tôi đã thiếu hụt lại càng thiếu hụt thêm. Tân binh không đủ thì giờ để được huấn luyện chu đáo. Chúng tôi hết sức lo ngại về tình hình này.

Và cũng như Tướng Phoumi, ông rất mong muốn có một tổ chức an ninh hỗ tương dọc biên giới hai nước theo dãy Núi Trường Sơn.

Sau một vào trao đổi về quan niệm hợp tác và về tình hình, chúng tôi rời tư dinh Tướng Ouane Ratthikoune lúc gần 12 giờ.

Trong những ngày ở lại Vạn Tượng, ngoài hai vị Tướng lãnh vừa kể, chúng tôi cũng đã được gặp thăm một vài chính khách Lào như cựu Thủ Tướng Cathay. Tôi được nghe vị cựu Thủ Tướng này là người gốc Việt Nam, tên Việt của ông là “Cả Tài”. Ông Cathay quả có tác phong một chánh khách, ông nói chuyện chậm rãi, từ tốn. Ông không ưa Cộng Sản nhưng lập trường không cứng rắn và cương quyết như hai vị Tướng chúng tôi đã được gặp.

Buổi tối trước ngày rời Vạn Tượng, chúng tôi được một gia đình Việt kiều gốc Bắc Việt, mời ăn một bữa cơm bình dân có riêu cua chính hiệu, ăn với rau riếp thái nhỏ. Một món ăn rất bình dân, rẻ tiền, có thể nói là không tốn tiền. Vì chỉ cần một người xách giỏ ra đồng lúa chừng một tiếng đồng hồ là có một giỏ cua. Và mất nửa tiếng đồng hồ nữa là cả gia đình có một nồi riêu cua thơm phức, gạch cua nổi váng vàng, béo ngậy, ngon không tả được. Bữa cơm này gợi lại cho tôi nhiều hình ảnh thân thương thời thơ ấu, làm tôi nhớ tới làng quê tôi quá chừng.

Sau ba ngày ở Vạn Tượng, sáng ngày thứ tư, Tướng Phoumi cho máy bay đưa chúng tôi về lại Savanakhet. Tại sân bay Vạn Tượng chúng tôi được gặp Hoàng Thân Chau Boun Oum, lãnh tụ của phe Hữu Lào, ông người to lớn, giọng nói sang sảng. Cũng như các vị Tướng lãnh chúng tôi đã được gặp, ông tỏ ý rất mong sự hợp tác giữa Việt Nam và Lào sớm được thực hiện.

Về lại Savanakhet, sáng hôm sau chúng tôi đến thăm Tướng Rattanasammy Sing, Tư Lệnh Quân Khu III, tức Quân Khu Savanakhet, tại ngôi nhà mát của ông. Một ngôi nhà sàn dựng trên một hồ rộng có thả sen thật thơ mộng, ở vùng ngoại ô Savanakhet, trên đường từ biên giới Việt-Lào đến Savanakhet. Buổi tối chúng tôi được ông Boun Thong, bào huynh phu nhân Tướng Phoumi Nosavan, mời dự bữa cơm gia đình. Trong bữa cơm này tôi được gặp ba vị Tư Lệnh Quân Khu của Quân Đội Lào, các Tướng: Sing vừa kể trên, Kouprasit Abhay và Bounpone Makthepharak, chỉ thiếu có Tướng Amkha, Tư Lệnh Quân Khu Bắc Lào. Theo ông Boun Thong, vì tình hình an ninh khu vực, Tướng Amkha không rời Quân Khu được.

Quả đúng như Tướng Phoumi đã nói với chúng tôi, các vị Tư Lệnh này đều rất nôn nóng sớm nhận được sự hỗ trợ từ phía Việt Nam.

Đến đây, thiết tưởng tôi nên kể hầu quý độc giả mẫu chuyện vui trong bữa ăn cuối cùng này tại xứ Lào, như lời giã biệt những người con yêu của dân tộc Lào hiếu hòa và rất hiếu khách, mà tôi đã được hân hạnh gặp gỡ chỉ một lần. Vì không bao giờ còn cơ hội cho tôi có thể gặp lại họ.

Thực khách trong bữa ăn có một vị nữ lưu duy nhất là bà Boun Thong. Bà mang hai giòng máu Lào-Pháp, duyên dáng, hoạt bát, gần như bà đóng vai “hoạt náo viên” trong bữa ăn. Khi biết tôi là người miền Bắc Việt Nam lại đã từng học tại Hà Nội, bà tự giới thiệu là cựu học sinh Trường Sainte Marie, (trường của các nữ tu Dòng Bác Ái Thánh Phaolô) bà đã trải qua suốt thời niên thiếu tại trường này. Bà đã rành rẽ và còn nhớ những món quà mà giới học sinh mọi thời của Hà Nội rất ham thích như: Thịt bò khô, bánh tôm, phá xang v. v. . . Bà hỏi tôi có hay ăn những món ấy không? Và bà rất lấy làm thích thú khi tôi trả lời: Tôi là khách thường trực của “bánh tôm Cổ Ngư”.

Để đáp lễ, tôi hỏi lại bà: Bà còn nhớ “xấu dầm” không? (Trái xấu ngâm với thứ nước ngọt do người Tàu chế biến, một món quà luôn được các nữ sinh tận tình chiếu cố) Mọi người trong bàn tiệc đều phá lên cười khi tôi giả giọng người rao bán món quà này.

Như để tỏ lòng khâm phục sự hiểu biết “rộng rãi” của tôi, bà đã tiếp cho tôi một chú ếch nhồi thịt do chính tay bà làm.

Cũng như món riêu cua của miền quê tôi, những món đặc sản của mỗi miền, mỗi món đều có một hương vị đặc biệt, nó làm cho thực khách không thể quên được miền đất đã đi qua.

Về lại Huế, sáng hôm sau tôi vào báo cáo với ông Cẩn kết quả chuyến đi. Sau khi nghe tôi trình bày, ông chỉ thị cho tôi:

– Chú về viết phúc trình lên ông Cụ (Tổng Thống Diệm) ngay, nhấn mạnh vào tinh thần các Tướng lãnh và sự khẩn thiết của họ. Xin ông Cụ chỉ thị Quân Đội đáp ứng yêu cầu của họ càng sớm càng tốt kẻo lỡ cơ hội. Chiều đưa vô cho tôi.

Ít lâu sau Đại Úy Nguyễn Đình Chi, Sĩ Quan An Ninh Quân Đội thuộc Khu XI An Ninh Quân Đội ở Huế, được đưa qua tăng cường cho Phòng Tùy Viên Quân Sự Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Vạn Tượng. Ông phụ trách chỉ huy mạng lưới tình báo hỗn hợp Lào-Việt vừa được thành lập từ việc mở rộng cơ sở tổ chức tại Thakhek năm 1956. (Đại Úy Chi có cấp bậc sau cùng là Trung Tá. Ông tự sát trưa ngày 30.4.1975 tại Cục An Ninh Quân Đội) Từ khi được chính thức tổ chức thành mạng lưới này mở rộng tại nhiều vùng, đặc biệt dọc hành lang Trường Sơn xuống đến Paksé miền Nam Lào. Hoạt động của mạng lưới này đã phát hiện nhiều vụ xâm nhập của lực lượng Cộng Sản Bắc Việt, giúp cho chính quyền Lào ngăn chận được nhiều cuộc xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt nhằm hỗ trợ Pathet Lào tấn công quân phe Hữu. Đặc biệt khi Hà Nội mở chiến dịch khởi sự công trình thực hiện đường mòn Hồ chí Minh vào hạ bán niên 1959, các lực lượng có nhiệm vụ ngăn chận xâm nhập đã nhận được nhiều tin tức giá trị của mạng lưới này. Giữa năm 1962, khi Lào bị Trung Lập hóa, mạng lưới này đã phải ngưng hoạt động.

Tiếp đến là các đồ quân trang, quân dụng, súng đạn, quân đội Pháp để lại được “viện trợ” cho quân đội bạn qua ngã đường số 9. Ba xe GMC của Tiểu Đoàn Pháo Binh Quân Khu II biệt phái, được sơn màu dân sự, đảm trách việc chuyên chở trong nhiều tháng. (Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Pháo Binh này là Đại Úy Lê Văn Trang, có cấp bậc sau cùng là Đại Tá, hiện ở Tiểu Bang Virgina, Hoa Kỳ). Đến đầu năm 1959 Trung Tâm Huấn Luyện Sĩ Quan Chiến Tranh Tâm Lý của Đại Úy Cao Đăng Tường (cấp bậc sau cùng là Đại Tá hiện ở Dallas, Texas) tiếp nhận toán sĩ quan đầu tiên của Quân Đội Hoàng Gia Lào qua thụ huấn về kỹ thuật Thông Tin Tuyên Truyền, Tâm Lý Chiến và Dân Sự Vụ. Một số ít hơn được học về các ngành chuyên môn khác. Một số con cái các Tướng lãnh Lào cũng được đưa về học tại Huế. Họ được sắp xếp cho ăn ở trong gia đình ông Lê Đình Huệ.

Sự hợp tác giữa Việt Nam và Lào đang đi vào thời kỳ thật sự tốt đẹp thì chính tình Lào xảy ra những biến động bất lợi cho Hữu phái.

Hạ bán niên 1960, trong lúc tại Hoa Kỳ cuộc tranh cử Tổng Thống bước vào giai đoạn chót với những hoạt động ráo riết và quyết liệt, thì tại Lào, khối cộng yểm trợ thúc đẩy Coongle, một Đại Úy Nhảy Dù, làm cuộc đảo chánh Chính Phủ Phoumi Nosavan. Sau khi tuyên bố đảo chánh, Coongle kêu gọi Bắc Việt hỗ trợ để đối phó với sự phản công của phe Hữu. Hành động trên đây của Coongle cốt để hợp pháp và công khai hóa sự xâm nhập đất Lào của lực lượng Cộng Sản Bắc Việt. Tiếp theo biến cố này là cuộc thoát ngục rất “đúng lúc” của ông Hoàng Souphanouvong, lãnh tụ Pathet Lào (Cộng Sản Lào). Sau đó, một chính phủ gọi là Liên Hiệp do ông Souvana Phouma, một cựu Thủ Tướng có lập trường trung lập thiên cộng cầm đầu được thành lập. Nắm chính quyền, Phouma liền mở rộng cửa cho khối cộng chiếm đóng lãnh thổ Lào bằng việc chính thức yêu cầu Liên Sô và Trung quốc viện trợ. Đến tháng 12.1960 Tướng Phoumi Nosavan lấy lại được quyền hành thì Coongle đem Tiểu Đoàn Nhảy Dù của ông ta chính thức gia nhập lực lượng Phathet Lào.

Với đồ quân viện của Liên Sô, Trung Cộng, quân lính của Việt Cộng, Lào Cộng xua quân mở nhiều cuộc tấn công lớn, trong khi quân của phe Hữu chưa đủ cứng cáp. Cuối năm 1960 Lào Cộng đánh chiếm cứ điểm Sầm Nứa, qua đầu năm 1961 tiến chiếm khu vực cánh đồng Chum và gần một chục Thị Trấn trong vùng Bắc Lào. Tình hình mỗi ngày thêm nguy ngập, Tướng Phoumi Nosavan đích thân qua Sài Gòn cầu viện. Quân trang quân dụng của quân đội Pháp còn lại từ các kho Trung Ương được cấp tốc chuyển qua cho quân đội Lào bằng nhiều phương tiện. Sự yểm trợ này đem lại hiểu quả về mặt tinh thần cho họ nhiều hơn là mặt thực dụng của đồ “viện trợ”. Phần thiếu cương quyết của tân chính phủ Kennedy, lực lượng phe Hữu Lào suy sụp nhanh chóng.

Khi lên nắm quyền, để đối phó với Cộng Sản, Tổng Thống Kennedy chủ trương “Phải trang bị Thanh Gươm và cành Ô Liu cùng một trật”. Nhưng rất tiếc, “Thanh Gươm” này đã bị gãy ngay trong cuộc thị uy đầu tay của ông tại Vịnh Con Heo vào cuối tháng 4. 1961. Thất bại này đã ảnh hưởng nặng nề lên quyết định giải quyết tình hình Lào của ông.

Trong chiến lược ngăn chận Cộng Sản ở vùng Đông Nam Á, Tổng Thống Kennedy vốn chủ trương không nên can thiệp vào Lào vì đường tiếp tế khó khăn. Sau thất bại trên đây, ông liền thực hiện ngay chủ trương ấy bằng cách cho đem “Cành Ô Liu” cắm lên xứ Lào. Việc dàn xếp một cuộc hòa đàm để trung lập hóa Lào quốc được tăng tốc độ.

Cuộc hòa đàm khởi sự vào giữa năm 1961 tại Genève và kết thúc bằng một Hiệp Định Trung Lập Hóa nước Lào được ký kết vào tháng 7. 1962. Phe Hữu Lào bị hy sinh.

Tại Sài Gòn các vị lãnh đạo Đệ I Cộng Hòa hết sức bất bình với việc ký kết bản hiệp định này. Họ thấy trước hiểm họa Bản Hiệp Định sẽ đem lại cho miền Nam Việt Nam, khi con đường huyết mạch xâm nhập Bắc-Nam, “hành lang Trường Sơn” sẽ được bỏ ngõ cho Cộng Sản Bắc Việt.

Điều khoản then chốt của hiệp định này là, quân đội ngoại quốc thuộc cả hai phe tự do và Cộng Sản phải rút hết khỏi Lào. Chính quyền Kennedy với chủ trương không can thiệp vào Lào, đã thi hành hiệp định một cách hết sức đứng đắn, rút hết lực lượng và nhân viên khỏi xứ Lào theo đúng lịch trình ấn định trong thỏa hiệp. Họ cũng làm ngơ trước những vi phạm thỏa hiệp của khối cộng, để cho phe Hữu Lào tự lực cánh sinh chiến đấu một mình.

Trong khi đó quân đội Pathet Lào không những được bộ đội Cộng Sản Bắc Việt vẫn trà trộn bên trong, họ còn được khối cộng tăng viện nhiều hơn qua ngã Bắc Việt mà không gặp phải bất cứ sự phản kháng nào.

Tướng Phoumi Nosavan và các Tướng lãnh phe Hữu đã phải huy động toàn lực, tận dụng tất cả những gì họ có, chống trả hậu quả của hiệp định quái ác ấy. Họ cố gắng cầm cự với hy vọng chờ ngày những người bạn Việt Nam ca khúc khải hoàn.

Nhưng thật bất hạnh! Niềm hy vọng của họ đã mau tan thành mây khói. Vì chỉ hơn một năm sau, ngày 1.11.1963, nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam, người bạn chân thành tận tụy duy nhất của họ cũng lại bị chính quyền của Tổng Thống Kennedy hủy diệt một cách còn phũ phàng, tàn nhẫn hơn họ nữa.

Lực lượng phe Hữu Lào trong cảnh đơn độc đã hoàn toàn bị tê liệt. Bị rơi vào tình cảnh tuyệt vọng. Tướng Phoumi Nosavan đành qua sống lưu vong tại Thái Lan năm 1964 và mất tại đó.

VỤ GIÁN ĐIỆP PHÁP

Thượng bán niên năm 1957, tôi nghe loáng thoáng trong công tác điều tra phanh phui một tổ chức gián điệp do Pháp gài lại trước khi rút đi, một vài viên chức hữu trách lợi dụng chức vụ làm tiền các phạm nhân.

Một người khá thân tín của ông Cẩn lúc ấy cũng đã bị ông loại bỏ. Vì người này mưu tính làm tiền ông Nguyễn Văn Yến, chủ khách sạn Morin Frères can tội làm kinh tài cho tổ chức gián điệp Pháp.

Khi được biết một người thân cận của mình mưu tính đặt giá cho việc xin cho ông Yến được tại ngoại, ông Cẩn đã nhờ Khu An Ninh Quân Đội tìm cách ghi âm cuộc trả giá. Hai người thực hiện việc ghi âm này là Trung Úy Lê Văn Phó (cấp bậc cuối cùng là Trung Tá, hiện định cư tại San Jose, California Hoa Kỳ) và Thượng Sĩ Phạm Văn Vệ (cấp bậc cuối cùng là Đại Úy, hiện ở Thành Phố Wesminster, Organge County, California) Sau khi nhận được cuốn băng, ông Cẩn đã mời người can dự đến cho nghe và từ đó ông không còn tin dùng người đó nữa.

Qua vụ trên đây, ông Cẩn thấy phải ngăn chận ngay việc sách nhiễu phạm nhân để bảo đảm cho việc khám phá vấn đề quan trọng này đạt kết quả tối đa. Ông yêu cầu Nha Công An Cảnh Sát giao hồ sơ nội vụ cho anh Phan Quang Đông, Trưởng Ban đặc trách miền Bắc của Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xã Hội Phủ Tổng Thống thụ lý với toàn bộ nhân viên Ban Khai Thác của Nha này.

Anh Phan Quang Đông là người Nghệ An. Khi Hiệp định Genève được thi hành, anh bị kẹt lại ở vùng quê. Trên đường vượt biên giới qua Lào để vào miền Nam, khi vượt dãy núi Trường Sơn có ngày anh đã phải ăn cỏ để sống. Giữa năm 1955 anh được Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội Phủ Tổng Thống tuyển dụng và gửi đi học về phản gián. Sau khi mãn khóa học anh được đưa ra Huế phụ trách mạng lưới phía Bắc Trung Phần, hoạt động hướng vào nội địa miền Bắc Việt Nam.

Thời gian phụ trách phanh phui vụ gián điệp này, một đôi lần đến nhà tôi chơi, anh Đông có kể sơ qua về diễn tiến và kết quả cuộc điều tra. Tôi nghe vậy cũng biết vậy thôi, không để ý đi sâu vào công việc anh đã được giao. Vì đó là cách làm việc của ông Cẩn như tôi đã nói ở đầu phần này. Hơn nữa lại là việc bên dân sự, tôi không có trách nhiệm gì trong đó.

Nhưng khoảng tháng 9.1961 một buổi sáng, Đại Úy Phạm Bá Thích Trưởng Khu 11 An Ninh Quân Đội Huế đến văn phòng nói với tôi:

– Anh Minh à! Tôi mới nhận được lệnh Nha bắt làm việc ni mà thấy khó quá, anh biểu tôi phải mần răng đây?

Vừa nói anh vừa đưa cho tôi một công điện mang nội dung: “Thừa lệnh Thượng Cấp Tối Cao, yêu cầu quý Khu tái điều tra vụ gián điệp Pháp, phúc trình kết quả trong thời gian sớm nhất”. Người gửi là Đại Tá Đỗ Mậu Giám Đốc An Ninh Quân Đội. Đưa trả công điện lại cho anh Thích tôi nói với anh:

– Lệnh của Tổng Thống thì ai cũng phải thi hành. Ông Cố Vấn cũng vậy thôi. Nhưng để khỏi xảy ra hiểu lầm giữa anh và anh Đông, bây giờ anh đem công điện này ra cho anh Đông coi và cho anh ấy biết, anh sẽ xin gặp ông Cố Vấn để xin chỉ thị. Sau đó hai anh em cùng hợp tác thi hành lệnh của Tổng Thống theo chỉ thị của ông Cố Vấn. Sau khi gặp anh Đông rồi, anh trở lại đây tôi sẽ đưa anh vào gặp ông Cố Vấn.

Khi anh Thích trở lại, tôi cầm tấm bìa đựng công điện dẫn anh xuống gặp ông Cẩn. Vào nhà trên không thấy ông, tôi đi thẳng ra ngôi nhà tranh nhỏ phía sau vườn, ông đang ngồi vót nan cho người làm trong nhà đan thúng. Như mọi lần, thấy tôi vào có cầm giấy tờ, ông đứng dậy đi ra gần khóm tre cạnh đó. Ông hỏi tôi:

– Có chi rứa chú?

– Thưa Cậu, có lệnh Tổng Thống chỉ thị tái điều tra vụ gián điệp Pháp.

Tôi mở tấm bìa đọc công điện cho ông nghe. Đọc xong công điện tôi trình tiếp: Con nghe nói vì có người làm đơn khiếu oan. (trước đó ít lâu tôi có nghe phong thanh trong vụ gián điệp Pháp có hai người làm đơn kêu oan)

Ông đổi sắc mặt, nghiêm giọng nói:

– Chết cha! Răng mà lại mần oan cho người ta!

Rồi ông bảo tôi:

– Chú ra nói với Đông, Thích cần bất cứ hồ sơ nào phải đưa qua đầy đủ, cần gặp bất cứ ai phải cho gặp.

Quay qua anh Thích ông nói:

– Còn chú, ra nói với Đông, hai anh em phối hợp với nhau mần lại vụ này cho thật cẩn thận, không được để oan cho một người mô. Mình mần oan cho một người, thì Chúa Ngài phạt không phải chỉ đời mình mà thôi, mà cả đến đời con đời cháu mình nữa đấy.

Kết quả cuộc tái điều tra thế nào tôi không được rõ. (Đại Úy Thích có cấp bậc sau cùng là Trung Tá. Sau 30.4.1975 bị tù cải tạo và mất giữa năm 1983 trong thời gian được tạm tha về nhà chữa bệnh)

Sau này hỏi lại ông Hồ Đắc Trọng, ông Trần Văn Hương, Trưởng Ty Cảnh Sát Huế thời gian khám phá ra vụ này, hiện ở Long Beach, California và ông NTT, Trưởng Phòng Hành Chánh Nha Cảnh Sát Thương Nghiệp Thành Phố hiện còn ở Việt Nam, tôi được biết:

Trong một cuộc kiểm soát sổ gia đình tại khu Bao Vinh, thuộc Quận Ba Đình, Thị Xã Huế, Cảnh Sát bắt được một bức thơ nội dung có nhiều điểm khả nghi. Từ đó theo dõi, điều tra mới phát giác ra đầu mối một màng lưới gián điệp, do Pháp tổ chức cài lại trước khi rút lui đi.

Ban đầu, nội vụ được Ban Điều Tra của Nha Công An, Cảnh Sát do ông Vũ Đình Ban thụ lý. Nhưng như tôi vừa nói ở trên, ông Cẩn đã yêu cầu chuyển nội vụ qua cho anh Phan Quang Đông tiếp tục thụ lý chính là để tránh tình trạng một vài người có ý muốn lợi dụng chức vụ, quyền thế làm tiền các nạn nhân.

Liên quan trong vụ này có một số người Việt Nam có quốc tịch Pháp, tất cả đều là nhân viên công an từ thời Pháp. Chính phủ Pháp đã can thiệp xin nhận và đưa toàn bộ gia đình họ về Pháp. Người đầu đàn của nhóm này là ông Mathieu Trọng, người làng Phú Cam.

Ông Hồ Đắc Trọng, người có mặt trong phiên tòa cuối cùng xử anh Phan Quang Đông với tư cách nhân chứng kể lại: Trong phiên tòa bữa ấy, anh Phan Quang Đông đã trình trước tòa rằng:

– Tổng Trưởng Tài Chánh Pháp đã qua thương lượng và viện trợ cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa 10 đầu máy xe lửa chạy bằng dầu cặn (diesel).

– Ông Nguyễn Văn Yến, người phụ trách kinh tài của tổ chức gián điệp Pháp đã giao nạp hơn một triệu đồng (1.000.000). Tôi trình sự việc cho ông Cẩn, ông bảo tôi giữ và dùng số tiền ấy để nuôi ăn những người bị bắt.

Ông Trọng cho biết thêm:

“Anh Đông đã xuất trình trước Tòa sổ sách chi tiêu số tiền này. Nhưng lời khai của anh Đông đã bị Tòa bỏ qua không xét tới”.

Tôi được Trung Tá Lê Thiện Phước hiện ở Thành Phố Garden Grove, Orange County, California kể lại: “Trong những năm ở tù cải tạo, có thời gian tôi (Trung Tá Thiện Phước) đã ở chung trại với cựu Trung Tá P. C. C, một sĩ quan thuộc Phòng Nhì Quân Đoàn I được cử làm Trưởng Ty Cảnh Sát Huế sau cuộc đảo chánh 1.11.1963. Khi ấy anh PTC, có cấp bậc Trung Úy. Anh C. đã nói với tôi:

“Tôi khám xét nhà Phan Quang Đông chẳng thấy gì ngoài các hồ sơ hoạt động đưa người ra Bắc. Tôi biết việc bắt Phan Quang Đông là tầm bậy, nhưng lúc đó làm sao dám nói ra” .

Mùa Hè năm 1996, trong một chuyến qua thăm mấy người bà con tại Orange County, California, Linh Mục Đỗ Bá Ái, nguyên Giám Đốc Sở Tuyên Úy Công Giáo Quân Khu II thời Đệ Nhất Cộng Hòa, hiện định cư theo diện cựu tù cải tạo, tại Tiểu Bang Pennsylvania, Hoa Kỳ, đến thăm tôi. Lâu ngày mới gặp nhau, hai cha con tôi nói đủ thứ chuyện từ quá khứ đến hiện tại và cả tương lai nữa. Trong những chuyện thời xa xưa Cha kể lại, tôi được biết thêm một điều khá quan trọng liên quan đến vụ án “gián điệp miền Trung” trên đây. Cha Ái kể rằng:

“Đại Úy Phạm Bá Thích sau khi được Đại Tá Đỗ Mậu thừa lệnh Tổng Thống, chỉ thị tiá điều tra vụ “gián điệp miền Trung” đã rất lo lắng. Mặc dù là Trưởng Khu An Ninh Quân Đội, Đại Úy Thích cũng chỉ biết và có ý nghĩ không mấy tốt đẹp về vụ này như phần đông các người khác, kể cả nhiều viên chức chính quyền. Nhất là nội vụ lại được anh Phan Quang Đông làm việc trực tiếp với ông Cẩn. Vì vậy, anh lúng túng không biết phải làm sao, anh đã chạy đến xin Cha Ái giúp ý kiến.

Cha Ái cũng nghĩ rằng, việc của ông Cẩn làm mà đụng đến ông thì sẽ gây ra nhiều rắc rối. Vì thế Cha thấy cần phải được hoàn toàn bình tĩnh và thanh thản, mới hy vọng giúp cho anh Thích những ý kiến hữu ích. Cha nói với anh: “Bây giờ Cha con mình làm một tuần ba ngày, xin Thánh Linh Chúa soi sáng cho biết phải làm thế nào. Trong ba ngày này Cha sẽ dâng thánh lễ cầu nguyện theo ý đó”.

Cha Ái cũng cho tôi biết, chính ngài là linh hướng của gia đình cựu Trung Úy Kỷ. Ngài biết việc cựu Trung Úy Kỷ làm đơn khiếu nại bị bắt oan và đã nhờ Cha Nguyễn Văn Tin, một bạn học cùng lớp với Đức Giám Mục Ngô Đình Thục hồi nhỏ, chuyển đến xin Đức Tổng Giám Mục giúp trình với Tổng Thống.

Như tôi vừa kể ở trên, ông Cẩn rất ngạc nhiên khi được biết có người bị bắt oan trong vụ này. Điều tôi muốn nói ở đây là sự việc xảy ra rõ ràng như vậy, chính ông Đỗ Mậu thừa lệnh Tổng Thống Diệm, ra lệnh cho Đại Úy Thích tái điều tra vụ “gián điệp miền Trung” vậy mà trong hồi ký “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” của ông, ông lại viết rằng:

“. . . . . không ngờ vào năm 1963, khi Giám Mục Ngô Đình Thục hoán chuyển ra Huế. . . . Đầu năm 1963, những nạn nhân của vụ án, nhân dịp anh em Ngô Đình Cẩn và Ngô Đình Thục đang mâu thuẫn nhau vì tranh lợi nên họ lợi dụng thế yếu của Cẩn trước uy quyền của Thục, và lợi dụng Thục cũng là tay tham lam vô độ, bèn khơi lại nỗi oan ức từng làm tan nát gia đình họ và nhờ một Linh Mục tên Kỷ (vốn là cộng sự viên thân tín của Thục) vận động với Thục để nhờ giải oan. Ngô Đình Thục tức tốc ra lệnh cho Đại Úy Trần Thích Chánh Sở An Ninh Quân Đội tại Huế thụ lý nội vụ. Vì là vấn đề tế nhị, Thích bèn bay vào Sài Gòn để xin chỉ thị của tôi”. (trang 532)

Chỉ đọc 10 dòng trong hồi ký Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của ông Đỗ Mậu được trích dẫn trên đây, người ta đã thấy năm điểm sai không thể chấp nhận được đối với một vị Giám Đốc ngành An Ninh Quân Đội.

1. – Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục từ Giáo Phận Vĩnh Long ra trị nhậm Tổng Giáo Phận Huế từ ngày 12 tháng 4 năm 1961, chứ không phải “vào năm 1963”.

2. – Người có tên là Kỷ, là một trong hai người làm đơn khiếu oan, cựu Trung Úy, chứ không phải là “linh mục tên Kỷ vốn là chân tay thân tín của Thục. . . “Cả Giáo Phận Huế thời ấy không có Linh Mục nào tên là Kỷ.

3. – Chính Đại Tá Đỗ Mậu, Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội, thừa lệnh Tổng Thống ra lệnh cho Trưởng Khu An Ninh Quân Đội Huế, Đại Úy Phạm Bá Thích, tái điều tra vụ án gián điệp miền Trung chứ không phải “Ngô Đình Thục tức tốc ra lệnh cho Đại Úy Trần Thích”

4. – Đại Úy Trưởng Khu 11 (không phải Sở) An Ninh Quân Đội kiêm Trưởng Ty An Ninh Quân Đội Huế lúc ấy là Phạm Bá Thích, chứ không phải là “Trần Thích”. Đại Úy Thích có cấp bậc cuối cùng là Trung Tá, đã mất trong thời gian ở tù cải tạo. Bà quả phụ cựu Trung Tá Phạm Bá Thích hiện định cư tại Los Angeles County, California.

5. – “Chánh Sở An Ninh Quân Đội tại Huế” Dưới thời Đệ I Cộng Hòa, Nha An Ninh Quân Đội do Đại Tá Đỗ Mậu làm Giám Đốc, chỉ có Khu An Ninh Quân Đội, phụ trách vùng lãnh thổ trách nhiệm của một Sư Đoàn. Tại mỗi Tiểu Khu, tức Tỉnh, có một Ty An Ninh Quân Đội, không có cấp “Sở” Chế độ “Sở An Ninh” chỉ mới được thành lập dưới thời Đệ II Cộng Hòa.

Vỏn vẹn chỉ trong có 10 dòng chữ, ông Đỗ Mậu đã viết sai năm điểm, mà trong đó hết bốn điểm nằm trong phạm vị trách nhiệm và quyền hạn của ông. Vậy cuốn hồi ký Việt Nam máu lửa quê hương tôi của ông dày tới trên 1000 trang, không dưới 30.000 dòng, sẽ có bao nhiêu điều sai?

ĐOÀN CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT (MIỀN TRUNG)

LÝ DO THÀNH LẬP. Ông Ngô Đình Cẩn thành lập Đoàn Công Tác Đặc Biệt là để thực hiện một chính sách chiêu hồi đặc biệt do ông đề xướng. Chính sách chiêu hồi này được hình thành từ những nhận định sau đây của ông:

– Rất nhiều người tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, không phải là đảng viên Cộng Sản. Tham gia kháng chiến họ hy sinh mọi thứ, tiền của, tình cảm, gia đình, chiến đấu hết sức hăng say và dũng cảm. Điều đó chứng tỏ họ có một khát vọng Độc Lập, Tự Do lớn lao và một lòng yêu nước chân thành.

– Thành phần này là những người đã từng trải và chịu đựng được những gian lao của chiến đấu. Nhất là họ thấu hiểu quy luật hoạt động, chiến thuật, chiến lược, những bế tắc, những mâu thuẫn nội bộ của Cộng Sản, cũng như tâm trạng những người kháng chiến không Cộng Sản.

– Nếu thuyết phục được họ trở về hợp tác chống lại Cộng Sản, thì công cuộc chống cộng sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

– Chiến dịch Tố Cộng bắt đầu đi vào giai đoạn quyết liệt, cần phải mở ra cho thành phần này một lối thoát, đưa họ ra khỏi mê hồn trận của chiêu bài “chống Pháp, chống Mỹ cứu nước” của đảng Cộng Sản. Đồng thời tạo điều kiện cho họ tham gia phục vụ đất nước trong công cuộc giữ gìn Độc Lập, Chủ quyền, xây dựng Tự Do, Dân Chủ của Dân Tộc.

Thượng bán niên năm 1957, ông đề nghị lên Tổng Thống Diệm xin cho ông thực hiện một chính sách được ông gọi là: “Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ”. Để giúp thành phần này dễ dàng thấu hiểu và chấp nhận chính sách, ông cho áp dụng kỹ thuật khai thác và chế độ giam giữ đặc biệt đối với những người bị bắt. Danh từ CHIÊU MỜI sau được đổi là CẢI TẠO theo đề nghị của các cán bộ cựu Kháng Chiến (Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ)

Sau khi đề nghị của ông được Tổng Thống Diệm chấp thuận, ông giao cho ông Dương Văn Hiếu, một nhân viện thuộc Nha Công An Cảnh Sát Trung Nguyên Trung Phần thành lập một Đoàn Công Tác tạm thời đảm nhiệm việc thực hiện Chính Sách ông đề ra.

Nhờ được thực hiện một cách thật thông minh với một tinh thần chống cộng cao độ, chính sách đã thu đạt kết quả hết sức khích lệ, đưa đến việc chính thức thành lập Đoàn Công Tác này.

Đoàn Công Tác Đặc Biệt được tổ chức rất đơn giản nhẹ nhàng. Nhân viên gồm có 10 người, kể cả Trưởng Đoàn, do Nha Công An Cảnh Sát Trung Nguyên Trung Phần cung cấp. Sau đợt “ra quân” lần đầu, một số cán bộ Cộng Sản bị bắt đã nhận ra và chấp nhận cộng tác với Đoàn để thực hiện Chính Sách. Vì có sự kết hợp hai thành phần “Nhân viên Chính Phủ và cựu cán bộ kháng chiến”, mà Đoàn được gọi là “Đoàn Công Tác Đặc Biệt”. Nhưng Đoàn Công Tác này thường được gọi là “Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung” vì được thành lập và xuất phát từ Miền Trung.

Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung đã lập được thành tích làm ngạc nhiên mọi người chỉ trong hai năm hoạt động. Thành quả hai năm hoạt động của Đoàn đã được người Cộng Sản thừa nhận là “kỳ diệu”. Nhưng với những người Quốc Gia, cho đến ngày nay, nói đến Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung nhiều người ở trong cũng như ở ngoài nước, kể cả các viên chức chính quyền, vẫn chưa biết đó là tổ chức gì. Một số người khác đã từng nghe, biết đến Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung, nhất là những người đã đọc hồi ký, sách báo của các tác giả từng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc lật đổ Chế Độ Đệ I Cộng Hòa, có thể vẫn còn nghĩ rằng: Đó chỉ là một tổ chức được ông Ngô Đình Cẩn lập ra để chuyên theo dõi, bắt cóc, thủ tiêu đối lập và tồng tiền những người giàu có. Đây là âm hưởng của một luồng dư luận ngấm ngầm nhưng được loan truyền rộng rãi từ sau khi Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung được hình thành và hoạt động, giữa năm 1957. Nhất là từ khi Đoàn này được chính thức thành lập và vào hoạt động tại miền Nam, đầu năm 1958.

Sau khi đảo chánh 1. 11. 1963, một số báo chí tại miền Nam hồi ấy đã đua nhau như mở một chiến dịch, khai thác thổi phồng dư luận này cùng với vụ án gián điệp Pháp tại miền Trung. Chắc nhiều người còn chưa quên những dư luận thật rùng rợn như:

– Tại Huế thì, hàng ngàn bàn tay của những người bị bắt giam chết, còn nhày nhụa tại Khu Chín Hầm. Đào được hàng trăm xác người chôn dưới các gốc cây trong vườn nhà ông Cẩn. Tại mỗi gốc cam chôn sống một tăng ni còn đang đứng chắp tay niệm Phật v. v. . .

– Tại Sài Gòn thì, Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt cóc, tống tiền, giết người, thủ tiêu đối lập rồi quăng xác xuống hồ ác xít trong hầm P42 ở Sở Thú để phi tang v. v. . .

Tôi xin được mở dấu ngoặc ở đây để nói qua về Khu Chín Hầm.

Có tài liệu viết và nhiều người nói, 9 cái hầm này do ông Cẩn làm ra để giam giữ những người đối lập. Điều đó hoàn toàn sai sự thật. Chín cái hầm này do quân đội Nhật xây cất để chứa đạn, thời kỳ họ chiếm đóng Việt Nam. Hầm được xây khoét vào sườn một khu đồi trọc gần Đàn Nam Giao, bỏ trống từ lâu, không có cái nào còn cửa. Điều này có lẽ không mấy người dân xứ Huế sống trong khu vực Nam Giao không biết.

Năm 1957 hay 1958 tôi không nhớ chính xác, ông Cẩn mua lại ngôi nhà của một người Tàu trên quả đồi đối diện với Khu Chín Hầm. Ông cho lắp cửa có song sắt 4 trong 9 cái hầm ấy, mục đích để làm chuồng nhốt số hươu ông đang nuôi trong vườn tại nhà ở Phú Cam. Hầm có chiều cao chừng hai thước, chiều ngang khoảng 4 thước, sâu vào chừng 6 thước. Sau này có mấy cán bộ cao cấp của Việt Cộng bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt bắt, không chịu hợp tác trong chính sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ, vì phải giữ bí mật việc họ đã bị bắt, nên họ được biệt giam trong mấy cái hầm này.

Về nguồn gốc ngôi nhà, tôi được ông Cao Xuân Vỹ cho biết: “Nguyên thủy ngôi nhà này là của ông Tấn, cháu một bà thiếp có Cụ Phò Quan Quân Vương Tôn Thất Hân, ông ngoại của ông. Bà thiếp này người miền Nam. Khi bà từ miền Nam ra Huế, ông Tấn cùng với hai người em đi theo bà. Ông Tấn đã chưng mua khu đồi ở khoảng giữa Đàn Nam Giao và Núi Ngự Bình, khai khẩn làm một trang trại. Ông xây một ngôi Nhà Thờ họ, căn trước có bàn thờ, căn sau liền tường với căn trước hoàn toàn trống, trên quả đồi cạnh con đường từ Đàn Nam Giao qua Núi Ngự Bình. Ngôi nhà rộng rãi có trang bị máy điện riêng. Thời gian Nhật chiếm đóng Việt Nam, tại Huế một bộ phận quan trọng quân đội của họ đã đóng ở ngôi nhà này. Họ xây 9 cái hầm ở quả đồi đối diện, phía bên kia đường để trử đạn.

Khi ông Cẩn mua lại, ngôi nhà hoàn toàn trống không có đồ đạc, đồ trang trí gì. Mấy quả đồi chỉ còn là đồi trọc trơ trụi. “

Sở dĩ có người tin vào những luồng dư luận trên đây vì họ chỉ nghe chuyện có những người bị bắt một cách bí mật. Từ gia đình, người thân, đến cơ quan quản trị những người ấy cũng không biết họ bị bắt và giam giữ ở đâu. Người chỉ huy một vài cơ quan an ninh cấp trung ương được biết về cách thức hoạt động của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung, nhưng họ cũng không hiểu rành rẽ về Chính Sách Cải Tạo và Sử dụng những người Kháng Chiến cũ.

Riêng Tướng Đỗ Mậu, mặc dù ông đã biết công việc của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung qua việc tên thiếu úy Lê hữu Thúy, một điệp viên của Việt Cộng được ông đặt làm Trưởng Phòng An Ninh Quân Đội của ông, đã bị Đoàn này phát hiện và bắt. Nhưng trong hồi ký Việt Nam máu lửa quê hương tôi của ông, nơi trang 533, hoạt động của họ vẫn được ông gọi là việc “Bày ra vụ Việt Cộng nằm vùng”, vu khống bắt bớ một số nhà giàu, giam cầm, tra tấn để làm tiền. Đoạn này được viết khá tinh vi, có liệt kê tên tuổi một vài nạn nhân hẳn hoi, làm cho lòng tin của người đọc rất dễ bị chinh phục.

Trong khi đó, phía Cộng Sản, sau khi chiếm được miền Nam, nhu cầu tuyên truyền khích động nhằm phục vụ cho cuộc chiến không còn nữa, đã có tới bốn cuốn sách được phát hành nói về Chánh Sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ và Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung. Họ nhìn nhận đó là một Chánh Sách “mới lạ” về tổ chức, “kỳ diệu và nguy hiểm” về hiệu quả. Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung được họ đánh giá là “Một ngành An Ninh đích thực, có một không hai”.

Trong bốn cuốn sách đó, có hai cuốn do cơ quan nhà nước biên soạn và ấn hành:

1. – Ngành công an ấn hành cuốn “Truyện tư liệu” nhan đề Đoàn Mật Vụ Của Ngô Đình Cẩn, tác giả: Văn Phan. Sách dùng làm tài liệu cho nhân viên của họ học tập về “tổ chức”, “nghiệp vụ”, của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung. Vì được soạn để dùng làm tài liệu học tập, nên bên cạnh những sự thật được trưng dẫn để nghiên cứu và rút kinh nghiệm là luận điệu tuyên truyền để củng cố lập trường của nhân viên.

2. – Nhà xuất bản quân đội nhân dân phổ biến một bộ tiểu thuyết nhiều tập tựa đề “Đường thời đại”, tác giả là Đặng đình Loan. Bộ tiểu thuyết nhằm đề cao ngành tình báo, gian điệp của Cộng Sản trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Tập 1 nói về thời Đệ I Cộng Hòa Việt Nam, đề cập tới Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung. Ba tập sau nói về thành tích của hoạt động tình báo gián điệp Cộng Sản thời Đệ II Cộng Hòa. Nhưng nội dung toàn bộ bộ tiểu thuyết này gồm “toàn những chuyện tưởng tượng, hư cấu, hoang đường”. (Nhận xét của Dư văn Chất, một cán bộ tình báo cao cấp Việt Cộng)

3. – Cuốn thứ ba, tác giả là nữ trung tá tình báo gián điệp Việt Cộng Đinh thị Vân, tức Trần thị Mỹ, một nữ sĩ quan của tổ chức tình báo chiến lược Việt Cộng hoạt động tại miền Nam đã từng bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt. Sau ngày 30.4.1975, cô viết và phổ biến cuốn “Cuộc chiến tranh đặc biệt”, thể loại hồi ký.

Theo một số cựu Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã được đọc cuốn hồi ký này trong trại cải tạo kể lại, nội dung hồi ký bày tỏ sự kinh ngạc trước hiệu quả chống cộng của Chính Sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ của miền Nam. Họ hoảng sợ trước đường lối, phương pháp thực hiện Chính Sách này của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung.

Số Sĩ Quan có tinh thần chống cộng quyết liệt, vô tư, đã có những phản ứng tích cực sau khi đọc cuốn hồi ký này, như trường hợp dưới đây.

Trung Tá N. khi còn là Trung Úy, đã từng làm việc dưới quyền Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, sau khi đọc hết cuốn truyện, anh cầm cuốn sách đến gặp Đại Tá Nghĩa đang bị giam cùng trại. Và sau đây là cuộc đối đáp giữa hai người:

– Thưa ông thầy, nhiều người nói ông thày có nhúng tay vào việc giết Tổng Thống Diệm và ông Nhu, chuyện ấy có đúng không?

– Không đúng. Tôi không có nhúng tay vào việc này.

– Vậy ai đã giết các ông ấy, ông thầy có biết không?

– Tôi biết, nhưng lúc này chưa thể nói ra được.

– Đến bao giờ ông thầy nói được?

– Có ngày tôi sẽ nói ra cho mọi người biết.

– Xin lỗi ông thầy, anh giơ cuốn sách lên, chế độ các ông ấy chống cộng hữu hiệu như vầy mà giết người ta đi, để bây giờ phải vô ngồi tù cả đám như thế này. Tất cả những đứa dính vào vụ này, từ thằng Dương Văn Minh trở xuống, tôi gọi bằng “thằng” hết.

Một trong những người được chứng kiến cuộc đối đáp này là cựu Trung Tá Lê Thiện Phước.

4. – Cuốn thứ bốn được viết bởi nhóm cán bộ tình báo chiến lược, quân báo và các ngành khác của Việt Cộng từng bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt và cải tạo, không thực tâm chuyển hướng. Sách được viết theo thể loại “Tiểu thuyết hồi ký” nhan đề Bội Phản Hay Chân Chính. Người chấp bút là Dư văn Chất, tức Văn tiến Mạnh, tức nhân vật Hoàng Ngọc Văn trong truyện, một cán bộ kỳ cựu của ngành tình báo chiến lược Việt Cộng đã bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt.

Lý do nhóm này phải thực hiện tài liệu trên đây là vì: Ngay sau khi được ông Tổng Trưởng Nội Vụ Hà Thúc Ký trả tự do, tháng 5 năm 1964, tất cả bọn họ đều trở lại hoạt động trong ngành cũ một cách rất tích cực. Một thời gian sau, ngoài Vũ Ngọc Nhạ và cụm tình báo A22 của y đã lọt được vào Dinh Độc Lập của Tổng Thống Thiệu, hầu hết nhóm này đều có mặt, hướng dẫn các toán quân Việt Cộng xâm nhập Sài Gòn trong vụ tấn công Tết Mậu Thân. Và ngày 30.4.1975 họ đều ở trong đoàn quân tiên phong tiến vào Sài Gòn, hoặc hướng dẫn những đám quần chúng đi đón các toán quân này. Sau đó, tất cả đều được thăng cấp thăng trật, được bầu chọn vào những chức vụ quan trọng trong Thành Phố Sài Gòn, quốc hội, trung ương đảng.

Nhưng chỉ 5 năm sau, năm 1980, theo chủ trương “làm sạch và củng cố đảng” của ban tổ chức đảng Cộng Sản, tất cả số cán bộ này đều bị thanh trừng. Người thì bị khai trừ khỏi đảng, người thì bị tước lột hết cấp bậc, quyền lợi, vì bị ban tổ chức đảng cho là “có vấn đề chính trị”. Nghĩa là họ bị nghi ngờ là những thành phần đã đầu hàng, nhận hợp tác với ông Nhu, ông Cẩn, ở lại để phá đảng từ trong nội bộ.

Vì thế, họ đã kiên trì tụ họp nhau mỗi tuần lễ một lần vào chiều thứ năm, suốt ba năm, tại nhà Ngô duy Trinh, tức Ba Trinh, một cựu “tù mật vụ”, ở số 63 Đường Bàn Cờ. Mục đích việc tụ họp là để ghi lại các thực trạng nói lên những khía cạnh mới lạ, cực kỳ nguy hiểm của chính sách “Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ”, mà họ đã kiên cường và mưu trí vượt qua để giữ lòng trung thành với đảng. Đồng thời họ chỉ trích nặng nề sự sai lầm trong chính sách cán bộ của ban lãnh đạo đảng Cộng Sản.

Một điểm nữa liên quan đến “Bội Phản Hay Chân Chính” thiết tưởng cũng cần phải nói đến đó là: Vì nội dung có nhiều đoạn tỏ rõ thái độ bất mãn, phục dịch, chê đảng, phê bình gay gắt chính sách sai lầm của đảng. Nên nguyên bản tài liệu được dùng trích dẫn trong tập hồi ức này không được phép ấn hành, mặc dù có thơ yêu cầu của ông Mười Hương, ủy viên dự khuyết trung ương đảng, cựu “tù mật vụ”. Hạ bán niên 1992, nhóm cựu “tù mật vụ” đã phải đánh máy và in ronéo khoảng 100 bản, gửi cho các ủy viên bộ chính trị, ban bí thư trung ương đảng và các ban, cục trong đảng v. v. . . Phổ biến rất hạn chế ra ngoài.

Đến cuối năm 1993, tài liệu này được nhà xuất bản Hà Nội đưa ra làm “tác phẩm dự thi văn học” với nhan đề “Người chân chính”. Sau khi tác phẩm đã được sửa chữa, cắt bỏ những phần mang nội dung “phạm húy”.

CHÍNH THỨC THÀNH LẬP “ĐOÀN CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT”

Xin được nhắc lại về phương pháp làm việc của ông Ngô Đình Cẩn là NGĂN CÁCH. Vì vậy, cũng như vụ gián điệp Pháp với ông Phan Quang Đông, về Đoàn Công Tác Đặc Biệt với ông Dương Văn Hiếu, tôi cũng chỉ biết ông Cẩn đã thành lập một đoàn công tác và giao cho ông Dương Văn Hiếu điều khiển để thực hiện Chánh Sách “Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ”. Nhưng về hoạt động của Đoàn này thì tôi cũng chỉ biết một cách khái quát. Một đôi lần ông Hiếu có nói chuyện thoáng qua nhưng tôi không tìm hiểu sâu vào công việc ông đã được ông Cẩn trực tiếp giao phó.

Khi quyết định thực hiện tập hồi ức này, tôi đã liên lạc tiếp xúc với ông Hiếu và được ông viết lại việc được ông Ngô Đình Cẩn chọn và giao trách nhiệm thực hiện chính sách “Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ”, và thành quả của Chính Sách này sau hai năm được áp dụng như sau:

“Giữa năm 1957, tôi đang giữ nhiệm vụ Trưởng Ban Khai Thác Nha Công An Cảnh Sát Trung Phần thì được cử giữ chức Trưởng Ty Công An Tỉnh Thừa Thiên, kiêm Trưởng Ban Khai Thác Nha.

Sau khi nhận nhiệm sở, chỉnh đốn nội bộ, sắp xếp lại công việc và duyệt xét lại tình hình an ninh trong phạm vi lãnh thổ trách nhiệm, tôi đã cùng một số nhân viên xuống làm việc xuống làm việc với Chi Công An Quận Phú Lộc thuộc Tỉnh Thừa Thiên. Vì tôi đã có rất nhiều tài liệu cũng như tin tức về căn cứ địa Việt Cộng đóng sâu trong vùng Núi Cầu Hai thuộc Quận này. Và Đèo Phước Tượng trên đoạn đường Quốc Lộ số 1 từ Huế vào Đà Nẵng, chính là nơi Việt Cộng dùng làm điểm đưa đón cán bộ của tỉnh ủy ra vào căn cứ và nhận đồ tiếp tế.

Để có thể nắm được chính xác các hoạt động của tỉnh ủy Việt Cộng Thừa Thiên và quận ủy Việt Cộng Phú Lộc, kế hoạch đánh tình báo viên của ta vào các tổ, nhóm làm rừng, các gia đình có quan hệ thân thuộc bà con với cán bộ Việt Cộng thoát ly lên Núi, để tạo điều kiện xâm nhập làm nội gián trong các tuyến giao liên và hàng ngũ Việt Cộng được thực hiện.

Chỉ trong một thời gian, kế hoạch xâm nhập vào hàng ngũ Việt Cộng đã diễn biến đúng như ý ta muốn. Chúng ta đã phát hiện được tình hình hoạt động của Việt Cộng về mọi mặt.

Song song việc bủa lưới, phục kích, theo dõi tuyến giao thông của tỉnh và thành ủy Việt Cộng Huế từ Đà Nẵng ra Huế và ngược lại. Tôi phái một toán đặc nhiệm võ trang với ống viễn kính đi sâu vào vùng Núi Cầu Hai để theo dõi số cán bộ Việt Cộng phụ trách đường giây giao liên từ căn cứ địa ra điểm hẹn tại ven rừng Quận Phú Lộc nhận đồ tiếp tế.

Đội Đặc Nhiệm phát hiện một toán cán bộ trở về lại căn cứ xuất phát sau khi nhận đồ tiếp tế, đã theo dõi bám sát và truy kích vào Động Hang Đá. Mục đích của ta là bắt tên Lê Lén, bí thư tỉnh ủy Việt Cộng Thừa Thiên.

Nhưng đây chỉ là trạm giao liên tiền phương của căn cứ tỉnh ủy Việt Cộng Thừa Thiên. Kết quả ta tịch thu được 2 bao bố giấy bạc Đông Dương 100 đồng đã hết hạn đổi, tỉnh ủy chưa kịp chuyển ra cho cơ sở ở Thành Phố, một số tài liệu và 3 cái võng ni lông.

Nghiên cứu số tài liệu tịch thu được, cùng với kết quả khai thác một số cơ sở cán bộ thuộc tuyến giao liên của tỉnh và thành ủy Việt Cộng Huế bị bắt trong kế hoạch bủa lưới phục kích truy bắt nói trên, một số cán bộ thuộc thành ủy Việt Cộng Huế dưới đây bị bắt:

– Nguyễn Đình Chơn thành ủy viên thành ủy Huế.

– Phan Thị Chanh quận ủy viên quận tả ngạn.

– Lê Thị Hòa quận ủy quận hữu ngạn.

Một số đông cán bộ thuộc chi ủy chợ Đông Ba, số cơ sở trong các trường Trung Học và một số cán bộ nằm trong các nghiệp đoàn độ 50 người.

Theo chính sách “Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ” do ông Ngô Đình Cẩn đề ra, tôi đã khai thác các cán bộ cấp ủy thuộc đảng bộ thành ủy Việt Cộng Huế bị bắt bằng phương pháp mạn đàm, trao đổi, tranh luận, khai thông tư tưởng, cởi mở với đối tượng. Truy nguyên động cơ đưa đẩy đối tượng tham gia kháng chiến chống Nhật, chống Pháp. Đề cao tinh thần yêu nước, ý thức cách mạng đấu tranh cho Độc Lập Quốc Gia, cho Tự Do, Dân Chủ, Hạnh Phúc của nhân dân. Giải quyết những lo lắng, ưu tư về gia đình cho đối tượng. . . Nêu những sai lầm của chủ nghĩa Cộng Sản. . . Đồng thời bảo đảm, theo khả năng, sẽ trả lại chức vụ, cấp bậc, trong guồng máy chính quyền Quốc Gia.

Phương pháp khai thác này đã tỏ ra hiệu nghiệm đem lại kết quả rất tốt đẹp. Một số cấp ủy thuộc đảng bộ tỉnh ủy Việt Cộng Thừa Thiên được phát hiện và số dưới đây đã bị bắt:

– Lê Minh Đạt tức Đạm phó bí thư tỉnh ủy tỉnh đảng bộ Thừa Thiên.

– Lê Phước Thưởng, tỉnh ủy viên tỉnh đảng bộ Thừa Thiên. (Lê Phước Thưởng một người cựu kháng chiến cảm phục ông Ngô Đình Cẩn đến độ, sau 30.4.1975, ở trong tù cải tạo luôn luôn sẵn sàng đánh lộn với người nào nói xấu ông Cẩn hoặc Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung. Người từng chứng kiến những vụ đánh lộn của Lê Phước Thưởng là cựu Trung Tá Lê Thiện Phước, ở tù chung với Thưởng). (ghi chú của người viết)

– Nguyễn Đà, tỉnh ủy viên tỉnh đảng bộ Thừa Thiên.

– Lê Tú tỉnh ủy viên tỉnh đảng bộ Thừa Thiên.

Đặc biệt, Nguyễn Đà đã được trung ương đưa ra Bắc và được đi học lớp chính trị Mác-lê tại Bắc Kinh, Trung quốc. Khi trở về Hà Nội được điều động qua nha liên lạc, tức cục tình báo chiến lược, tham dự khóa huấn luyện tình báo đặc biệt. Sau đó y được đưa trở lại Thừa Thiên, Trung Phần, để dựa vào địa bàn cũ hồi y còn là bí thư huyện ủy miền Núi, phụ trách tổ chức đường giao thông xuyên sơn ra Bắc Việt.

Nguyễn Đình Chơn, thành ủy viên thành ủy Huế là người đầu tiên thực tâm chuyển hướng đã được trả cấp bậc Thiếu Tá Cảnh Sát, làm Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt Gia Định cho đến ngày 30.4.1975, đi tù cải tạo và hiện đã định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O.

Qua kết quả tốt đẹp gặt hái được ngay từ bước đầu của việc áp dụng chính sách “Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ”. Dịp Tết năm 1958 ông Ngô Đình Cẩn đích thân đến thăm số cán bộ Cộng Sản bị bắt, đã chuyển hướng cũng như chưa chuyển hướng tại lao xá Ty Công An Thừa Thiên, ông nói với họ đại ý:

“Bữa ni tôi đến thăm anh em vì được ông Hiếu, Trưởng Ty báo cáo: Tất cả anh em ở đây đều là những người có thiện chí, có tinh thần quốc gia cao. Tôi đến với mục đích “chiêu mời” (ông không dùng chữ chiêu hồi) anh em về với Quốc Gia, về hợp tác với chúng tôi, chúng ta cùng nhau xây dựng một chế độ thực sự tự do, thực sự dân chủ. Cùng nhau cải tổ cái xã hội lạc hậu chống chất quá nhiều bất công lưu cữu từ bao đời nay, cho nhân dân, đã được độc lập rồi, phải được sống xứng đáng với vị thế của mình, của một con người hoàn toàn Độc Lập, Tự Do Hạnh Phúc. Trước đây tôi cũng đã từng tham gia kháng chiến như anh em. Khi nớ chúng ta hăng say lao mình vào phong trào kháng chiến chỉ vì lý tưởng dành lại Độc Lập cho đất nước, Tự Do Hạnh Phúc cho nhân nhân. Nhưng rồi đảng Cộng Sản đã lợi dụng tinh thần ấy biến người kháng chiến thành cán bộ phục vụ cho đảng. Biến cuộc kháng chiến của toàn dân thành cuộc kháng chiến để thiết lập chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế, một chủ nghĩa phi dân tộc, trên quê hương chúng ta. Tôi may mắn có điều kiện không bị họ gắn cho cái đuôi “Cộng Sản”. Còn anh em, tôi biết vì quá hăng say với lý tưởng Độc Lập, Tự Do nên đã không nhận ra chủ nghĩa Cộng Sản là một chủ nghĩa phi dân tộc. Anh em chiến đấu, anh em hy sinh mọi thứ, có người hy sinh cả vợ con đi chiến đấu, vì anh em nghĩ rằng mình chiến đấu cho quê hương, cho đất nước, cho xóm làng, cho vợ con gia đình mình. Nhưng anh em thử nhìn kỹ lại quá trình chiến đấu của mình coi. Đã bao nhiêu lần người Cộng Sản nói với chúng ta rằng: Chúng ta phải hy sinh, phải chiến đấu vì lý tưởng “Quốc tế vô sản” chứ có khi mô họ nói chúng ta chiến đấu vì lý tưởng “Quốc Gia Dân Tộc” mô nà. Trong khi chính bản thân mình, vợ con, hàng xóm, đất nước mình còn bị bao nhiêu tầng lớp bất công đè nén, còn đang nghèo đói tan hoang vì hậu quả chính sách bóc lột của thực dân từ bao nhiêu đời để lại. Mình không lo chiến đấu để xóa bỏ những thứ đó cho chính mình, cho vợ con, xóm làng đất nước mình, mà lại lo chiến đấu giải phóng cho ai, cho giới vô sản quốc tế, thì anh em thử nghĩ coi, chủ nghĩa ấy có phải là chủ nghĩa vì Quốc Gia Việt Nam, vì Dân Tộc Việt Nam, tức là vì bản thân anh em, vì vợ con anh em không?

Tôi mong anh em suy nghĩ cho thật kỹ lưỡng, thật thấu đáo, để mà dứt bỏ cái đuôi Cộng Sản đã bị người ta lừa bịp ráp vô cho anh em. Rồi mình cùng nhau chiến đấu, chiến đấu cận lực, xây dựng một đất nước thực sự Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ. Một xã hội thực sự công bằng, hạnh phúc, ấm no cho chính mình, vợ con, xóm làng, dân tộc mình thủ hưởng.

Tôi đến đây với anh em, tôi tự ví mình như một cái bánh, có bao nhiêu lớp lá bao bên ngoài tôi đều bóc ra hết cho anh em thấy cái chất thật bên trong của cái bánh này. Về phía anh em, tôi cũng yêu cầu anh em như rứa. Mình hãy và phải thiệt tà với nhau. Không che đậy, không dấu diếm một điểm nào, dù là nhỏ. Có như thế thì sự hợp tác mới bình đẳng, mới công bằng, mới bền chặt, mới đem lại kết quả như chúng ta mong muốn.

Tôi nói sự hợp tác công bằng là có ý nói rằng: Khi anh em đã dứt bỏ cái đuôi Cộng Sản, chỉ còn giữ lại nguyên thuần cái lý tưởng chiến đấu vì Quốc Gia, Dân Tộc, về hợp tác với chúng tôi, cùng nhau xây dựng đất nước như tôi mới nói, thì mỗi người, sẽ được trao phó nhiệm vụ, hưởng thụ quyền lợi, đúng với khả năng của mình, như bất cứ một cán bộ, một công chức nào đã phục vụ chính thể Quốc Gia từ trước tới chừ. Ông Hiếu, Trưởng Ty Công An đây là người thường xuyên làm việc, ăn ở với anh em, có trách nhiệm đề nghị khi mô, nhiệm vụ chi, trao cho ai.

Và sau khi giải thích cho họ lý do phải cần đến viện trợ Mỹ, cái thế phải giữ với chính quyền Mỹ để bảo toàn nền Độc Lập và Chủ Quyền của mình, ông tuyên bố:

Vì sự nồng nhiệt hưởng ứng Chính Sách “Chiêu Mời” mà theo đề nghị của anh em, được sửa là “Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ”, bữa ni tôi quyết định thành lập Đoàn Cộng Tác gồm hai thành phần:

– Thành phần thứ nhất gồm có cán bộ đã làm việc với anh em lâu ni.

– Thành phần thứ hai gồm những anh em đã hiểu thấu đáo, chấp nhận chính sách, nhiệt thành hợp tác thực hiện chính sách.

Do sự kết hợp Đặc Biệt này, Đoàn công tác này được gọi là “Đoàn Công Tác Đặc Biệt”.

Ông Hiếu chỉ huy và chịu trách nhiệm về cả hai thành phần. Anh em cùng nhau làm việc, không có sự phân biệt hay cách biệt nào giữa hai thành phần. Mỗi công việc, mỗi kế hoạch đều cùng nhau bàn bạc, cùng nhau thực hiện.

Anh em phải nhớ rằng, nhiệm vụ chính của Đoàn không phải là lùng sục bắt cán bộ Cộng Sản. Mà là phát hiện, phát giác, rồi chiêu mời các anh em ấy về hợp tác, cùng với mình xây dựng đất nước, cải tạo cái xã hội lạc hậu, bất công này”.

Hiệu quả của chánh sách “Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ” đối với những cán bộ Cộng Sản không hưởng ứng chính sách.

Nội dung của Chính Sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ, ngoài phần kế sách dành cho những người hưởng ứng chính sách, thật tâm chuyển hướng vừa được ông Dương Văn Hiếu lược thuật trên đây. Chính Sách cũng đã tiên liệu một kế sách dành cho những cán bộ Cộng Sản không hưởng ứng Chính Sách, không chuyển hướng.

Sau đây là hiệu quả của kế sách ấy do chính những cán bộ đảng viên Cộng Sản trung kiên, không chấp nhận Chính Sách, không thật tâm chuyển hướng, ghi lại trong những tài liệu được liệt kê trong phần đầu Mục này. Vì giới hạn của tập hồi ức, ở đây tôi chỉ xin trích lược một số đoạn trong các tài liệu ấy, đặc biệt trong hai tài liệu “Đoàn Mật Vụ Của Ngô Đình Cẩn” “Bội Phản Hay Chân Chính”. Hy vọng qua sự thú nhận của đối phương, quý độc giả có thêm dữ kiện hầu có thể tìm hiểu cặn kẽ và đánh giá đúng đắn về Chính Sách “Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ” về “Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung” và về người đã khai sinh ra Chính Sách và Đoàn Công Tác này: Ông Ngô Đình Cẩn.

A- Về Chính Sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ và Đoàn Công Tác Đặc Biệt.

Tổ Chức: Đây là một ngành an ninh đích thực, nhưng là một “siêu tổ chức” với nhiều đặc thù mà không có bộ máy nào của Ngụy so sánh được. Nó tập trung quyền lực cao độ, cực quyền, với các phương pháp hoạt động hết sức tinh vi, hiểm độc. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 2)

Chế Độ Giam Giữ: Trong cái nhà tù không song sắt, Công An Mật Vụ cùng với kháng chiến Việt Cộng ăn chung ngủ chung, chơi chung và công tác chung. Chuyện khó tin mà có thật và chỉ có được trong thời điểm lịch sử nhất định. Bắt đầu từ cuộc đấu tranh chính trị đòi hiệp thương tổng tuyển cử cho tới tiếng súng đồng khởi hạ màn kết thúc. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 2)

. . . Giam giữ gì mà trống trải thế này? Nhà tù không song sắt, không cửa đóng, không then cài, toang hoác đầu hồi là một khung cửa trống để ra vào, cửa sổ thì không chấn song, cánh cửa chỉ là hai miếng ván ép khép hờ, một trại giam không song sắt, chuyện khó tin mà có thật. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 36)

Bên trong trại, nhân viên và tù nhân ăn chung, ở chung, chơi chung, ngủ chung với nhau. Ra ngoài trại, họ trang phục như mọi người thường, giản dị, bình thường, không người áp giải, không người bị còng. Họ chở nhau trên xe gắn máy như đôi bạn thân thiết, hàng ngày đi về có nhau. Chỉ có người trong cuộc hiểu rõ. Ngay đến các cơ quan chính quyền Nha Công An Nam Phần, Cảnh Sát Đô Thành và An Ninh Quân Đội đều không được phép biết họ là ai, dân thường làm sao biết được. Không phải là người ở trong cuộc, chẳng ai tin là có thật một trăm phần trăm. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 45)

Số người bị bắt sống chung trong một phòng không khóa cửa, được phát giường bạt, chăn màn. Ăn uống có khẩu phần khá. Mọi sinh hoạt trong trại đều do người bị giam tự quản lý. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 101)

Sinh Hoạt Của Nhà Giam: Sáng sớm ngủ dậy ba bốn giờ, hay bốn năm giờ, hoặc năm sáu giờ v. v. . . tùy thích. Miễn là nếu còn sớm quá thì đừng khuấy động mất giấc ngủ của người khác. Muốn tập thể dục thì tập, chẳng tập thì thôi. Muốn nhóm tý bếp lửa uống trà thì cứ tự nhiên, thoải mái. Sau đó lác đác người trước kẻ sau, lục tục dậy, đánh răng rửa mặt, làm vệ sinh cá nhân. Khoảng 6 giờ 30 hoặc 7 giờ, Tổ cử người đi lãnh về phát mỗi người một ổ bánh mì với hai miếng đường thẻ. Đây là phần ăn điểm tâm. Nếu bạn ghiền thuốc lá có quyền cắt khẩu phần ăn sáng, lấy tiền gửi mua thuốc rê, thuốc điếu hoặc làm gì thì làm. Nếu có nhiều tiền, muốn ăn sáng thì chờ chú ba Hải Nàm mở cửa căng thi sẽ có bánh mì với hột gà “ốp la”, cà phê sữa, thuốc lá thơm. . . 7 giờ 30 bộ máy khởi động. Trước hết là văn phòng, các Ban, cán bộ sử dụng (là số người nhận chuyển hướng được Đoàn Công Tác sử dụng) lục tục kéo lên văn phòng. . .

Trại Viên: (tức là người tù) ở các tổ, nhiều tổ trong một toán, cũng phải dậy, sắp xếp mùng mền, quần áo cho ngay ngắn. Những ai có tên kêu lên Ban Cải Tạo làm việc thì lên, còn không thì mình tự đặt ra cho mình một nội dung sinh hoạt, học văn hóa hay sinh ngữ, học chuyên môn như kế toán, thêu đặc biệt việc thêu thùa phát triển mạnh trong cả tù nhân nam giới. Anh em thêu gởi về nhà làm quà tặng người thân, ngoài ra còn có thể nhờ các thày chú hoặc những anh em đi chợ bán rẻ giùm, lấy tiền mua thuốc hút hoặc vật dụng cần thiết. Những người khai báo bổ sung được Toán Trưởng giao giấy bút ngồi viết ngay ở chỗ mình ngủ. Viết xong, nộp cho Toán Trưởng mang lên Ban Cải Tạo hoặc Ban Nghiên Cứu. Những ai chưa ổn định có thể rủ nhau đánh cờ tướng, lên thư viện đọc sách. Hết giờ hành chánh, nghỉ trưa tới 13 giờ 30 chiều rồi làm việc lại. Ngày này lặp lại qua ngày khác giống như ngoài đời. . .

. . . mỗi người ăn 35 đồng một ngày, ăn cho bằng hết thì mức ăn cao chẳng có lạ gì: Sáng điểm tâm, cơn trưa, chiều, gạo trắng, thức ăn 3 món 2 mặn 1 canh và có cả đồ ăn tráng miệng, chuối hoặc đu đủ. Báo cáo tài chánh công khai luôn có dư. Cuối tuần trại viên được tổ chức một bữa đặc biệt có cả bia con cọp “La Rue” với tiêu chuẩn 1 chai hai người. Vẫn còn dư, mỗi tối cuối tháng lại tổ chức cháo gà hoặc chè đường (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 186)

Nghiệp Vụ:

a. Phát Hiện Và Truy Bắt: Dù chúng nắm Cảnh Sát trong tay, nhưng chúng không bắt công khai mà tổ chức bắt bí mật, có tính cách lựa chọn hình thức sao cho thích hợp để tiếp tục đánh phá cách mạng thật bất ngờ nhằm hiệu quả lớn nhất. (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 62)

Bắt tại nhà, thường không giữ được bí mật, nhất là đối với người nhà kẻ bị bắt. Muốn giữ kín âm mưu lâu dài, bọn chúng hay bố trí theo dõi đối tượng sát từng bước rồi tìm chỗ thuận lợi ập tới “bắt cóc”. Làm như vậy ngay từ người bị bắt cũng không kịp đối phó, không thể báo động cho đồng chí hay cơ sở. . . (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 63)

Điều quan trọng nhất của việc tổ chức bắt cách này và nhanh chóng biến được người bị bắt thành tay sai là chúng giữ bí mật việc đầu hàng của những người này với tổ chức và quần chúng cách mạng. Ngay giữa các cán bộ và cơ sở đầu hàng với nhau chúng cũng tuyệt đối giữ bí mật, không cho ai đã đầu hàng. Nhiều trường hợp chúng thông qua những cán bộ, cơ sở này để phát hiện những cán bộ, cơ sở khác rồi tổ chức bắt bí mật ở một chỗ khác mà ngay kẻ chỉ điểm cũng không biết bọn chúng có bắt hay không. Trong tình cảnh bị ngăn cách tối đa như vậy, nhiều đồng chí ta không thể có những thông tin để phán đoán, đối phó được. Một số người bị bắt, bị chúng hù dọa, đưa nhiều chi tiết khó biện bạch thì hoang mang, mau chóng chịu đầu hàng.

Với thủ đoạn bắt bí mật và theo dõi truy bắt liên tiếp theo cách này, “Đoàn Công Tác” đã tạo nên cả một màng lưới phục kích, bao vây cán bộ cách mạng từ chính đường dây giao liên và cơ sở cũ mà cách mạng đã dày công tổ chức. Với những cán bộ thoát ly hoạt động sâu trong lòng địch, bọn chúng bắt được thì khống chế, bắt viết tờ cam đoan rồi thả ngay, cho lên đường đi “hoạt động” như cũ. Thế là chúng cài thêm một mật báo viên chui vào nội bộ cách mạng. (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 64, 65)

Có trường hợp một cán bộ bị bắt đã khai khớp hẹn sắp tới để đón một cán bộ khác vào họp tại một địa điểm ở nội thành. Bọn Dương Văn Hiếu bèn bố trí kế hoạch cho tên phản bội đúng ngày quy định, đến khớp hẹn để bắt người cán bộ vào họp, nhưng chúng làm như đi đón. Đến nỗi khi đưa về trại giam, mấy tên “chuyển hướng” cho anh cán bộ nọ biết rằng anh đã bị bắt, anh vẫn không tin mà còn cho rằng các đồng chí trong tổ chức định thử thách tin thần mình. (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 102)

b. Khai Thác, Thẩm Vấn: Đoàn Công Tác không thẩm vấn người bị bắt theo kiểu hỏi cung thông thường của bọn công an ngụy vẫn làm. Bước đầu tiên là chúng dụ dỗ chuyển hướng. Chúng thường dùng những kẻ đã từng là cán bộ cấp trên để thuyết phục dụ dỗ cấp dưới nếu bị bắt. Dùng số đông những người từng có cương vị cùng công tác với nhau để lôi kéo. Người bị bắt thấy trước mắt mình là các đồng chí, không khí giống như sinh hoạt ở tổ chức cũ, chứ “không phải” là địch. Thậm chí còn có người mơ hồ tưởng là những “đồng chí”, người lãnh đạo mình trước kia, nay đang vạch cho mình nghe những lý thuyết mới trong tình hình mới, với một tinh thần hăng say đáng tin cậy. . .

Đối với một số cán bộ quan trọng, chúng bố trí công phu hơn. Ngay khi anh bị bắt về, tên Trưởng Đoàn Dương Văn Hiếu hoặc các phụ tá của hắn gặp gỡ đón tiếp. Bọn này đã để công nghiên cứu về anh, trong câu chuyện mở đầu, chúng khéo léo đề cập đến một số chi tiết quan trọng về anh, làm cho anh giật mình tự hỏi không biết chúng đã nắm về mình đến mức độ nào? Rồi chúng tảng lờ, thả luận điệu “chuyển hướng” để mua chuộc dụ dỗ. . .

Chúng tỏ ra không nôn nóng, không vội moi tin hoạt động của người bị bắt mà còn cho phép nêu thắc mắc để chúng giải thích, khuyên người bị bắt an tâm trao đổi ý kiến. Chỉ khi nào người bị bắt tự giác chấp nhận chuyển hướng thì vấn đề khai thác sẽ là nhiệm vụ tự nguyện, là bổn phận. Đến bước này bọn nhân viên cải tạo của địch mới làm việc hướng dẫn cho anh viết bản tự khai theo yêu cầu của chúng.

Trong thực tế đấu tranh của cán bộ bị bắt, có nhiều tình hình phức tạp. Ngay trong số đầu hàng chuyển hướng cũng có mức độ khác nhau. Bọn địch căn cứ từng trường hợp mà có đối sách rõ ràng. (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 102-104)

Đối với những người không thể mua chuộc dụ dỗ được, bọn địch sử dụng tập thể bọn chuyển hướng để hoặc rỉ rả khuyên nhủ lôi cuốn, hoặc làm cái việc “xa luân chiến” để giải thích chính sách chuyển hướng, tranh luận áp đảo các thắc mắc, phản ứng của người bị bắt. (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 113)

Khai thác chung chung để tìm kiếm chung chung như hồi kháng chiến chẳng nghĩa gì cả. Bây giờ trình độ nghiệp vụ người ta có nhiều kinh nghiệm cao hơn, khai thác có điểm để tìm tòi xác minh cụ thể, không phải chuyện thường nữa. . . (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 104)

Một điều đơn giản nhất Văn ngày càng thấy rõ đây là cuộc đối mặt với nhiều loại đối thủ mà anh chưa hề hiểu biết bao giờ, cũng chưa hề có kinh nghiệm của bè bạn lẫn bản thân. . .

Tới giờ phút này, Văn thấy rất rõ là tất cả những điều anh thâu lượm, hiểu biết, nghe ngóng về điều tra, khai thác của ngành an ninh địch đều sai hết. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 105)

Phải chi nó đánh đập, tra tấn, đằng này không. Nó không nện vào thể xác mà nhắm thẳng vào yếu huyệt của niềm tin: “Không có hiệp thương, tổng tuyển cử gì hết. Xem ai làm gì ai? Kìa coi cải cách ruộng đất, kìa coi dân chúng bỏ chạy di cư, kìa coi thành phần giai cấp. . . ” tiếng nói của Hiếu (Dương Văn) hôm nào vẫn còn lùng bùng trong lỗ tai anh, như dao đâm vào lòng anh mà lại. . . có phần là sự thật. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 113)

. . . Quan trọng thứ nhì là Ban Cải Tạo. Nhiệm vụ hoàn toàn như Ban Khai Thác lấy cung của Công An. Chỉ khác là bên Công An bắt buộc phải khai, không thì phải “oánh” cho khai, khai rồi “oánh” nữa cho khai thêm nữa. . . Và đến lúc không có gì để khai thêm nữa thì kết thúc, ký cung. Đã ký cung là dứt điểm, dù ai phát hiện, khai báo thêm nữa về anh thì cũng cho qua, chẳng còn bận tâm tới nữa. Đằng này thì khác. Làm với phương pháp “khoa học”, “nhân đạo”, giới thiệu chính sách mới của cậu Cẩn với những người kháng chiến cũ, mời về hợp tác, sử dụng cho công cuộc “xây dựng chế độ tự do dân chủ ở miền Nam”. Nếu ai chưa tin, hoài nghi điều gì thì cán bộ cải tạo thuyết giảng cho họ tin. Gặp những ai không chịu, chống đối, thì cán bộ cải tạo lấy lý lẽ tranh luận, chiến thắng đối phương bằng lý luận “đường lối quốc gia”. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 191)

Bài học sờ sờ còn đó:Khu 5 tình báo, thủ biên v. v. . . kéo nhau cả đám vào tù Mật Vụ, khai báo còn đầy đủ hơn cả tụi buôn lậu. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 195)

. . . Nói như vậy không có nghĩa là phủ định những gì là độc đáo, tinh hoa (về thủ đoạn nghiệp vụ) của “Đoàn công tác”, một cơ quan mật vụ có một không hai. (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 203)

Dưới con mắt của người Cộng Sản, chính sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ không chỉ là một “chính sách” mà nó còn là một ý thức hệ, một đường lối đầy tính cách mạng. . . như Nguyễn Đình Chơn (Chân) trình bày dưới đây:

“. . . Chính từ bối cảnh đó (bối cảnh cơ sở Cộng Sản tại miền Trung bị Chiến Dịch Tố Cộng phá sạch, cán bộ Cộng Sản bị nhân dân coi như ruồi nhặng) mà chính sách đối với những người kháng chiến cũ đã được khai sinh, hình thành và mở rộng vào đến trong Nam như hiện nay. Nó là sự phát triển tất yếu của cả nước. Đấy không phải chỉ là yêu cầu của nhà cầm quyền mà thực ra chính là vấn đề thiết thân của nhân dân và cán bộ trong vùng giải phóng cũ và rộng ra là của cả nhân dân và cán bộ miền Trung. Từ mâu thuẫn đối kháng, hai bên đã cố công tìm được một lối ra là của cả nhân dân và cán bộ miền Trung. Từ mâu thuẫn đối kháng, hai bên đã cố công tìm được một lối ra chung, đó là chính sách đối với những người kháng chiến cũ. Anh (Văn) nên chú ý điểm then chốt này, nếu có trao đổi là ở điểm này. Sau này nếu gặp lại đảng, chúng tôi cũng sẽ yêu cầu được tranh luận dân chủ điểm cơ bản này. . .

Để tôi trình bày tình hình miền Trung cho anh nghe. Tôi gặp cả chục mạng cán bộ tình báo các anh mà chẳng ai nắm được tình hình miền Trung. Thật tội nghiệp cho cái quê hương lạc lõng của mình. Điều quan trọng hơn cả là nếu anh không hiểu bối cảnh lịch sử thì làm sao anh hiểu nổi chính sách mới của Cậu Cẩn. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 98, 99)

Sau khi trình bày tình hình cực kỳ bi đát đối với các cán bộ Cộng Sản tại miền Trung, một tình hình mà cán bộ Cộng Sản bị “nhân dân coi chẳng khác gì ruồi nhặng” (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 104)

Chân tiếp:

– Đó, tình hình miền Trung như vậy. . . Tôi cùng một số đồng chí cũ, cũng là những cán bộ có trách nhiệm với đồng bào địa phương mình, cùng ở trong một hoàn cảnh ngộ, giam cầm chung tại lao Ty Công An Thừa Thiên và Nha Công An Trung Phần. Chúng tôi trao đổi, hội ý với nhau, không chúng tôi không nhân danh đảng hoặc đoàn thể nào hết, chúng tôi chỉ nhân danh nhân dân địa phương trong đó có chính chúng tôi, để tìm lối ra khỏi ngõ cụt, thoát khỏi sự bế tắc ngột ngạt ngày càng đi vào đường tự sát, để chẳng giải quyết được gì cả.

Chúng tôi, một số đồng chí cũ trong ban chấp hành đảng bộ Tỉnh Thừa Thiên, trong ban thành ủy Huế, Đà Nẵng, cán bộ phụ trách quân báo liên khu 5 và ban địch tình của liên khu ủy, sau đó có thêm một số cán bộ tình báo cục trung ương và đồng chí phó bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên cùng nhau tham khảo, trao đổi, cuối cùng đề ra luận điểm căn bản cho đường lối cách mạng hòa hợp dân tộc trước đặc điểm của tình hình mới là: “Chính sách chuyển hướng và sử dụng những người kháng chiến cũ”.

Chúng tôi cử đại diện gặp Trưởng Ty Công An Thừa Thiên và Giám Đốc Công An Trung Việt, sau đó được ông Cố Vấn Chính Trị Ngô Đình Cẩn đích thân tiếp xúc. Sau nhiều cuộc trao đổi, bàn bạc và tranh luận mạnh bạo thẳng thắn, hai bên nhứt trí một chính sách chung với tên gọi là “Chính Sách Cải Tạo (danh từ ông Cẩn dùng là Chiêu Mời) Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ”. Chúng tôi quan niệm đây là một chủ trương, một ý thức hệ, một đường lối đầy tính cách mạng xây dựng, hòa hợp dân tộc. . . Người ta đang cần chúng ta để xây dựng cuộc sống yên lành của nhân dân, không lý do gì chúng ta cứ khuấy đảo để gây tang tóc cho nhân dân. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 109)

Phải công nhận bọn mật vụ Ngô Đình Cẩn có giỏi thật. Văn nghĩ thầm. Tại sao mình không dám nói là địch giỏi mà cứ phải vòng quanh chơi chữ để hạ thấp nó xuống và tìm cách che đậy, tự tôn mình lên? Nó nắm vững tổ chức mình, phương châm công tác, quy luật hoạt động tới tâm lý và quy luật tư tưởng. Nó rành cả cách đảng ta xử lý cán bộ bị bắt và sau khi ra tù. Mình đánh giá địch quá thấp, chỉ vì bảo thủ, giáo điều, một chiều, chỉ vì bất động trong khi địch thì thiên biến vạn hóa, đặc biệt về ngành anh ninh, tình báo, công an. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 113)

B. – Hiệu quả của chính sách “Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ” đối với số cán bộ Cộng Sản không thật lòng hưởng ứng chính sách.

Phần dưới đây tôi xin được trích lược một số đoạn trong tiểu thuyết hồi ký Bội Phản Hay Chân Chính, nói lên những hậu quả mà Chính Sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ để lại cho số cán bộ Cộng Sản đã bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt bắt không thật tâm chuyển hướng, còn ở lại với đảng đến sau ngày 30.4.1975. Bắt đầu từ việc Dư văn Chất, tức Hoàng Ngọc Văn trong truyện, đến gặp Nguyễn Đình Chơn. Chất là một cán bộ tình báo chiến lược kỳ cựu của Cộng Sản từng bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt. Thời gian bị giam giữ, y đã nhận hợp tác viết bài cho tờ báo “Chuyển Hướng” của trại. Nhưng sau khi được trả tự do (tháng 5. 1964), là một cán bộ tình báo gián điệp già dặn, y đoán biết trước được thắng lợi của cộng sản nên hăng say tái hoạt động trong ngành cũ. Được nhóm cựu “Tù Mật Vụ Ngô Đình Cẩn Dương Văn Hiếu” giao việc chấp bút tiểu thuyết hồi ký “Bội Phản Hay Chân Chính”, Chất tìm gặp Nguyễn Đình Chơn mời tham gia nhóm của y, nhưng Chơn từ chối.

Nguyễn Đình Chơn, một thành ủy viên thành ủy Huế, bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt, đã hưởng ứng Chính Sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ, thực tâm chuyển hướng, được trả cấp bậc Thiếu Tá, giữ chức Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt Gia Định đến ngày 30.4.1975. Sau đó, anh chấp nhận đi tù cải tạo và hiện định cư tại Hoa Kỳ. Cuộc gặp gỡ diễn ra vào giữa năm 1989, lúc đó cũng là lúc Thiếu Tá Nguyễn Đình Chơn chuẩn bị xuất cảnh qua Mỹ theo diện cựu tù cải tạo, thường được gọi là diện H.O.

Sau khi nghe Chất, tức Văn trong truyện, kể về việc y ở tù rồi ra tù, vào tù lại rồi lại ra tù. . . Chơn hỏi:

– Thế phe đảo chánh thuộc cánh nào mà lại thả các anh? Không dễ gì đâu.

– Chuyện hơi dài, tóm tắt là thế này. . . lập tức sau ngày Diệm đổ, bọn mình (Hoàng Ngọc Văn và nhóm tù của Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung) đấu tranh gắt củ kiệu với chính quyền mới. Anh thấy đó, toát khỏi nanh vuốt Mật Vụ là khỏe re. Chỉ một chút xíu dân chủ với nhân quyền thôi là bọn chúng kẹt ngay, kiếm hoài không đâu có hồ sơ hay bút tích nói về bọn này. Viên Trung Úy phe đảo chánh tiếp quản Ty Công An Huế phủi tay, cho giải hết cả đám “tù lậu” về trả Tổng Nha Công An Sài Gòn. Tới đâu bọn mình cũng la làng: Đây là anh em trí thức dân chủ bị chính quyền độc tài khủng bố, vu cáo, bắt bất hợp pháp, không làm hồ sơ, không có án tòa v. v. . . mà đúng căn bọn độc tài là thế thật, thằng chó nào cũng như thằng nấy thôi. Về tới khám Cộng Hòa thuộc Tổng Nha Công An, đúng vào lúc Hà Thúc Ký làm Bộ Trưởng Nội Vụ đi thị sát trại giam, thăm hỏi và nhận diện tù nhân. Thấy người cùng đảng phái với y là y lấy ra ngay lập tức, không có oong đơ gì hết, vì y cũng thấy tình thế bấp bên. Hà Thúc Ký nhận ra tôi, trao đổi ba điều bốn chuyện rồi y ra lệnh ngay cho đám tùy tùng: “Các ông này bất cứ tội danh là gì, với thời gian giam giữ từ 1958 tới nay là 1964 đã qua thời hạn của người ta. Cho làm ngay thủ tục, thả hết. Đệ trình hồ sơ tôi ký lệnh tha”. Cũng ngon đó chứ anh Chân. Hắn lạ gì mình, hồi ở Vân Đồn hắn thừa biết mình là Việt Cộng. Nếu nó cũng đem lập trường cứng ngắc, quan điểm đảng phái hẹp hòi, cực đoan thì còn khuya hắn mới thả.

– Anh Chân còn nhớ Hà Thúc Ký không?

– Nhớ chứ, 1958 Ký bị nhốt biệt phòng cạnh anh chứ gì. Ký là lãnh tụ Đại Việt chỉ huy chiến khu Ba Lòng ở miền Trung. Lúc đó Ký bị bộ phận khác bắt, gửi ở Vân Đồn chứ không thuộc quyền Dương Văn Hiếu.

– Ra tù mình liên lạc ngay được với tổ chức, hoạt động trở lại. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 6)

Về trường hợp Đặng An, thiếu tá quân báo Việt Cộng, Văn (Chất) kể:

“Tháng 5 năm 1964, anh (Đặng An) và tôi (Dư văn Chất) được ra khỏi tù. Anh được lệnh trở ra căn cứ công tác tại phòng quân báo miền. Anh đổi bí danh Năm Ân, công tác liên tục từ đó đến 1975. Ngày 30 tháng tư, cùng với đoàn giải phóng quân tiến vào Sài Gòn, thiếu tá Đặng An tới tìm tôi tại nhà riêng. Cũng vào dịp này, Thiếu Tá Lê Chân bước ra trình diện cách mạng và đi cải tạo. Sau đó Đặng An chỉ huy đơn vị đặc biệt lên chiến trường K. (Kampuchia) Đơn vị của anh lập được nhiều chiến công lớn tạo nền cho việc thành lập chính quyền mới tại đây nên được tuyên dương. Thấm thoát bước vào đầu thập niên 80, tình thế ổn định vững chắc, chủ trương củng cố nội bộ và chấn chỉnh đảng được tiến hành. Mở đầu là những cuộc xác minh với thực chất những cuộc rà soát, hài tội xưa tích cũ của những người bị giặc cầm tù, sau đó là sự thanh trừng từng bước. Đùng một cái, đảng ủy viên thiếu tá Đặng An nhận được quyết định về vườn nghỉ hưu, kèm theo bản án khai trừ đảng với bản luận tội thời gian Đặng An ở tù Mật Vụ. Thật kinh khủng cái phiên tòa nội bộ. Nó tồi tệ hơn cả phiên xử một tên cướp cạn hay một gái điếm, vì tại đây bị can còn được cãi theo luật, còn có luật sư biện hộ, còn được quý vị thẩm phán biết luật để thi hành luật, còn có bồi thẩm đoàn và có cử tọa, dư luận. Những người có trách nhiệm coi sinh mạng chính trị của đồng chí mình quá rẻ mạt, sau khi cách mạng đã thành công, sau khi đã đoạt được chính quyền vào tay mình. Anh em chúng tôi xót thương cho người đồng chí được toàn thể bạn tù mến mộ, ngay cả kẻ địch cũng vị nể. Anh quý và kiên quyết bảo vệ sinh mạng chính trị còn hơn cả thân xác anh. Tới khi trở về với ta, anh lại cắm đầu cắm cổ phục vụ như “trâu”, cuối cùng “người trâu” cũng bị chém. . . bức phần hồn. Cái xác mất hồn thiếu tá Đặng An sống vất vơ vất vưởng chuỗi ngày còn lại cuối đời. May mắn cho anh là còn có dịp lên tiếng kể lại cho nhóm tù nhân chính trị chúng tôi được nghe trong hai buổi họp, có băng ghi âm, để nói lại với những ai còn chút thiện tâm nếu muốn sửa sai, đổi mới. Hết thảy mọi người ở tù Mật Vụ chẳng ai lầm lộn tinh thần và tư cách của Đặng An. Mọi người còn nhớ đầu thập niên 60 tại Trại Lê Văn Duyệt là lúc Lê Chân đi xuống, ngày càng lún sâu xuống hố phản bội, còn Đặng An vững vàng đấu tranh, vươn lên tồn tại, trở về với đảng. Nghe tin ta mất đi một cốt cán, mọi người bàng hoàng, luyến tiếc và tủi thẹn. Ai nấy nín khe, chỉ dám lén lút xầm xì: “chỉ vì cái khuôn sáo duy ý chí cực đoan trong chính sách cán bộ mà liệng luôn cả cái vốn quý nhất”.

Tháng Tư 1990 Đặng An chết. Chúng tôi gồm sáu đồng chí cùng tù Mang Cá với anh trước đây lật đật về quê vợ anh ở Long Thành để tiễn xác anh về lòng đất mẹ. Vợ anh, chị công nhân đồn điền cao su Bình Sơn, các con anh và lính đơn vị cũ của anh kể lại cho chúng tôi thu vào băng ghi âm để nhờ chuyển lời với đảng rằng: Anh ra đi tức tưởi ấm ức, không chịu nhắm mắt, tội nghiệp lắm. Cứ hễ đôi lúc hồi tỉnh là miệng lại lắp bắp chỉ hỏi một điều duy nhất “Sao? đã kiếm được Hoàng Ngọc Văn để nhờ chuyển hồ sơ khiếu nại với đảng chưa?” Tôi nhớ hai câu thơ của ai đó:

Nát thân nát cả tâm hồn
Lẫn trong cái chết vẫn còn cái đau.

Tôi hoa mắt nhìn thấy Chân đang ngồi trước mặt, tôi muốn thét vào tai y: “Ví thử không có cuộc thử lửa ở Mật Vụ, cứ cái cương vị thành ủy viên năm 1954 mà đi lên thì bây giờ cũng lại ngồi lên đầu, cưỡi lên cổ anh em, rồi đem cái giọng lưỡi quan điểm và lập trường cực đoan quy chụp hết người này đến người khác chứ thua chi ai. Hãy so sánh kìa: Một đàng bất khuất, tồn tại, thì sống nhục, chết tủi, với một đàng xuống dốc, suy sụp, thì lúc nào cũng phây phây”.

Qua những giọt lệ ứ đọng quanh khóe mắt, tôi nhìn thấy nét mặt phởn phơ của Chân mà lòng dạ chán chường, thoáng hiện ra trong trí tưởng tượng chiếc phản lực cơ khổng lồ với hình ảnh gia đình Chân tay xách nắt mang tìu tít trèo vội lên thang máy bay. Con đại bàng gầm rú vang trời, thoắt một cái đã nâng bổng mọi người vút lên mấy từng mây xanh. Còn trơ lại bọn tôi với cỗ quan tài mộc mạc ép chặt cái hình hài bé nhỏ Đặng An mặt mày trắng bệch, hai mắt trợn trừng, miệng thều thào hỏi “Sao, đã chuyển hồ sơ khiếu nại với đảng chưa?”

“Ông sẽ cho chúng mày chết hết. Không chết cũng thân tàn ma dại. . . Không chết bây giờ thì về với đảng chúng mày, mày cũng chết, chết khổ chết sở, chết day chết dứt. . . xem ai thắng ai!”Lời nguyền của Mật vụ còn nguyên đó. Tôi muốn nói nhỏ với oan hồn “Chết là được giải thoát đó, Đặng An!”

“Ôi chao! Anh Sáu, anh ác độc thiệt tình. Miền Nam vừa mới được giải phóng, tại hội nghị cán bộ chủ chốt họp ở Thủ Đức, anh Sáu Thọ phát biểu: “Chín mươi phần trăm cán bộ đảng viên bị bắt, tù đày dưới chế độ Mỹ Ngụy, có vấn đề chính trị”. Anh có biết câu nói của anh gây tác hại thế nào không? Hàng bao nhiêu đảng viên bị bao nỗi oan khiên, nhân phẩm bị xúc phạm và đã tạo ra nhiều mối quan hệ phức tạp trong nội bộ đảng.

Bằng tác phẩm này tôi muốn nói với đảng, với người thân bè bạn, với người yêu và kẻ ghét. Nói thay cho người đã chết và cho cả người còn sống. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 9)

Trong chương cuối của “Bội Phản Hay Chân Chính”, trước khi kể tên một loạt cựu tù “Mật Vụ Ngô Đình Cẩn-Dương Văn Hiếu” bị đảng thi hành kỷ luật, Chất viết:

Với tinh thần triệt để tránh hậu họa, quân đảo chánh thiết lập ngay tòa đại hình kêu án tử hình Ngô Đình Cẩn, lãnh chúa miền Trung.

Chuyện tù Mật Vụ Ngô Đình Cẩn tưởng chừng tới đó kết thúc. Tổ chức Mật Vụ Cẩn tan rã và những người tù Mật vụ nhờ thế mà thoát chết. Ấy thế mà chưa hết, câu chuyện của những người tù Mật Vụ vẫn còn dài dài chưa dứt.

30 tháng Tư năm 1975, Sài Gòn giải phóng, tôi biết mình thoát chết. Lần này thoát hẳn. Suốt 21 năm hoạt động vùng địch, lúc nào tôi cũng ở trong tư thế bị bắt. Địch bắt tôi rồi thả, rồi lại bị bắt, tất cả là 3 lần: 1958-1964, 1968 và 1969-1972. Ý nghĩ đầu tiên nổi bật nhất của tôi, khi đất nước được giải phóng hoàn toàn thật đơn giản, còn địch, có hoạt động, còn bị bắt, nay hết địch, hết bị bắt.

Những cựu tù nhân chính trị tìm nhau, nghe tin của nhau, để biết ai còn ai mất. Anh em vẫn tiếp tục công tác, người nào cũng có vai trò trong việc truy quét tàn dư của chế độ cũ. Công cuộc ổn định tình hình được tiến hành nhanh, chúng ta có một nhà nước thống nhất và một chế độ thống nhất. Như lời khẳng định của vị lãnh đạo cao nhất: “Không kẻ thù nào dám đụng tới ta ít nhất trong vòng 50 năm”. Nhân dân cả nước tự hào, xứng đáng tự hào.

Ông bà ta thường nói “vào tù ra tội”, tôi không hề tin là ta cũng vậy.

Rồi Chất cho biết lý do Đặng An bị nghi ngờ và bị thanh trừng:

Sáng hôm đó, tại văn phòng, tôi đang bận rộn công việc thì một đại úy trình giấy giới thiệu của cục bảo vệ bộ quốc phòng muốn nhờ tôi cho biết về Đặng An trong thời gian ở tù để giúp cho việc xử lý của anh dễ dàng, phân minh. Tôi hơi ngạc nhiên hỏi viên đại úy:

Ủa! Tôi tưởng Đặng An đã được xử lý rồi mà? Nay anh ấy được thăng thiếu tá, thế là chậm và thiệt thòi cho anh ấy lắm đại úy ạ! Chẳng qua cũng vì cái kiếp tù đày. Tôi được biết hiện nay thiếu tá Đặng An chỉ huy một đơn vị làm nghĩa vụ quốc tế, có chiến công lớn và đang nằm trong đảng ủy của đơn vị, sao còn nói điều xử lý? Đã xử lý rồi còn xử lý lại à?

. . . Tôi kể chuyện Đặng An một cách hăng say cho anh đại úy này nghe. Sau cùng, anh chỉ hỏi tôi hai điều: Tại sao địch cho Đặng An ăn cơm trắng và tại sao địch cho Đặng An xà bông thơm”. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 220)

Trường hợp Vũ Ngọc Nhạ. Chất đến thăm Nhạ, gặp lúc Nhạ đi vắng. Chất hỏi thăm thằng nhỏ về bố nó. Thằng nhỏ trả lời:

“Tính bác khác hẳn ba cháu. Ông già thận trọng đắn đo lắm, có lẽ hoàn cảnh ông phải vậy. Cháu xin phép hỏi thật bác: Bác và ba cháu đi chiến đấu như thế, bây giờ được cái gì? Hồi còn địch mẹ cháu cũng công tác với ba cháu. Bây giờ mẹ cháu phải ra chợ bán, nhặt từng đồng không đủ ăn, vậy mà còn phải nuôi ông ở Viện (bệnh viện). Ông tự vận mấy lần, may cứu kịp. Nay ông yếu lắm.

Từ khi được thằng con anh hỏi thẳng mặt tôi như vậy, tôi chủ tâm tìm hiểu và vất vả lắm mới được rõ. . . thì ra hồn ma thằng Cẩn đã nhập vào anh em mình. Hồn ma Ngô Đình Cẩn nhập ngay vào những đồng chí cùng tù với Nhạ, cùng ở trong ban tổng kết cục 2 và hồn ma thằng Cẩn quay ông “cố vấn” không biết đường nào mà trả lời. Ông “cố vấn” Nhạ chứng minh bằng thuốc an thần để mong được “ngủm” cho sớm yên thân. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 222)

Về trường hợp Mười Hương, người chỉ huy màng lưới tình báo chiến lược của Bắc Việt hoạt động tại miền Nam Việt Nam và hai nước Miên-Lào, Chất kể:

“Hãy bỏ qua những gì anh đã bị xúc phạm từ sau khi địch phóng thích, về với ngành cũ, khi đó là cục 2, rồi anh chuyển ngành. Chỉ khi trở lại trận địa miền Nam, năm 1968, thì anh lại được yên ổn tinh thần để công tác. Sau ngày giải phóng, chưa bao lâu, vấn đề bắt đầu nổi lên khi anh là ứng cử viên được ban tổ chức trung ương giới thiệu vào ban chấp hành trung ương khóa 4. Mọi người tù của chế độ cũ đều có hồ sơ của địch để lại, chỉ riêng anh Mười là không có, tổ chức tìm hoài không thấy mà hỏi thẳng anh thì không tiện. Được tin, anh Mười chỉ có cách cho kiến tên Trần ngọc Trí, một anh giáo học bình thường tham gia phong trào bảo vệ hòa bình năm 1955, bị bắt vì tình nghi chính trị chỉ có thế thôi (đó là anh Mười) hồ sơ còn nằm trong đống nội vụ Tổng Nha Công An Ngụy. Ngoài ra không còn chữ nào về Mười Hương nữa. Anh Sáu Thọ mừng anh Mười đắc cử ủy viện trung ương đảng bằng một lời chân thành: “Cậu chỉ cho anh em kiếm được cái tên Trí đó, mình mừng quá, chứ không thì chẳng biết phải làm thế nào”. Vấn đề Mười Hương càng trở nên phức tạp hơn vào dịp đại hội đảng bộ thành phố Hồ chí Minh trước kỳ họp đại hội V và VI của đảng, vì Mười Hương trở thành ứng cử viên vào chức vụ cao hơn trong đảng. . . .

Khoảng giữa năm 1981, tôi hết sức ngạc nhiên khi có đồng chí tới gặp tôi thăm hỏi để xác minh, thẩm tra những vấn đề của đồng chí Trần quốc Hương, ủy viên trung ương đảng. Nguyên do có những con người rất “nặng ký” làm đơn tố giác và cho tài liệu phát hiện về đồng chí Mười Hương đại để như sau:

1. – Đồng chí Mười Hương có lý lịch chính trị không trong sạch, khi bị bắt ở Trại Lê Văn Duyệt được địch cho hưởng chế độ đặc biệt, viết báo Chuyển Hướng và nhận làm việc với Ngô Đình Nhu. . .

2. – Nguyễn Tư Thái tức Thái Đen khai với cơ quan an ninh của ta là được Phan Khanh bàn giao lại một số cơ sở đầu hàng, phản bội làm tay sai cho chúng, đứng đầu sổ là Phan Văn Trí tức Mười Hương.

3. – Phát hiện xung quanh việc Nhu, Cẩn gặp Mười Hương tại nhà mát ở Thuận An, Huế. Tất cả những người còn sống đã khai chuyện này. Viên chức địch khai Mười Hương ngoan cố, có nghĩa ngoan cường, không khai báo, không hợp tác, không chuyển hướng, từ đầu tới chót. Anh em tù nhân ta khai: Mười Hương bất khuất, nêu cao lập trường khí tiết. Nay người ta đặt vấn đề: Thế còn lúc Nhu, Cẩn gặp bí mật, gặp riêng, Mười Hương thì nội dung đó ra sao?

4. – Kết luận: “Một điều xin lưu ý các đồng chí. Trang 8 của tài liệu phát hiện về đồng chí Mười Hương có liên quan đến lịch sử chính trị của đồng chí ấy, hành động hiện nay nó chứng minh và gắn liền với việc làm của đồng chí khi nhận việc với Ngô Đình Nhu, đây là những hành động phá hoại hiện hành một cách hợp pháp với cương vị của đồng chí. Cá nhân đồng chí Mười Hương là như vậy, nhưng vấn đề hết sức quan trọng là đồng chí đã tổ chức bộ máy rất nguy hiểm mà tác hại của nó không thể lường hết được. . . “

“Thư tố cáo, nên dẫn chứng Mười Hương đã lợi dụng chức quyền phá chính sách cán bộ của đảng, làm cho bộ máy không hoạt động được, làm cho đảng, làm cho bộ máy không hoạt động được, làm cho đảng ta không trong sạch, thiếu vững mạnh, cụ thể là Mười Hương đã lợi dụng các chức vụ của mình để hoạt động phá hoại một cách hợp pháp, biểu hiệu qua việc xem xét xử trí cán bộ đảng viên bị bắt, bị tù có vấn đề chính trị, bao che họ và cài họ vào các cơ quan lãnh đạo đảng và nhà nước của thành phố và các quận huyện và các ban ngành như tiểu ban bảo vệ đảng, ban tổ chức thành ủy, sở công an, sở giáo dục, sở nhà đất v. v. . . (Những người được coi là “đồng dạng” với Mười Hương kê tên trong một danh sách gồm 21 trường hợp)”

“Mười Hương lại được bầu chọn vào ban chấp hành đảng bộ thành phố hồ chí Minh và là đại biểu dự đại hội toàn quốc và đắc cử ủy viên ban chấp hành trung ương khóa 5. Năm 1982, Mười Hương được điều ra Hà Nội. Tháng 6 năm 1983, trước ngày khai mạc đại hội một ngày, không biết con sẻ nào đã gáy vào tai đồng chí có trách nhiệm ra sao đó mà đồng chí đã kêu trưởng ban tổ chức trung ương đến ra lệnh: Báo cho Mười Hương phải rút tên khỏi danh sách ứng cử ban chấp hành đảng bộ Hà Nội. . .

Tôi buồn rầu nói với anh bạn: “Quả thật, đến thế này thì quá cớ, không còn gì để nói thêm nữa”. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 229)

Riêng với Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung người Cộng Sản không chỉ nhìn nhận là “một cơ quan an ninh đích thực” một “cơ quan mật vụ có một không hai”. Mà về mặt trình độ nghiệp vụ và hiệu quả, nó còn là một sự kiện “kỳ diệu” đối với họ:

“Thành tích chống cộng của Mật Vụ Ngô Đình Cẩn-Dương Văn Hiếu thật kỳ diệu. Chúng đánh thẳng vào các cơ quan đầu não của các đảng bộ miền Trung như liên khu ủy 5, tỉnh ủy Thừa Thiên, thành ủy Huế rồi Đà Nẵng. Tiến xuống phía Nam, chúng tấn công cơ sở đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn, Thủ Biên, Cần Thơ. Nổi bật nhất là Mật Vụ Miền Trung đánh bắt gọn các lưới tình báo chiến lược của ta trải suốt từ Bến Hải đến Sài Gòn trong vòng chỉ có một năm”. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 2)

“Phải công nhận bọn Mật Vụ Ngô Đình Cẩn có giỏi thật. Văn nghĩ thầm. Tại sao mình không dám nói là địch giỏi (nếu thực nó giỏi) mà cứ phải vòng quanh chơi chữ để hạ thấp nó xuống và tìm cách che đậy, tự tôn mình lên? Nó nắm vững mình từ tổ chức, phương châm công tác, quy luật hoạt động tới tâm lý và quy luật tư tưởng. Nó rành cả cách đảng ta xử lý cán bộ bị bắt và sau khi ra tù. Mình đánh giá địch quá thấp, chỉ vì bảo thủ, giáo điều, một chiều, chỉ vì bất động trong khi địch thì thiên biến vạn hóa, đặc biệt về ngành an ninh, tình báo, công an”. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 113)

Công cuộc chống cộng của miền Nam đang thu đạt nhiều kết quả trong mọi lãnh vực qua quốc sách “Ấp Chiến Lược” và hiệu quả của “Chánh Sách Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ”. Một kết quả mà ông Lê Duẫn, tổng bí thư đảng Cộng Sản việt nam đã phải thú nhận trong “Thư vào Nam” (Chỉ thị hướng dẫn đường lối hoạt động cho lực lượng Cộng Sản tại miền Nam chống phá Ấp Chiến Lược), gửi cho Mười Cúc, tức Nguyễn văn Linh, khi ấy là xứ ủy nam bộ, Thư đề tháng 7 năm 1962 có đoạn viết:

“Đã có lúc ở Nam Bộ cũng như ở khu 5 (miền Trung), tình hình khó khăn đến mức tưởng như cách mạng không thể duy trì và phát triển được”.

Tiếc rằng sau khi lật đổ được chế độ Đệ I Cộng Hòa, các Tướng đảo chánh không ý thức được tầm vóc của các Chính Sách Ấp Chiến Lược và Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ, nên việc đầu tiên các ông làm là: Hủy bỏ chương trình Ấp Chiến Lược. Bắt giam tất cả nhân viên Đoàn Công Tác Đặc Biệt, trả tự do tất cả các cán bộ tình báo chiến lược và quân báo Việt Cộng đang bị giam giữ. Trong khi đó, các ông không biết làm sao điều hành quốc gia, tăng gia nỗ lực chiến tranh, mọi việc đều trông chờ sự chỉ dẫn của người Mỹ. Xin hãy nghe người Cộng Sản nói:

“Song kết quả chúng thu được không như chúng mong muốn. . . Vì khi chế độ Diệm bị lật đổ, nhóm đảo chánh không tiếp thu được trọn vẹn công việc của ” Đoàn Công Tác”. (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 152)

“Sau Diệm, chế độ Ngụy phơi trần bộ mặt tay sai Mỹ không thể ngụy trang nổi. Trong các cơ quan an ninh, cảnh sát, người Mỹ thọc tay xuống đến Quận Huyện cùng tham gia từng vụ việc. . .

Thế nhưng trong giới an ninh, cảnh sát Ngụy và cả chủ Mỹ của nó vẫn luyến tiếc “Đoàn Công Tác. . . “

“Công việc đánh phá cách mạng đang dở dang được nghiên cứu chắp nối. . . Thế nhưng chúng đã phải chùm lại trước nhiều trở ngại không được vượt qua. Trở ngại lớn nhất và chủ yếu là tổ chức và quyền hành của “Đoàn Công Tác” trước đây to lớn quá, nó trực thuộc chóp bu Diệm, Nhu, Cẩn, lại không bị ràng buộc hạn chế gì về cơ cấu pháp lý và hành chánh. . . ” (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 204)

“Tuy vậy về các mặt hoạt động nghiệp vụ, các cơ quan an ninh tình báo ngụy, nhất là ngành cảnh sát đặc biệt, vẫn rút kinh nghiệm qua hoạt động của Đoàn Công Tác để vận dụng vào việc đánh phá cách mạng”. (Mật Vụ Ngô Đình Cẩn. Trang 206)

CUỘC BINH BIẾN 11.11.1960

Cuộc binh biến ngày 11 tháng 11 năm 1960 do một nhóm sĩ quan cấp Tá chủ động. Ba sĩ quan cầm đầu vụ này là Trung Tá Vương Văn Đông, Trung Tá Nguyễn Triệu Hồng và Thiếu Tá Nguyễn Huy Lợi. Lực lượng quân sự chính yếu của cuộc binh biến là 3 Tiểu Đoàn Nhảy Dù và 1 Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Cuộc binh biến ngày 11.11.1960 xảy ra hoàn toàn bất ngờ đối với miền Trung.

Khi nhận được tin có binh biến đang xảy ra tại Sài Gòn, tôi trình cho ông Cẩn biết, đồng thời cũng cho ông hay Tư Lệnh Quân Khu, Tướng Đôn và hai Tư Lệnh Sư Đoàn I và II đều đang ở Sài Gòn.

Theo chỉ thị của ông, tôi mời Đại Tá Trần Văn Trung, tức Trung Tướng Trung sau này, khi ấy đang phụ trách Thanh Niên Cộng Hòa Miền Trung, hiện ở Pháp, qua tạm nắm quyền chỉ huy Sư Đoàn I. Thiếu Tá Nguyễn Ấm, hiện ở Việt Nam, lúc ấy đang chỉ huy một Trung Đoàn của Sư Đoàn II, tạm nắm quyền chỉ huy Sư Đoàn II.

Mặt khác, đường giây điện thoại của văn phòng liên lạc với Sài Gòn không bị trở ngại nên chúng tôi theo dõi được đều đặn diễn tiến tình hình.

Nhờ vậy mà tình hình tại miền Trung hoàn toàn yên tĩnh trong biến động này.

Sau khi trật tự được vãn hồi, tình hình hoàn toàn ổn định, ông Cẩn sai tôi đem 300.000 đồng vào Sài Gòn trao cho Tướng Nguyễn Khánh, khi ấy là Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, Đại Tá Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh và Đại Tá Lâm Văn Phát, Tổng Giám Đốc Bảo An, mỗi vị 100.000 đồng để khao quân. Tôi đã trao số tiền này cho ba vị tại tư thất Đại Tá Trần Thiện Khiêm trong khu Cư Xá Sĩ Quan cấp tá Bộ Tổng Tham Mưu.

LỰC LƯỢNG VÕ TRANG NHÂN DÂN

Lý do khiến ông Ngô Đình Cẩn đưa ra một kế hoạch chống du kích Cộng Sản được gọi là “Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân” là vì: Theo quy định của Hiệp định Genève, trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, ngày 27. 7 tại miền Bắc, ngày 1 tháng 8 tại miền Trung và ngày 11. 8 tại miền Nam, các lực lượng của phía quốc gia và quân đội Pháp tại miền Bắc, rút vào phía Nam vĩ tuyến 17 qua cửa khẩu Hải Phòng. Các lực lượng Việt Cộng tại miền Nam vĩ tuyến 17, qua hai cửa khẩu Cà Mâu và Phú Yên. Chính quyền Quốc Gia tiếp thu vùng Cà Mâu tháng 2 năm 1955 và ba Tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên tháng 4 cùng năm.

Một thời gian ngắn sau khi việc rút lực lượng của hai bên hoàn tất, tại những vùng chính quyền Quốc Gia mới tiếp thu, nổi lên phong trào đấu tranh chính trị đòi hiệp thương, tổng tuyển cử v. v. . .

Biết rằng, phong trào này do cán bộ Việt Cộng được gài lại từ địa phương khơi động và lãnh đạo, theo kế hoạch của Cộng Sản Hà Nội. Nhằm đối phó với tình hình này. Chiến Dịch Tố Cộng được phát động.

Sau hai năm thực hiện, chiến dịch đã loại trừ phần lớn số cán bộ Việt Cộng được gài lại thành thị đến nông thôn, đặc biệt là tại miền Trung. Tình hình tại đây được nhóm cán bộ tình báo chiến lược bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt kể lại trong hồi ký Bội Phản Hay Chân Chính như sau:

“Một anh cán bộ hoạt động sâu trong phong trào bám sát nhân dân, cùng quần chúng tranh đấu ăn thua, giáp mặt với đối phương không biết bao nhiêu trăm trận thắng thua không còn thời giờ để kiểm, vì tranh chấp nổ ra từng giờ từng phút trong mọi vấn đề sinh hoạt thường ngày của người dân tự do nay bị kiềm thúc lại. . . Tới khi khoanh vùng cơ sở bị đánh tan tành xí quách, bám trụ trong dân không nổi nữa, anh ta phải bật lên núi. Bám núi, anh cán bộ vẫn chỉ đạo phong trào ở đồng bằng. Đối phương bao núi, cắt đường liên lạc tiếp tế. Lương thực cạn dần, liên lạc tắc nghẽn. Cuộc sống ngày một trở thành vô nghĩa nếu cứ bám trụ trên núi cao, trong rừng sâu, quanh quẩn với cây rừng và khỉ đột. . . Hết gạo, hết lương khô, hết muối, hết mọi thứ. Đói quá, không tính thì chết đói, không lẽ chết đói để giữ vững khí tiết người vô sản? Xuống núi, thế nào cũng bị bắt, anh cán bộ biết chắc như vậy. . . “(Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 102)

Đường sông Bến Hải tắc nghẽn hoàn toàn, con kiến bây giờ cũng không chui qua lọt. . . đường núi vừa bị Công An và Quân Đội Ngô Đình Cẩn chặn, phá tanh banh. . . Mình xây không kịp chúng phá. (Bội Phản Hay Chân Chính. Trang 154)

Liền sau đó, hai màng lưới “tình báo chiến lược” và “quân báo” từ Bến Hải vào đến Sài Gòn bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung đánh bắt gọn vào hạ bán niên năm 1958.

Tướng Văn tiến Dũng tư lệnh đoàn quân chà đạp Hiệp định Paris tiến chiếm miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trong cuốn Về Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước, xuất bản năm 1996, ông ghi theo những số liệu mới nhất của bộ chính trị ban chấp hành trung ương đảng Cộng Sản về tổn thất của lực lượng Cộng Sản tại miền Nam như sau:

“Chỉ tính trong 4 năm từ 1955-1958 cả miền Nam tổn thất 9 phần 10 số cán bộ, đảng viên. Ở Nam Bộ khoảng 7 vạn cán bộ, đảng viên ta bị địch giết, gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị bắt giữ, bị tù đày, gần 20 vạn bị địch tra tấn thành tàn tật. Chỉ còn 5 ngàn đảng viên so với 60 ngàn trước đó. Có nơi như Tiền Giang chỉ còn 921 gia đình, Biên Hòa mỗi nơi còn 1 chi bộ đảng.

Ở khu 5 (lúc này gồm cả Trị-Thiên và cực Nam Trung Bộ) khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên xã bị bắt, bị giết. Có Tỉnh chỉ còn 2-3 chi bộ. Riêng Trị-Thiên chỉ còn 160 so với 23.400 đảng viên trước đó”. (sđd. Trang 16)

Tướng Dũng viết tiếp:

“Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của 4 năm đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ và nghiên cứu những kiến nghị khẩn thiết của nhiều cấp ủy đảng cán bộ và đảng viên. Bộ chính trị đã tập trung sức và trí tuệ chuẩn bị một giải pháp cơ bản cho cách mạng miền Nam để trình ban chấp hành trung ương”.

Tháng 1 năm 1956 ban chấp hành trung ương đảng Cộng Sản họp hội nghị lần thứ 15 (khóa 2) dưới sự chủ tọa của ông Hồ chí Minh, ban hành nghị quyết 15/59 xác định đường lối cách mạng Việt Nam tại miền Nam là:

“Con đường cách mạng bạo lực. Căn cứ vào tình hình cụ thể lúc này, ta chủ trương lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”. (Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước. Trang 18)

Xin nhắc lại hình thức đấu tranh vũ trang vốn bị trung ương đảng Cộng Sản họp lần thứ 6, tháng 7. 1954 và bộ chính trị họp tháng 9 cùng năm cấm sử dụng tại miền Nam từ khi thi hành Hiệp định Genève.

Sau khi nghị quyết này được phổ biến, số cán bộ Việt Cộng được gài lại tại miền Nam lọt lưới Phong Trào Tố Cộng, bắt đầu moi vũ khí đã chôn dấu lên, gia tăng các hoạt động khủng bố, bắt cóc, ám sát, viên chức chính quyền, đặc biệt là nhân viên xã ấp và những người hợp tác với Chính Phủ trong các vùng xa xôi hẻo lánh. Đồng thời, với súng đạn được tiếp tế thêm từ Hà Nội, họ mở các trận phục kích, tấn công thăm dò. Mở màn là cuộc phục kích một đơn vị của Sư Đoàn 23, tháng 9. 1959. Rồi đến cuộc tấn công một Trung Đoàn của Sư Đoàn 21 đóng tại Trảng Sụp, Tỉnh Tây Ninh dịp Tết Nguyên Đán Canh Tý 1960. Cùng trong tháng này tấn công Thị Xã Đồng Xoài. Các cuộc phục kích, đặt mìn trên các trục giao thông chính cũng gia tăng, gây nên tình trạng bất an khắp nơi. Tiếp đến là trận Ấp Bắc, được một số báo chí Mỹ tường thuật và thổi phồng một cách thiên vị, gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước.

Tại miền Trung, suốt thời gian này, tình hình an ninh vẫn được duy trì tốt. Nhưng qua năm 1961, nhận thấy cường độ phá hoại, khủng bố, ám sát của Việt Cộng gia tăng nhanh chóng. Đặc biệt, đầu năm Quận Hậu Đức thuộc Tỉnh Quảng Nam bị tấn công và thất thủ, Quận Trưởng tự trận. Cuối năm, Quận Ba Tơ thuộc Tỉnh Quảng Ngãi bị tấn công, cũng thất thủ, Phó Tỉnh Trưởng Nội An tử trận, Quận Trưởng mất tích. . .

Trước tình hình này, ông Ngô Đình Cẩn nhận định rằng: Bộ đội chính quy và địa phương của Cộng Sản có thể mở được những cuộc tấn công lớn và có kết quả như vậy là nhờ có lực lượng du kích làm tai mắt. Muốn ngăn chận được những cuộc tấn công như vậy phải vô hiệu hóa được lực lượng du kích. Tại các xã, ấp, nơi nào cũng có những thành phần có tinh thần chống cộng quyết liệt, có những gia đình có hận thù sâu sắc với Việt Cộng. Nhưng vì không có phương tiện tự vệ, nên họ không dám ra mặt chống lại bọn du kích. Vì thế, phải võ trang cho các thành phần này để thực hiện kế hoạch vô hiệu hóa du kích.

Từ nhận định trên đây, ông Cẩn đề ra kế hoạch võ trang nhân dân, cung cấp một cách kín đáo cho những thành phần kể trên các loại vũ khí cá nhân rất nhẹ, với mục đích:

– Giúp họ phương tiện tự vệ chống lại khủng bố.
– Diệt du kích.

Kế hoạch được Tổng Thống Diệm chấp thuận cho thực hiện thử nghiệm tại miền Trung, gồm các Tỉnh thuộc Trung và Cao Nguyên Trung Phần. Ông Hoàng Trọng Bá, Chủ Tịch Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên, Dân Biểu Quốc Hội, được ông giao nhiệm vụ phụ trách Phong Trào này. (ông Bá bị Việt Cộng đập bể đầu chết trong lao xá Thừa Thiên trong trận Tết Mậu Thân, 1968)

Khởi sự việc thực hiện kế hoạch, một mặt ông yêu cầu ông Bá đi họp với Ban Chấp Hành Phong Trào các Tỉnh, thuyết trình cho họ thất triệt kế hoạch, tuyển chọn người. Một mặt ông nhờ Tỉnh Đoàn Bảo An Tỉnh Thừa Thiên dựng một trại huấn luyện sơ sài, nhà tranh vách nứa, tại Xã Long Hồ, Quận Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên. Đồng thời xin Quân Khu II cung cấp một bộ phận điều hành trại. Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn I Nguyễn Văn Thiệu, tức Tổng Thống Thiệu sau này, đã biệt phái Trung Úy Ngô Văn Khoách và một Hạ Sĩ Quan qua phụ trách công tác này. Công tác huấn luyện được một toán huấn luyện viên của Lực Lượng Đặc Biệt do Trung Úy Ngụy Hiền chỉ huy từ Sài Gòn gửi ra, đảm trách. (Trung Úy Hiền có cấp bậc sau cùng là Trung Tá, hiện định cư tại Los Angeles County, California).

Để có phương tiện huấn luyện và võ trang cho lực lượng này, ông yêu cầu Bộ Nội Vụ mời hai cố vấn của Bộ là ông Lucien O’Conein (người móc nối số Tướng lãnh thực hiện cuộc đảo chánh 1. 11. 1963) và ông Ralph Jonhson, ra họp với Ban Phụ Trách Lực Lượng tại Huế để xin yểm trợ. Ngay trong phiên họp đầu tiên, hai viên chức này đã bị nhận định của ông Cẩn thuyết phục hoàn toàn. Sau đó, ông Ralph Jonhson giữ vai trò cố vấn cho Lực Lượng.

Đến cuối năm 1962 thì Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân đã thực sự hoạt động có hiệu quả các Tỉnh Trung Nguyên Trung Phần và đầu năm 1963, tại hai Tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng thuộc Tỉnh Cao Nguyên.

Hiệu quả của Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân đã lôi cuốn sự chú ý của Ngũ Giác Đài. Đầu năm 1963, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ phái hai viên chức qua nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Lực Lượng. Ngày họ đến Huế, ông Mullen, Phó Lãnh Sự Mỹ mời tôi dùng cơm tối với họ tại tư thất của ông. Trong cuộc gặp gỡ này, họ tìm hiểu rất kỹ lưỡng về đường lối tổ chức, phương thức điều hành, tuyển chọn, huấn luyện, hoạt động v. v. . của Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân.

Một sự trùng hợp lý thú xảy ra ngay đêm hôm đó. Tại một Ấp phía Tây phi trường Phú Bài, đi sâu vào gần chân núi, Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân đã hạ được 2 tên du kích. Sáng hôm sau được tin báo, tôi đã mời ông Phó Lãnh Sự Mullen và hai viên chức này đi cùng với ông Hoàng Trọng Bá, tôi và nhân viên hữu trách Quận Hương Thủy, đến quan sát hiện trường. Tại đây, nhân viên Quận đã dò hỏi dân chúng trong Ấp, nhưng không ai biết lực lượng nào đã hạ 2 tên du kích.

Ông Mười Hương, người chỉ huy màng lưới tình báo chiến lược của Hà Nội tại miền Nam và hai nước Miên, Lào, quý độc giả đã thấy tên trong danh sách số cán bộ tình báo chiến lược của Cộng Sản tại miền Nam bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt của ông Cẩn bắt. Ông Hương bị bắt giữ từ 1958, được chính quyền và các Tướng đảo chánh trả tự do tháng 5. 1964. Trong thời gian bị giam giữ ông Hương nói về ông Ngô Đình Cẩn như sau:

“Hồi xưa (những năm 40) có lúc từ Phúc Yên về Hà Nội nếu không tính thời gian sao cho kịp đến nhà cơ sở thì đêm xuống không biết ở đâu. Tôi đã từng có cảm giác cô đơn lạnh lùng khi phong trào đi xuống. Thế nhưng hồi ấy cũng không đen tối bằng sau này (những năm 1957-1959). . . “

Ông bảo:

“Chúng ta lâu nay cứ chê bai thằng Cẩn, rằng nó đi guốc mộc, miệng nhai trầu bỏm bẻm. . . , chê như vậy không đúng đâu. Thằng Cẩn giỏi lắm, có mưu trí lắm”.

—>Chương 2

 

This entry was posted in Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà. Bookmark the permalink.