GIA TÀI NGƯỜI MẸ ( Dương Nghiễm Mậu )

-1- Continue reading

Posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, Dương Nghiễm Mậu | Leave a comment

CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975 : Lời mở đầu

(TM tổng hợp và bổ túc)

LỜI MỞ ĐẦU

Bài này là một liệt kê , tổng hợp và bổ túc lược sử các nghĩa địa ở trong địa bàn Sàigòn- Gia Định trước năm 1975 trong đó có nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp. Tuy nhiên,nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa ở Biên Hòa cũng được điểm thêm vào bởi vì nghĩa trang này là phần nối dài của nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp. Continue reading

Posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975 | Leave a comment

MƯỜI ĐÊM NGÀ NGỌC (Mai Thảo)

Lời nhà xuất bản Xuân Thu

Nhà văn Mai Thảo không xa lạ gì đối với độc giả Việt Nam. Tập truyện đầu tay của ông, “Đêm giã từ Hà nội”, đã gây tiếng vang lớn ngay khi vừa phát hành. Ông trước bạ tên ông trên tạp chí Sáng Tạo và nhà xuất bản Sáng Tạo, mở ra một phong trào văn học nghệ thuật mới sau hiệp định Genève 1954. Chính ông đã khám phá và giới thiệu những khuôn mặt văn nghệ lẫy lừng như Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Duy Thanh, Ngọc Dũng… Mai Thảo, Duyên Anh và Nhã Ca là ba nhà văn viết nhanh nhất, có nhiều sách xuất bản nhất trước 1975. Ở tiểu thuyết của ông, Mai Thảo không thích truy nã thân phận con người, không ham gào thét cô đơn, không động lòng về những trắc ẩn của đời sống hoặc ưu tư về những vấn đề nước non. Xuyên suốt tiểu thuyết của ông, Mai Thảo chỉ muốn tìm cái lãng quên của những kiếp người lỡ trớn đời, những người thèm “Sống chỉ một lần,” để “Cũng đủ lãng quên đời”“Để tưởng nhớ một mùi hương…” Muốn thẩm định chính xác văn chương của Mai Thảo, có một cách duy nhất là đọc ông.

(Cathy – Độc giả BVCV – đánh máy từ bản PDF của tusachtiengviet.com)

Lời vào tập

Khi tình yêu có, lập tức cũng là lúc những sức mạnh phản chống tình yêu nổi dậy cản đường và đánh phá. Những sức mạnh phản chống đó không nhất thiết bởi và do lòng thù ghét của một xã hội nhỏ nhen tàn ác – đừng có ảo tưởng, xã hội nào cũng nhỏ nhen tàn ác vô cùng – mà bắt nguồn ngay từ chính bản thân những người yêu nhau, đó là ý nghĩ không đổi dời của người viết những giòng này về chín mươi chín phần trăm nguyên nhân tan vỡ của một tình yêu hai người. Và đó cũng là cái hiện tượng phản phúc thường không vượt qua và né thoát được của tình yêu không trọn vẹn. Continue reading

Posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, Mai Thảo | Leave a comment

MỘT ĐỜI ĐỂ HỌC (Nguyễn Tấn Hưng)

Lê Thy đánh máy từ sách:

Vài dòng cho đời học trò.
Cho anh, cho em, cho các con và gia đình.
Và cho những ai còn đi học. (
NTH)

MỤC LỤC

Một thời xa xưa

Học trò quê bên ngưỡng cửa tình yêu

Trong miền quá khứ

Vào lính

Đệ nhứt Thập Bát Đao Phủ Thủ

Sợi dây định mệnh

Bước đầu

Chiếc đũa thần

Ngăn sông cách núi

Nghiệp dĩ

Một đời để học

—>Một thời xa xưa

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, Nguyễn Tấn Hưng | Tagged , | Leave a comment

TÔI LÀM TÔI MẤT NƯỚC (Lê Văn Phúc)

(nguồn: Lê Thy đánh máy từ bản PDF của tusachtiengviet.com)

Bìa trước: NHỮNG CÁNH CHIM PHIÊU BẠT
của nhiếp ảnh gia NGUYỄN VĂN VŨ

VÀI CẢM NGHĨ VỀ “TÔI LÀM TÔI MẤT NƯỚC”

Ngay khi đọc xong loạt bài, tôi đã bàn với anh rằng cuốn sách phải ra bằng được để phá cái không khí khó thở, không ai dám nói ra, không ai dám mổ xẻ, không ai dám nhận mình có lỗi. Riêng gia đình tôi, cả nhà tán tụng và khen nức nở thầy Cai .

Cao Thế Dung, Maryland

Cuốn sách của anh đã là câu trả lời chính đáng nhất về thân phận mình và hai chữ “Tại sao?”. Tuy là tự trào nhưng mỉa mai châm biếm một cách chua chát ngấm ngầm, tưởng rằng người Việt Nam nào đọc xong cũng phải có chút tự vấn.

Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, Utah

Đọc bài không biết Phúc nào, nhưng nhìn ảnh là nhận ngay ra người bạn Dalat năm xưa. Lối văn của anh đọc dễ thích lắm, nhất là những đoạn về Dalat gợi tôi nhớ đến những ngày Ngự Lâm Quân

Nguyễn Đạt Thịnh, Hawaii

Sống ở xứ người mà có một cuốn sách hay để đọc, thật quí vô cùng. Xin cám ơn anh thật nhiều.

Thái Thanh, Cali

Xin thành thật khen bút pháp của ông. Bằng chứng hùng hồn nhất là tôi đặt mua ngay quyển sách này khi ông vừa loan tin trên báo. Ông có lối “tếu” trào lộng, bình dân mà lại bóng bẩy, khả ái, có thể “thọt lét” rất nhiều giới…”

Kim Anh, độc giả Maryland

Là tác phẩm đầu tay, dù sinh hoạt báo chí lặng lẽ 30 năm mới trình làng. Lê Văn Phúc có giọng văn chân thành, tự nhiên, can đảm nhìn vào vấn đề mà ít ai dám nói.

Chu Vương Miện, Cali

Đây không chỉ là một tác phẩm văn chương mà chúng ta thưởng thức trong lúc nhàn rỗi. Đây là một tấm gương rất trong, rất sáng mà chúng ta soi vào để mỗi người nhận thấy một phần của mình. Đã có người đọc cuốn này rồi khóc nức nở. Khóc vì hối hận hay khóc vì thương nước, nhớ nòi? Điều đó chỉ riêng người ấy biết.

Lã Huy Quý, Texas

Sách thật tuyệt vời, đáng gọi là sách hay nên tôi đã đọc đến hai lần trước khi viết lời cảm tạ.

Thái Đình, Cali

Lê Văn Phúc mà Lan thường hay gặp trong Văn Nghệ Tiền Phong khác hẳn với Lê Văn Phúc của “Tôi Làm Tôi Mất Nước”. “Khác” như thế nào thì Lan không diễn tả nổi. Lan lại ước được làm “nhà văn”

Uyên Lan, Texas

Anh viết thông minh, ý nhị. Nguyên đề tài anh chọn lựa, cái nhan đề cuốn sách đã là một ý kiến độc đáo, nghịch ngợm rồi. Tôi chắc tác phẩm sẽ được độc giả hoan nghênh .

Võ Phiến, Cali

Giọng văn vui nhẹ của Phúc hợp với vụ tự trách. Trách mình luôn thể trách người, đâu phải chỉ để làm vui mà thôi.

Mặc Đổ, Texas

Chắc thiên hạ mê “Tôi Làm Tôi Mất Nước” lắm

LM Nguyễn Văn Thư, Cali

Được đọc lại liên tục với một hình thức đẹp, thật là “khoái tỉ”. Viết văn loại này, khó ai theo kịp Cai Phúc.

Bội Điệp, Florida

Cuốn sách đã mở lại cho tôi cả một trời hoài niệm, trong đó vui buồn lẫn lộn. vừa tủi hờn vừa hối tiếc, bấy nhiêu thứ đã nhờ ngọn bút tài tình ngào nặn trong khía cạnh trào lộng và tan ra trong nụ cười “chẳng đặng đừng”. Cám ơn ông đã cho những phút giây “khoái cảm” đó .

Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Anh Quốc

Tôi đã say mê đọc trước đây tập truyện ký của hiền hữu, đăng rải rác trên nhiều tờ báo, vẫn ước mong một ngày nào đó có nguyên một bộ, nay được toại nguyện để vào tủ sách văn học của gia đình.

Đào Hữu Dương, Cali

Cuốn sách được viết một cách duyên dáng, hấp dẫn khiến người đọc không biết chán. Viết về cái tôi rất khó mà văn hữu lại gây cho người đọc có cảm tình với tác giả, thật là điểm son rất quí.

Đông Ngàn, Texas

Đọc xong “Tôi Làm Tôi Mất Nước”, có một điều chắc chắn thấy ngay Lê Văn Phúc không phải chỉ muốn “chọc cười” như người ta tưởng. Phải chăng tác giả muốn mọi người cùng soi chung cái gương quá khứ để tự kiểm .

Trọng Kim, Texas

Với lối viết thoải mải, phóng đại kèm theo một trí nhớ siêu đẳng, Lê Văn Phúc dẫn chúng ta trở về, bơi lội thỏa thuê trong những giòng sông hồi tưởng thật rõ nét .

Hồ An, Washington

Tôi đọc rất thú vị, đặc sắc với bài phú “Xuân Viễn Phương” đầy đủ tình người, tình quê hương, và “ngòi bút cỏ lửa trên tuyến chống cộng sản”.

Đỗ Quốc Anh Thư, Cali

Đọc tác phẩm để tìm hiểu thêm một chút nữa về chính mình cũng như về những nguyên nhân khác đưa đến sự mất quê hương .

Lê Văn Xê, độc giả ở Nhật Bản

Cuốn sách độc đáo mà tối nào nhà tôi cũng đọc mấy chục trang lại cho tôi nằm nghe và nhà tôi cứ khen là chú giỏi và “lém”quá! Mong rằng cuốn sách này sẽ được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt.

Bảo Vân Bùi Văn Bảo, Canada

Sách anh tặng Hoàng Oanh lật vội vài trang đọc thấy buồn cười quá! Văn anh viết rất dí dỏm, giản dị làm ai đọc cũng thấy thoải mái như đang khát nước mà uống được một ly đá chanh đường vậy.

Hoàng Oanh, New Jersey

Trong sách ông có nhiều chỗ cảm khái dù ông viết thẳng băng như ruột ngựa! Tôi đọc thì thấy… cái tựa đề phải đề là “Ông Làm Tôi Mất Nước” ông Cai Phúc ạ! Tội tôi còn có vẻ nặng hơn ông nữa…

Nhất Tuấn, Washington

Lối viết châm biếm, dí dỏm của anh làm người đọc thoải mái, thích thú và dễ có cảm tình.

Vũ Thụy Hoàng, Virginia

Tôi đã theo dõi loạt bài của ông trên Đất Mới và rất lấy làm ngưởng mộ .

Nguyễn Công Thuần, độc giả ở Nữu Ước

Tuy đã đọc trên báo, tôi vẫn hứng khởi đọc lại “Tôi Làm Tôi Mất Nước” và thích thú vô cùng. Cám ơn anh đã tặng sách quí.

Túy Hồng, Washington

Tôi đang mê ông, xin gửi cho tôi một cuốn với chữ ký để lưu tủ sách gia đình .

Họa Sĩ Phạm Thăng, Canada

Từ mười năm nay, thiên hạ viết về sự sụp đổ của miền Nam đã nhiều, chưa có ai viết dễ thương như ông Lê Văn Phúc.

Sách có thứ hay, thứ dở, thứ cao, thứ thấp v.v… nhưng thứ sách “dễ thương” mới là hiếm, là quí…

… Đọc xong sách của Cai Phúc, mỗi độc giả chắc chắn đều giật mình, đỏ mặt, tự đấm ngực thú tội: Mình vừa có cảm tình với một kẻ làm mất nước. Sao mà nhảm thế!

Ngô Đình Sở, Văn Học Nghệ Thuật, Cali

Một bản tự thuật chân thành mà hết thẩy những người tị nạn cộng sản biết suy nghĩ, trách người và trách mình đều lấy làm thích thú. Đọc Lê Văn Phúc, ai cũng phải công nhận ông có một ngòi bút viết thực dí dỏm, đáng yêu.

Pham Cao Củng, Florida

—>1

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, LÊ VĂN PHÚC: Tôi Làm Tôi Mất Nước | Leave a comment

XÓM NHÀ TÔI (Tạ Tỵ)

(Lê Thy đánh máy
từ bản PDF của tusachtiengviet.com)

TẬP TRUYỆN NGẮN
của
TẠ TỴ
(Viết trong thời gian lưu vong nơi đất khách)

Xuân Thu xuất bản lần thứ nhất
tại Hoa Kỳ năm 1992

o O o

MỤC LỤC

Gửi

Xóm Nhà Tôi

Những Đêm Dài Trên Đảo Bidong

Trong Vùng Ảo Giác

Những Ngày Đầu Trên Đất Mỹ

Trên Những Nẻo Đường Sài-Gòn

Có Phải Mùa Xuân ?

Biết Đến Bao Giờ ?

Lại Mùa Xuân

Như Thế

Cũng Đành

Một Chút Tình Riêng

Kẻ Đi Tìm Mùa Xuân Continue reading

Posted in 4.Truyện ngắn, Tạ Tỵ | Leave a comment

DĨ VÃNG (Hồ-Dzếnh)

(Đánh máy: Cathy)

Lời Giới Thiệu

Chúng tôi, buổi này, cho ra mắt cuốn DĨ VÃNG, là có ý giới thiệu với các bạn cuốn văn đầu tiên của thi sĩ Hồ Dzếnh (mà những bài thơ trong tờ Tiểu thuyết thứ bảy đã khiến các bạn để ý từ lâu).

Đây không phải là một câu chuyện biến ảo, li kỳ đầy những sự hồi hộp. Đây chỉ là một câu chuyện dĩ vãng của một thi nhân nhiều tình mộng.

…Năm tháng trôi qua, cỏ đã bao nhiêu lần úa và mọc xanh trên những nấm mồ.

Một thi nhân, giữa một đêm lành lạnh, nướng sợi tóc bạc vào ngọn lửa một chiếc đèn leo lét, trạnh nhớ đến thời xưa. Thi nhân buồn rầu đọc một lá thư của người mà mười lăm năm trước, chàng đã mất bao nhiêu nước mắt ước ao.

Thư ấy có câu :

…. (Đến bây giờ … người yêu ông đã mất, tôi mới lại dám ngỏ chút lòng oan khổ mà đằng đẳng bao lâu nay tôi từng chép nó bằng nước mắt của một thiếu phụ có chồng con)

Thi nhân thoáng thấy hình ảnh một người hiền phụ đợi chồng, thấy tất cả một giấc mộng đương trôi về quá khứ …

Tất cả, tất cả cuốn văn chỉ gợi cho ta niềm nhớ, thương một cái gì đẹp đẻ lắm đã mất từ lâu …

NHÀ XUẤT BẢN

—>1

Posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết | Leave a comment

NHÀ AI (Nguyễn Đức Chính)

(Lê Thy đánh máy
từ bản PDF của tusachtiengviet.com )

MỤC LỤC

***

CÙNG QÚI VỊ ĐỘC GIẢ

Chắc quí bạn cũng dư biết với hoàn-cảnh hiện tại, việc xuất-bản một cuốn sách thật là vô cùng khó khăn, như vì muốn cung ứng một số tài liệu văn học nước nhà, chúng tôi cho tái bản những tập sách đã được xuất-bản thời tiền chiến.

Đây là những cuốn sách mà các bạn yêu sách hằng ao ước tìm kiếm để đọc và cũng là những tài-liệu để cho các bạn học sinh, sinh viên tham khảo trong phạm vi văn-học, nhưng có nhiều bạn không thể nào tìm kiếm được nên chúng tôi cho in lại với một số lượng ấn bản rất ít để làm thỏa mãn sự đòi hỏi của những bạn yêu sách.

Tưởng cũng cần lưu ý quí bạn, những tập sách này, các tác giả của nó đã sáng-tác vào thời tiền chiến là thời gian mà chế-độ cộng-sản chưa xâm-nhập vào đất nước chúng ta và các tác giả của nó đã sáng-tác trong một hoàn cảnh tâm hồn thoải mái, không hề bị gò bó ép buộc.

Vì vậy, đây là những tác-phẩm hoàn toàn có tính cách văn-hóa và hôm nay chúng ta đọc lại các tác-phẩm cũ của họ cũng là một dịp để so sánh và hoài cảm cho những tâm hồn mà giờ đây đã bị chế độ cộng-sản miền Bắc ép buộc uốn ngòi bút để phục-vụ cho họ và biến những nhà văn này thành những con người không còn là những con người thực của họ nữa.

Nhà Xuất Bản
NGÀY MAI
1968

—>Phần I

Posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết | Leave a comment

Tập truyện ngắn: QUÊ MẸ (Thanh Tịnh)

(Đánh máy: Lê Thy)

Tập truyện QUÊ MẸ gồm những truyện ngắn của Thanh Tịnh viết trước 1945
do Bút Việt phát hành
ngày 10 tháng 4 năm 1975

MỤC LỤC

Tựa (Thạch Lam)

1.Quê mẹ

2.Bến nứa

3. Chú tôi

4. Chuyến xe cuối năm

5. Ra làng

6. Tình thư

7. Con ông Hoàng

8. Quê bạn

9. Một làng chết

10. Tình quê hương

11. Tình trong câu hát

12. Tôi đi học

13. Bên con đường sắt

Tựa

Thanh Tịnh có lẽ là nhà văn đầu tiên ở miền Trung đã trình bày các mối dây liên lạc nơi ông với đồng nội quê hương, những dây liên lạc nhẹ nhàng như tơ đồng ngày thu, nhưng không vì thế mà kém phần vương vít và quyến luyến. Gió mùa của cả một vùng làng mạc và đồng ruộng ấy, chúng ta thấy lướt qua trong tác phẩm của ông, trong những truyện ngắn mà hầu hết khung cảnh là lũy tre của một xóm nhỏ, hoặc dòng sông con chẩy qua ruộng lúa xanh tươi. Cốt truyện chỉ là những việc xảy ra trong đời thường ngày của các nhân vật vẫn sống trong các làng, bến rải rác theo dọc sông, hoặc đã rời bỏ các nơi ấy đi làm ăn phương xa, nhưng mà trong lòng lúc nào cũng tưởng nhớ cái Tình Quê-hương đằm thắm.

Làng Mỹ-lý (một dặm đẹp) có lẽ không phải là một làng có thật trên bản đồ. Nhưng mà lại thật hơn, nếu tôi có thể nói thế, — đầy đủ và hoạt động hơn bất cứ một làng nào. Làng Mỹ-lý có lẽ chỉ là biểu hiệu cho tất cả các làng mạc trong một miền, nhưng cái tài của tác giả đã khiến cho gần gụi và thân mật; chúng ta tưởng đâu như sống đã lâu năm ở trong đó, cùng với người làng tham dự vào các công việc hàng ngày và cùng chia xẻ những nỗi buồn, vui.


Và chúng ta được chứng kiến những công việc rất thôn quê và mộc mạc. Một ngày gặt lúa, một buổi ra làng, hay một chuyến đò dọc từ chợ làng Thiện đến đầu làng Viễn-trình. Những cảm tình cũng giản dị như cuộc đời sống ấy, và chỉ đầy đủ hương vị trong lũy tre hay trên đồng ruộng ấy mà thôi. Có lẽ, linh hồn người ở đấy còn nhiều màu sắc khác, trong cuộc sống còn nhiều bi kịch khác, nhưng mà tác giả chỉ tả có cái vẻ êm ả và nên thơ. Tâm hồn ưa thích cái gì vừa đẹp đẽ, vừa nhè nhẹ, tác giả không lách đi sâu, nhưng dừng lại ở một làn gió, ở một cái thoảng hương thơm của hoa cỏ bốn mùa. Chiều trong Quê Mẹ thật dịu dàng, và bóng trăng trong
Quê Bạn cũng hiền lành êm ả. Tình quê hương của cô Thảo là một cái tình man mác và An-nam lắm. Cũng như cái tình yêu trung thành và kín đáo của cô Sương, an phận và nhẫn nại ngay từ trước khi yêu. Và trong những tình đó, có cái gì nho nhỏ xinh xinh, một cái gì đáng yêu thương khiến chúng ta cảm động; và chúng ta chú ý lắng nghe cái giọng hò mái đẩy (trong câu truyện hay
Tình trong câu hát) ngân dài trên phá Tam-giang giữa cánh đồng bát ngát và dưới « trời một vùng đêm dài không hạn». Đó là tiếng nói của những tâm hồn quê mùa kia, bài ca hát của đất nước một miền đồng ruộng, nhờ tác giả mà nhịp điệu và giọng buồn đến thắm thía chúng ta.

Thanh Tịnh đã muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để ca hát những đám mây và làn gió lướt bay trên cánh đồng, ca hát những vẻ đẹp của đời thôn quê. Ông có đạt được chăng cái ý muốn ấy, và tiếng sáo kia có uyển chuyển du dương không, tôi xin để các bạn đọc phán đoán lấy. Tôi chỉ muốn nói rằng trong lúc các nhà văn ta bắt đầu trở về đất nước để gìn giữ các hương hoa, Thanh Tịnh đã cho chúng ta nghe cái tiếng sáo nhỏ và thanh của ông, khẽ nổi lên lẫn với tiếng hò của bạn gặt trên sông để ca ngợi cái tình và cái thi vị của một vùng.

THẠCH LAM

—>Quê mẹ

Posted in 4.Truyện ngắn | Tagged , , | Leave a comment

BÓNG TỐI ĐI QUA (Kim Nhật): Quyển III

(Đánh máy: Lê Thy)
MỤC LỤC
(tiếp theo Quyển II)

Chương XIII:Chiến dịch Đồng Xoài
Chương XIV: Những người thầy thuốc «Đỏ» và Chuyên»
Chương XV: Trên nẻo về Tây Bắc
Chương XVI: Bộ Chỉ huy Ba Cục
Chương XVII: Rừng biên giới
Chương XVIII: Tạ từ Cách Mạng
ĐOẠN KẾT

—>Chương XIII

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, KIM NHẬT: Bóng Tối Đi Qua | 6 Comments

BÓNG TỐI ĐI QUA (Kim Nhật): Quyển II

(Đánh máy: Lê Thy)

MỤC LỤC
(tiếp theo Quyển I)

Chương VIII: Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa
Chương IX: Bên trời Đồng Nai Thượng
Chương X: Cành hoa chuối nước
Chương XI: Trưởng Trạm A1
Chương XII: Bộ Chỉ Huy Tiền Phương

—>Chương VIII

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, KIM NHẬT: Bóng Tối Đi Qua | Tagged , , | 8 Comments

BÓNG TỐI ĐI QUA (Kim Nhật) – Quyển I

(Đánh máy: Lê Thy)
MỤC LỤC

Chương I: Mùa Thu qua mau
Chương II: Đường vào lý tưởng?
Chương III: Cô Giao Liên B.39
Chương IV: Chặng đường đầu
Chương V: Tân binh I Tư
Chương VI: Chiến khu D! Chiến khu D!
Chương VII: Chiếc lá cuối thu

Continue reading

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, KIM NHẬT: Bóng Tối Đi Qua | 7 Comments

ĐÁY ĐỊA NGỤC (Tạ Tỵ)

(Đánh máy: Lê Thy)

*Kính dâng Việt Nam,
miền đất oai hùng nhưng bất hạnh

* Tặng các chiến hữu,
đã và đang sống trong các Trại TTCT

o O o

MỤC LỤC

Tự

Chương I: BÀI HỌC ĐẦU TIÊN

Chương II: SUỐI MÁU

Chương III: TRÊN ĐƯỜNG RA BẮC

Chương IV: SUỐI ĐỘC RỪNG THIÊNG

Chương V:VỀ XUÔI

—> TỰ

Posted in **Chuyện Tù, 1.Hồi-ký - Bút-ký, TẠ TỴ: Đáy Địa Ngục | Tagged , | Leave a comment

NHỮNG NĂM “CẢI TẠO” Ở BẮC VIỆT (Trần Huỳnh Châu)

(Đánh máy: Lê Thy)
MỤC LỤC

I- Từ Nam ra Bắc

II- Những người Phục Quốc bị đày ra Bắc

III- Đói

IV-Rét, Nóng và Bệnh Tật

V- Khổ Sai

VI- Khai Báo, Kiểm Điểm

VII- Vụ Đấu Tranh tại Trại số 5 Thanh Hoá

VIII- Thư Từ, Tiếp Tế, Thăm Nuôi

IX- Xã hội Miền Bắc qua cái nhìn hạn chế của một người tù

X- Trên đường về Nam

XI- Một vài cảm nghĩ

—>Tiểu sử tác giả

Posted in **Chuyện Tù, 1.Hồi-ký - Bút-ký, Trần Huỳnh Châu: NHỮNG NĂM "CẢI TẠO" Ở BẮC VIỆT | 2 Comments

BUỒN VUI ĐỜI NGHỆ SĨ (Hồi ký sân khấu của Cố soạn giả Nguyễn Phương)

(Đánh máy: Lê Thy)

MUC LỤC

  1. Thay lời tựa
  2. Nghệ sĩ trên các nẻo đường lang thang
  3. Chọn nghệ danh của nghệ sĩ
  4. Người trồng cây si Gia Long
  5. Tao ngộ trên sông
  6. Trường Xuân bị phục kích
  7. Long đong kiếp cầm ca
  8. Trên đường phiêu bạt chút tình lãng mạn
  9. Tập tục lạ đời trên đường lưu diễn
  10. Địa phương nào lãnh chúa nấy
  11. Nhập gia tùy tục
  12. Nghệ sĩ Tám Vân (vai Duy Bạt) bị quỷ ám trên sân khấu
  13. Một thời để nhớ: Đào hát biết phép thần thông
  14. Nhập giang tùy khúc
  15. 60 năm trước, nghệ sĩ sân khấu học hát như thế nào ?
  16. Nữ nghệ sĩ Diệu Hiền trong biển lửa
  17. Hề Thanh Việt
  18. Thanh Việt đụng độ Hùng Cường
  19. Nữ nghệ sĩ Hồng Nga
  20. Nhân vật Điên trên sân khấu
  21. Nhân vật Hề trên sân khấu
  22. Chuyện dị đoan trong giới nghệ sĩ
  23. Ngậm ngải tìm trầm
  24. Ngày xuân nghệ sĩ đi xem bói
  25. Cuộc sống sau bức màn nhung
  26. Nghệ sĩ Phượng Mai
  27. Hát chầu nhân lễ hội Kỳ Yên
  28. Lời bạt của Hồ Trường An

—> THAY LỜI TỰA

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, NGUYỄN PHƯƠNG: Buồn vui đời nghệ sĩ | Tagged , | 3 Comments

VỀ “R” (Kim Nhật)

– Xin gửi Thế hệ hôm nay và ngày mai.

– Xin ghi nhận nơi đây lời cảm ơn chân thành:

* Các Bạn bên kia chiến tuyến trở về

* Các Bạn bè, thân hữu

*…v.v….

đã giúp tài liệu, ý kiến để hoàn thành.

K.N.

(Đánh máy: Lê Thy)

MỤC LỤC
(Toàn tập)

Quan điểm người viết

PHẦN I: Những ngày đầu của Nguyễn Hữu Thọ

1- Sứ giả Trung Ương Cục

2- Đường vào khu chiến

3- Thử lửa

4- Đại tướng Nguyễn Chí Thanh

5- Giờ phút hồi hộp

6- Người phụ nữ số 1

7- Ông Chủ tịch

PHẦN II: “R”

1- “R” ?

2- Các khu vực R

3- Ông tổ của đường dây “Ông Cụ”

4- Khu A

5- Khu B: Miền và R

6- C, E và H

7- Rừng

PHẦN III: Chiến tranh từ đó

1- Đám tàn binh Bình Xuyên Tư Thiên

2- Cán bộ mùa Thu

3- Lính R

4- Từ I-2 gởi đến

5- Trong lòng đô thị

6- Việt kiều “Kăm Pu Chia”

7- “Đồng chí Bớc Sét”

8- “Đồng chí Tốp”

9- Đoàn Điện Ảnh Tân Hoa

PHẦN IV: Khung trời một góc riêng

1- Mười lăm ngày phép

2- Đẳng cấp của gian khổ

3- Bộ chỉ huy tối cao

4- Tình yêu và Đảng

5- Vòng hoa tang cho người cách mạng.

—>Quan điểm người viết

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R" | Tagged , | Leave a comment

TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH (Trần Kim Trúc)

(Đánh máy: Lê Thy)

Mùa Đông năm 1946.

Trong căn nhà lớn, bịnh xá của khu 7 tại miền Đông Nam Bộ, giữa rừng già Tân Uyên, bác sĩ Nguyễn văn Hưởng, Bộ trưởng Y tế trong Ủy ban Hành Kháng Nam Bộ, không dấu nổi vẻ băn khoăn, lo ngại trên khoé mắt. Continue reading

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN KIM TRÚC: Tôi giết Nguyễn Bình | 3 Comments

GIỜ CUỐI Ở MỘT ĐƠN VỊ NHỎ (Nguyễn Mạnh An Dân)

GIỜ CUỐI Ở MỘT ĐƠN VỊ NHỎ

-1- Continue reading

Posted in ***Mùa QUỐC HẬN, 1.Hồi-ký - Bút-ký, Nguyễn Mạnh An Dân | Leave a comment

Truyện ngắn: MỘT HƯỚNG ĐI (Điệp Mỹ Linh)

MỘT HƯỚNG ĐI*

Thời gian gia đình còn kẹt lại Việt Nam, tuy tuổi đời còn non dại, Nga đã nhìn đời bằng tâm thức của một thiếu nữ trưởng thành. Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, Phong được nuông chiều, cho nên, Phong rất vô tư. Thấy Nga không tỏ vẻ háo hức về tin chàng có xe mới, Phong hỏi lơ chuyện khác: Continue reading

Posted in 4.Truyện ngắn, Điệp Mỹ Linh | Leave a comment

CÂU CHUYỆN CÀ-PHÊ và MÙA HÈ ĐỎ LỬA (Nguyễn Mạnh An Dân)

CÂU CHUYỆN CÀ-PHÊ

MÙA HÈ ĐỎ LỬA

Bạn đã uống cà-phê nhiều, bạn biết mà, muốn phà một ly cà-phê tuyệt vời đâu có khó:

Cà-phê Sẻ loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà-phê Mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hả? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưỡi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị Rhum, thì Rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút Bretain vào. Continue reading

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Nguyễn Mạnh An Dân | Leave a comment

BẠN THỜI CHƠI NHÀ CHÒI (Nguyễn Văn Sâm)

BẠN THỜI CHƠI NHÀ CHÒI

Khi em đưa cái Thẻ Kiểm Tra, mình chưa đọc tên đã biết ngay là em. Nhưng mình cứ làm tỉnh ngồi ôn lại những kỷ niệm ngày xưa. Em thì tình thiệt không biết mình. Nhớ hồi nhỏ hai đứa cũng quyến luyến nhau, dầu chưa tới mười tuổi. Em hay giận hờn khi thấy mình thân thiện với con Bình khi cả bọn chơi nhảy cò cò. Mình cũng thấy ghét thằng Bé sứt môi khi thằng nầy tỏ ra săn sóc hay nhường nhịn em. Thường thì mình xô đẩy thằng Bé, nhiều khi còn cười ngạo cái bất hạnh của anh ta nữa. Nghĩ cũng kỳ cho tuổi trẻ ác tâm và không biết suy nghĩ. Continue reading

Posted in 4.Truyện ngắn | Leave a comment

TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN DUYỆT (Nguyễn Sơn Sàigòn)

TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ VĂN DUYỆT
(Quận Nhất – Sài gòn)

Hình tác giả: Nguyễn Sơn 1968

Ngày ấy năm xưa

Năm ngoái 2016 tôi có ý định viết một bài về ngôi trường xưa: “Trường tiểu học Lê văn Duyệt Saigon” vì qua năm 2017 thì đã đúng 50 năm tôi rời trường để bước tiếp con đường học vấn của bậc trung học.

Còn chưa biết sẽ viết cái gì? Cho ai đọc? Bạn bè thời tiểu học không phải dễ kiếm nếu sống tại Sàigòn vì người quá đông. Nếu ở tỉnh nhỏ thì có khi kiếm còn dễ.. Nếu ở bậc trung học hay đại học thì may ra vì ở tuổi thời đó cộng với sự trưởng thành, trí nhớ phát triển đầy đủ và tốt hơn so với thời tiểu học. Continue reading

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký | Leave a comment

NHỚ VỀ MỘT TRƯỜNG TIỂU HỌC CŨ ĐÃ MẤT TÊN

NHỚ VỀ MỘT TRƯỜNG TIỂU HỌC CŨ ĐÃ MẤT TÊN:
Trường tiểu học Lê văn Duyệt, Saigon

Cây bàng xưa kia là tốt xanh tươi
Chạnh lòng ai nhớ tiếc khôn nguôi

Mùa tựu trường tháng 9, mấy ai quên được những đoạn văn của Thanh Tịnh: « Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường »

Một buổi sáng tháng 9, đưa đứa con đi nhập học, nhìn mái trường của con tôi, tự dưng, tôi lại nhớ đến mái trường tiểu học xưa của tôi. Một ngôi trường nay đã mất tên : trường tiểu học (nam) Lê văn Duyệt ở quận 1, Sài Gòn cũ.

Năm xưa, ở khu Đa Kao, quận 1, có 2 trường tiểu học công lập nổi tiếng là trường tiểu học (nam) Lê văn Duyệt và trường tiểu học (nữ) Đinh Tiên Hoàng .

Trường tiểu học Lê văn Duyệt toạ lạc trên đường Phan Đình Phùng, giữa 2 đường Đinh Tiên Hoàng và Mạc Đĩnh Chi, gần con hẻm Cây Điệp. Mặt sau trường tiếp giáp đường Tự Đức.

Trường Đinh Tiên Hoàng thì nằm giữa đường Tự Đức và đường nhỏ Nguyễn Thành Ý.

Về lịch sử trường Lê văn Duyệt thì tôi không biết rõ vì lúc đó tôi còn quá nhỏ để biết. Chỉ biết trường đã có từ lâu. Nhìn sơ qua, có thể đoán trường này được xây từ thời Pháp. Sau này, sau 1975, khi trường bị xoá tên thì trên internet, tôi cũng chẳng tìm ra thông tin về trường Lê văn Duyệt cũ.

Bây giờ, tóc đã bạc, lưng đã mỏi nhưng không hiểu sao, đôi khi, tôi vẫn nhớ đến trường tiểu học cũ. Nơi đã cho mình những kiến thức đầu đời. Chẳng bao giờ tôi quên bài học cũ « Nước ta có 2 mùa, mùa mưa và mùa nắng» của thời tiểu học.

Trước năm 1971, 1972 gì đó, hệ thống trường học trong Nam vẫn còn đuợc gọi lớp Năm đến lớp Nhất cho hệ tiểu học. Hệ trung học thì từ lớp đệ Thất đến lớp đệ Nhất. Có 2 kỳ thi tuyển là Tú Tài 1 (lớp đệ Nhị) và Tú Tài 2 (lớp đệ Nhất). Sau năm 1973 thì bắt đầu gọi tên từ lớp 1 đến lớp 12. Kỳ thi Tú Tài 1 cũng huỷ bỏ và chỉ còn giữ lại kỳ thi Tú Tài 2 mà sau này gọi là Tốt nghiệp Phổ thông.

Trường Lê văn Duyệt năm 1964, có thầy hiệu trưởng là Đặng-văn-Nghiệp. Ông Nghiệp dáng nhỏ người và trong ký ức của tôi, ông cực kỳ nghiêm khắc trong công việc. Học trò ai cũng nể sợ.

Trường Lê văn Duyệt xưa đúng nghĩa là một ngôi trường lớn, bề thế. Rộng rãi với 2 sân chơi lớn, 1 hồ tắm (nhưng hết xử dụng khi có một tai nạn xảy ra trong những năm trước 1964) và những cây phượng vỹ, cây bàng. Học trò đều mặc áo trắng, đeo phù hiệu : « Trường tiểu học Lê văn Duyệt -Saigon » và áo bỏ trong quần.

Đã hơn 50 năm trôi qua nhưng chẳng bao giờ tôi quên những buổi chào cờ sáng thứ 2. Lúc đó, tất cả các lớp đểu ra đứng ở sân trường, quanh cột cờ. Hai nam sinh (luân phiên của từng lớp Nhất) được cử ra cột cờ để làm nghi lễ thượng kỳ. Lá cờ được kéo lên từ từ trong tiếng hát Quốc ca vang dội của cả trường: « Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng…. ». Khi vừa hát chấm dứt câu « …xứng danh ngàn năm giòng giống Lạc Hồng » thì ngay sau đó, tiếng vang như còn dội lại trong bầu không khí đã im lặng của toàn trường. Nghe mà nổi cả gai ốc vì mức độ hùng tráng của bài hát và thời điểm đó. Chẳng học sinh Lê văn Duyệt nào, ngày nay, đầu hai thứ tóc, quên được những giây phút trang trọng ấy.

Lúc ấy, chỉ có những trường công mới chào cờ và hát Quôc ca chứ các trường tư thì không bắt buộc hát quốc ca (Như trường trung học Huỳnh Khương Ninh cũng có chào cờ nhưng do không có sân trường, học sinh chỉ đứng lên trong lớp và hát Huỳnh Khương Ninh Hành khúc « Hát vang lên đời học sinh như chim bình minh, đón nắng mới, rộn ràng niêm vui phơi phới… »).

Chương trình học ở bậc tiểu học thì chỉ có một buổi sáng. Từ 7 giờ đến 11 giờ.

Đi học thì khi đến trường, cả một đạo quân bán đồ chơi , thức ăn la liệt trước cổng trường. Người bán thưòng bày hàng dưới đất, trên những tấm bạt hay trên những chiếc xe đẩy. Đồ chơi bán thi đa dạng và theo mùa. Từ những tấm cạc tông in hình lem luốc để học trò cắt ra dích hình hay tạc hình, những hòn bi, dế lửa, dế cơm đến cá vàng, cá lia thia (bán trong những túi nilon bơm oxy) hay những chú dế gáy te te …

Làm sao quên những hồi hộp khi đẩy một đầu hộp quẹt ra và thấy 2 hàng râu dài ngoe nguẩy thò ra của chú dế. Còn nhỏ, mấy ai hiểu đó là thú chơi tàn ác trên những con côn trùng nhỏ ?

Có xe đẩy đóng thùng, chiếu phim với những ống nhìn. Cứ đưa vài cắc ra thì được ghé mắt vào coi những phim của hề Sạc Lô hay những đoạn phim hoạt hình của Disney. Có những hàng cũng tập thói xâu (nhưng nhà trường không dẹp được) là trò Bầu Cua Cá Cọp.

Và chẳng học sinh Lê văn Duyệt nào quên được cái tiếng trống trường ngày xưa, gõ thùng thùng 8 tiếng, báo hiệu giờ vào học, giờ ra chơi, giờ vào học và giờ tan trường. Giờ ra chơi là lúc 9 giờ. Khi đó, cả trường uá ra sân chơi. Và những học trò có chút tiền túi cha mẹ cho thì đi ra trước cổng trường mua đồ ăn vặt. Có những xe đạp đẩy bán kẹo, mía ghim, bánh bông lan, kem cây, trái cây…đầy dẫy. Sau này, để tránh sự mất trật tự và bảo đảm an ninh, trường không cho phép học sinh đi ra ngoài mua đồ ăn vặt nữa.

Ai đi ngang các lớp trong giờ giảng dạy, đều khó quên những tiếng ê a đọc bài chung của cả lớp vang lên. Tình cờ lục lại trong xấp hình ảnh xưa, xúc động biết bao khi mình lại thấy mình, 50 năm xưa, đứng chụp hình với những đứa bạn cùng trang lứa.

Lê văn Duyệt – Niên khoá 1966-1967

Trong hình, lớp đứng, lớp quỳ gối, đứa toe toét cười, đứa bình thản nhìn… Và tất cả đứng bao quanh cô giáo. « Những người muôn năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ ? »

Sau 1975, lịch sử của « Bên thắng cuộc » có cái nhìn quá khắt khe về những danh nhân lịch sử xưa. Nên những tên đường mang tên (Tả quân) Lê văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Tự Đức đều bị đổi tên.

Đường Phan Thanh Giản, chạy từ q10 đến q1, trở thành đường Điện Biên Phủ. Đường Lê văn Duyệt, q3, trở thành Cách Mạng tháng 8 (ngoại trừ Lăng Ông thì không thể đổi tên được vì …ông nằm sờ sờ trong đó). Đường Phan Đình Phùng, kéo dài từ q1 đến q3, trở thành đường Nguyễn Đình Chiểu. Cụ Phan Đình Phùng còn chút an ủi là được đặt lại tên đường bên Phú Nhuận (vừa qua cầu Kiệu), chiếm chỗ cụ Võ Di Nguy !. Và đường Tự Đức mang tên Nguyễn văn Thủ.

Trường tiểu học Lê văn Duyệt, do diên tích quá lớn nên bị cắt ra làm 2. Mặt trước trường,đường Nguyễn Đình Chiểu, q1 thì hoá thành cơ sở Mẫu Giáo. Mặt sau trường, tiếp giáp đường Nguyễn văn Thủ thì trở thành trường trung học cơ sở Trần văn Ơn. Trường tiểu học nữ Đinh Tiên Hoàng vẫn là trường tiểu học nhưng có cả học trò nam lần nữ, mang lại tên Đinh Tiên Hoàng.

Tất cả cơ sở cũ của hai trường, đều được xây lại lớn hơn để đáp ứng số lượng học trò ngày càng tăng lên.

Và những ngày tựu trường trong tháng 9 cũng không còn cái ý nghĩa cũ. Vì tất cả trường tiểu học đều nhập học trong tháng 8 nhưng đến đầu tháng 9 thì lại có cái lễ…tựu trường hình thức và đầy kịch tính. Và có biết bao nhiêu chuyện nhiêu khê thêm vào, từ việc phải mua đồng phục do nhà trường may, tiền sách vở, tiền bảo hiểm, quỹ nhà trường, khăn quàng đỏ… đã làm thay đổi hoàn toàn cái phong cách của những trường tiểu học xưa.

Tình cờ, lật tờ báo Tuổi Ngọc, số 5, thấy bài hát « Trường cũ » của nhạc sĩ Tô Hải tôi lại chạnh lòng, nhớ lại ngôi trường cũ, nay đã mất tên, của tôi thời thơ ấu. Với những cây phượng vỹ, hoa đỏ chói rực cả một mùa hè.

« Cây bàng xưa kia lá tốt xanh tươi, chạnh lòng ai nhớ tiếc khó nguôi ». Hình như đâu đó trong tôi, cây bàng trong sân trường tiểu học Lê văn Duyệt năm xưa, lá vẫn luôn luôn xanh tươi trong tâm tưởng.

Paris, tháng 9 2015

(nguồn: http://cntyk2.free.fr/)

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký | Leave a comment

BA TÔI LÀ “VIỆT CỘNG NẰM VÙNG” (Nguyễn Ngọc Già)

BA TÔI LÀ “VIỆT CỘNG NẰM VÙNG”

Như đã viết rải rác trong nhiều bài trước đây, tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, trong một gia đình trung lưu với việc làm ăn phát đạt, dần dẫn đến giàu có hơn.

Thật ra, sau này tôi mới biết ba tôi là “Việt Cộng nằm vùng”, do đó có thể nói, gia đình tôi là gia đình “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Cách đây vài chục năm, khi nghe câu này, tôi khá giận dữ và cảm thấy bị sỉ nhục. Cảm giác đó dễ hiểu bởi sự thật chưa được phơi bày như sau này. Continue reading

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký | Leave a comment

TỪ SAIGON ĐẾN KABUL (Nguyễn văn Tới)

TỪ SÀIGÒN ĐẾN KABUL
(nguồn: https://vietbao.com/)

(Đây là góc nhìn của một người Việt Nam đã từng sống và làm việc ở Afghanistan trong nhiều năm)

Việt Nam mình có câu “Kiếm củi 3 năm, thiêu chỉ một giờ”. Nước Mỹ mất 20 năm ở Afghanistan, tiêu phí hơn 2 ngàn tỷ đô la (2.26 trillions) trong đó gồm 83 tỷ đô la để huấn luyện, trang bị cho quân đội của họ, và tiền dân Mỹ đóng thuế để xây dựng cở sở hạ tầng, nhà ở, và các công trình công ích cho người dân nước này, nhưng chỉ mất 2 tuần để Kabul sụp đổ. Theo tạp chí Forbes, trung bình, một ngày nước Mỹ phải chi $300 triệu đô la trong vòng 20 năm đóng quân trên đất nước này. (1) Khi quân đội Mỹ rút về nước, quân đội và trước tiên là chính phủ Afghanistan bỏ chạy trốn như đàn vịt hoảng loạn trước bầy chó sói. Continue reading

Posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, Hải-ngoại, Thời-sự | Leave a comment

Giới thiệu: GIA TÀI NGUỜI MẸ – tiểu thuyết của Dương Nghiễm Mậu

(nguồn:https://dangthanhsite.wordpress.com/)

Gia tài người mẹ được Dương Nghiễm Mậu viết xong năm 1961 tức lúc ông 25 tuổi nhưng phải đến tháng chín 1963 cuốn sách mới xin được giấy phép và năm 1964 mới chính thức được tạp chí Văn nghệ xuất bản tại Saigon.

Trong bức thư gửi người bạn tên H, Dương Nghiễm Mậu viết: “Cố gắng của tôi là ghi lại những gì đã thấy, đã cảm, đã nghĩ. Tôi viết ra những điều đó và gửi tới người cùng thời”.

Năm 1963, thời điểm Gia tài người mẹ được cấp giấy phép xuất bản, là một năm kinh hoàng của Việt Nam với đỉnh điểm là cuộc đảo chính lật đổ nền đệ nhất Cộng Hòa tại Saigon, thảm sát anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Rồi đây, nhiều năm sau Dương Nghiễm Mậu sẽ viết bút ký Địa ngục có thật, rất giấy trắng mực đen: Cuộc chiến này là không biên giới, không bờ cõi. Ngay cả đô thị Saigon Mậu Thân 1968 cũng la liệt những xác chết không hề thua kém gì những ngày đầu tháng mười một 1963.

Lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), nhà nước ở miền Bắc, là Lê Duẩn nhận thấy tình hình bất ổn ở miền Nam năm 1963 là cơ hội không thể tốt hơn để thống nhất quốc gia, thu giang sơn về một mối. Kể từ đó, cuộc chiến tranh thống nhất đất nước diễn ra với quy mô ác liệt hơn bao giờ hết.

Câu chuyện về bút ký Địa ngục có thật chúng ta sẽ nói sau, vì trước hết Gia tài người mẹ là một tác phẩm quan trọng.

Không thể đơn thuần coi cuộc tang thương của dân tộc chỉ bao gồm chiến Việt Nam trong 20 năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống nhất đất nước từ 1954-1975. Không thể có chuyện đơn giản như vậy! Cuộc tang thương trên đất nước khốn khổ này đã xảy ra từ trước đó rất lâu, trước cột mốc 1945 kéo dài mãi về sau. Trong Gia tài người mẹ, Dương Nghiễm Mậu sẽ nói rất rõ điều này.

Nhìn rộng ra, những cuộc tao loạn thế kỷ XX và trước đó, ở thế kỷ XVIII, đều là một ký hiệu. Một ký hiệu phát nghĩa mà ta có thể đọc, ở tầng trên cùng, rằng chiến tranh nhằm thống nhất giang sơn là câu chuyện lớn của xứ sở Việt Nam, “một đất nước nhiều tủi nhục” (Dương Nghiễm Mậu). Vậy văn chương Việt Nam xử lý câu chuyện lớn này ra sao?

Thế kỷ XVIII, Nguyễn Du viết về nàng Thúy Kiều, Đoàn Thị Điểm viết về nàng chinh phụ, Nguyễn Gia Thiều viết về nàng cung nữ. Tới lượt Dương Nghiễm Mậu, ở hậu bán thế kỷ XX, ông cũng không đi lệch con đường của ba văn sĩ đời trước viết về người phụ nữ. Tất cả đều là tiếng thở dài ai oán.

Bất cứ ai được sinh ra đều muốn sống hạnh phúc trong cảnh thái bình. Người mẹ không tên của Dương Nghiễm Mậu là con gái rượu của một gia đình nề nếp với những tháng ngày tuổi thơ êm đềm. Nàng Thúy Kiều của Nguyễn Du cũng đâu khác chi. Nhưng cuộc biến loạn vẫn diễn ra, nó diễn ra chẳng thể cưỡng nổi.

Ngay từ trước khi sinh ra, ta đã gánh trên vai những oan nghiệp từ nhiều kiếp trước. Số phận đã định thì sao mà cưỡng nổi!

Nguyễn Du, nhân chứng của nội chiến Việt Nam 1771-1802, cuộc chiến long trời lở đất của Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh khiến cho “thập loại chúng sinh” điêu đứng, lầm than, đã viết không thể rõ ràng hơn:

“Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?”

Tới lượt mình, Dương Nghiễm Mậu, dẫu không viết thơ như Nguyễn Du mà viết văn xuôi, vẫn không khác Nguyễn Du về một số phận đã định sẵn không thể tránh khỏi. “Sổ đoạn trường” đã có tên thì dẫu những kẻ siêu quần cũng chẳng thể chạy thoát thân.

Trời thì cao rộng, làm sao mà thoát. Nhân vật trong Gia tài người mẹ kể chuyện ghê rợn về lửa trời, con người sống dưới màn trời này, chạy đi đâu bây giờ khi tất cả chỗ ẩn náu đều bên dưới bầu trời. Trời cao vời vợi là một vị thần có quyền lực tối thượng áp đặt lên không chỉ loài người trần thế, cây cỏ, thú vật, chim muông, đồ vật mà còn đối với tất cả quỷ, thần khác.

“Biết đường nào mà chạy cho thoát?”. Nhân vật của Dương Nghiễm Mậu hỏi mặc dù đã biết, rất rõ ràng, câu trả lời: Không thể thoát được. Số phận của người mẹ đã được định. Số phận của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX đã được định.

Bất chấp tất cả, người thiếu nữ – tức người mẹ thời trẻ – đã liều mình bỏ nhà theo trai, một thanh niên cao vọng có lý tưởng cách mạng. Chị chẳng muốn gì khác ngoài anh, tình yêu của anh và gia đình yên ấm. Nhưng anh vẫn ra đi khi chị bụng mang dạ chửa đứa con thứ hai. Rồi đứa lớn của bỏ chị mà đi. Người chồng thứ hai bạc nhược bị giết chết bởi thằng lính tây đen – kẻ sau đó đã cưỡng hiếp người đàn bà. Một đứa con lai tây đen là kết quả của sự tang thương, nhục nhã.

Biết làm sao được? Người mẹ ấy tự biết mình “mỏng phận”, “kiếp trước vụng tu”, sinh vào đạo ngạ quỷ và có quá nhiều tội lỗi không bao giờ lường được ở kiếp trước.

Sống phải có chết. Có gì mà lạ! Khi đã về già, trong truyện ngắn Về nhà, Dương Nghiễm Mậu viết rất đúng: Người ta vẫn biết mình chết nhưng không nghĩ đến chuyện sau đó.

“Vụng tu” là khái niệm theo Dương Nghiễm Mậu từ Gia tài người mẹ tới suốt những tác phẩm cuối đời vì văn chương Dương Nghiễm Mậu là nơi cùng tồn tại của sự sống và cái chết, âm và dương, người trần và người chết. Âm dương cách biệt ngàn trùng được nối liền bằng thứ văn chương này.

Số kiếp bắt người đàn bà phải chịu cảnh đầy đọa của đất nước thời loạn – nhưng chưa khủng khiếp bằng đọc Địa ngục có thật khi Dương Nghiễm Mậu viết về những đứa bé sơ sinh, những hài nhi chưa bao giờ được nhìn thấy ánh sáng mặt trời, những kẻ vụng tu chọn nhầm giờ tái sinh đã chết ở sự kiện Mậu Thân 1968.

Người đàn bà đó hiểu hơn ai hết chẳng thể “trách lẫn trời gần trời xa” nhưng bà than thân, oán trách những người chồng. Họ đã ở đâu mà để bà phải chịu đựng thế? Tại sao bà van xin họ hãy ghé lưng vào đây để cùng bà gánh chịu bớt cái nghiệp chướng mà trời đày đọa nhưng không ai trong hai người chịu giúp? Hai vị đã làm gì? Ta không thể không nhớ tới cuốn sách lớn của nửa đầu thập niên 1940s tức những năm tháng thuộc địa cuối cùng, của Hoàng Đạo Thúy tên Trai nước Nam làm gì? Trai nước Nam của người mẹ đây: Một kẻ chết bạc nhược và một kẻ bà bà ra đi.

Từ thuở hồng mang, con đực đã chiếm đoạt con cái. Chẳng có thứ gì được gọi là mẫu hệ hay nữ quyền cả. Trong lời oán trách của bà mẹ chẳng có gì là nữ quyền cả! Muôn đời sẽ chỉ có câu chuyện đó lặp lại. Tôi từng ngồi nghe một vị học giả phun ra một tràng nào là sự quay lại của mẫu hệ hay nhấn mạnh nữ quyền đối với hiện tượng những khu du lịch như Sapa càng ngày càng xuất hiện nhiều trẻ em lai tây. Nguyễn Huy Thiệp gọi đó là sự mất dạy của kẻ có học – một ông mồm nhồm nhoàm nhai đầy lý thuyết chưa được tiêu hóa đúng cách. Không thấy bọn Tây đến đây hiếp con gái Việt rồi phủi đít để lại hậu quả sao? Nguyễn Huy Thiệp viết không thể rõ ràng hơn về chuyện này trong Những bài học nông thôn: “Đàn ông nó chẳng thương mình đâu. Rượu thì nó ngồi mâm trên. Ngủ thì nó đè lên mình”.

Dưới đây là những lời oán trách của người mẹ đối với hai người chồng:

“Tôi oán chăng là oán các anh, oán sự bất lực của các anh. Anh đứng lặng thinh đi, bởi oán các anh cũng có ăn thua gì.

“Các anh bảo các anh phải làm gì lớn lắm, phải làm cho đời các con khỏi khổ. Phải đuổi được giặc… Nhưng rồi đi đến đâu? Một người bỏ xương trong nhà lao. Một nghiện. Đừng nghĩ tôi kể xấu. Đó là lầm lẫn, không làm đúng việc. Các anh bỏ ngay cả phận sự làm bố. Những việc làm sau này của các con tại nơi các anh. Đầu óc chúng lệch lạc và nhiễm độc. Anh chứng kiến sự giằng co trong tấn thảm kịch ngày nay anh đủ rõ.”

Oan nghiệp thì người đàn bà phải gánh chịu một mình. Nhưng bà muốn lấy tình yêu để đối xử với đám con, cả con ruột, con nuôi lẫn đứa con là sản phẩm của cuộc cưỡng hiếp năm nào. Một mình bà chẳng làm ngưng cuộc chiến tranh nhưng muốn lấy tình yêu để ngăn cảnh anh em trong nhà chém giết nhau.

“Những biến đổi đã có đó ai ngờ được, ai tránh được. Cơn lốc của một thời ở ngoài ý muốn của con người. Trong cơn lốc mù tối khói sương và gió cát đủ làm chúng ta quay cuồng biến đổi ô biết cả chính mình. Nhưng mẹ đã sống cùng với thiên bẩm một người đàn bà: chịu đựng nuôi con”.

Cánh cửa địa ngục đã mở ra, Dương Nghiễm Mậu viết ở những trang cuối cùng, sự trừng phạt đối với những tội lỗi từ những kiếp trước đối với người mẹ. Bà cầu xin người hành hình hãy cho bà giữ lại “trái tim đỏ”, còn lại tất cả thân thể xin cho hết.

“Tất cả tôi có thể cho. Hãy khoét lấy mắt, cắt lấy miệng lưỡi, chặt lấy tay chân. Tất cả, không trừ cái gì ngoài trái tim. Chỉ xin cho tôi giữ lại nguyên trái tim đỏ, tôi chỉ biết yêu thương… Xin cho tôi giữ lại chút đó. Ân huệ mà một người, một người riêng tôi xin hưởng…”

Gia tài của mẹ là gì? Là “Đời sống của các con” mà người mẹ gửi cái ước vọng của tình yêu thương.

Một tiểu thuyết (dù Dương Nghiễm Mậu cho rằng Gia tài người mẹ không hẳn là tiểu thuyết) đặc biệt u tối, bất lực nơi tình yêu thương không thể cứu rỗi con người, nơi số phận đã định thì không sao trốn chạy nổi. “Gia đình của chúng ta đã hoàn toàn tan nát hủy hại chưa?”, bà mẹ hỏi như vậy.

Posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, Dương Nghiễm Mậu | Leave a comment

Tập truyện ngắn: MƯA NÚI (Mai Thảo)

(Nguồn: Nguyệt san Tân văn số 32 tháng 12 năm 1970.
Bản điện tử do talawas thực hiện)

Mục lục

  1. Lời vào tập
  2. Đêm giã từ Hà Nội
  3. Nhà mới
  4. Mưa núi
  5. Một chiều qua Cửu Long
  6. Chiếc xe hàng cũ
  7. Tháng Giêng cỏ non
  8. Người bạn đường
  9. Giai đoạn chị Định
  10. Đêm tân hôn

Lời vào tập

Tập truyện ngắn đầu tay của tôi, Đêm giã từ Hà Nội, tiếp theo là cuốn thứ nhì, Tháng Giêng cỏ non, cũng thể đoản thiên, được in ra lần thứ nhất cách đây đã mười lăm năm. Tuy mỗi cuốn sách, như một đời người, đều có một hình dáng, một định mệnh riêng tây, nhưng hai tập truyện này, trong ý nghĩa một liên tục hoà nhập, cũng có thể được coi như một. Continue reading

Posted in 4.Truyện ngắn, Mai Thảo | Leave a comment

BẮC KỲ DI CƯ 1954 (Lạp Chúc Nguyễn Huy)

(nguồn: http://viethocjournal.com)
BẮC KỲ DI CƯ 1954

Sau hiệp định Genève 1954, sự chia đôi nước Việt thành hai quốc gia đã tạo nên luồng sóng chạy trốn cộng sản vào miền Nam đi tìm tự do. Cuộcdi cư lịch sử này có thời hạn là 300 ngày. Sự giám sát thực thi hiệp định được trao cho Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến được thành lập theo điều 34 của hiệp định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada. Continue reading

Posted in 2.Một thời để nhớ, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, Nền Đệ I Cộng Hoà | Leave a comment

TÌM HIỂU HAI CHỮ “CÙ-LÀ” (Trang Nguyên)

TÌM HIỂU HAI CHỮ “CÙ-LÀ”

Bên cạnh các loại dầu gió chủ trị cảm mạo, dầu cù là cũng được dân chúng khắp nơi sử dụng một cách phổ biến, nhất là dùng để bôi ngoài da cho ấm cổ ấm bụng hoặc bỏ một chút vào nồi nước xông mỗi khi trái gió trở trời. Thuở trước, dầu cù là Mac Pshu và dầu cù là hiệu Ông Tiên (của nhà thuốc Ông Tiên), dầu cù là hiệu Con Cọp luôn được người dân giữ một vài lọ trong nhà. Đây là ba loại dầu cao làm ra từ các loại thảo dược như bạc hà, quế, khuynh diệp, tràm, long não…

Quảng cáo dầu cù là Mac Phsu đều khắp chợ Sài Gòn
(Nguồn: Manhhaiflickrs)

Dầu cù là hiệu Con Cọp ít được nghe nhắc đến trên thương trường bởi sự áp đảo quảng cáo của dầu cù là Mac Phsu và dầu cù là hiệu Ông Tiên. Tuy vậy, nó được sử dụng phổ biến nhiều nhất ở vùng Chợ Lớn bởi chủ nhân sản xuất là ông Ông Tích – một đại thương gia người Hoa đến định cư ở đất Sài Gòn (sau gọi là Chợ Lớn) từ cuối thế kỷ 19. Ông Tích còn có cả một cơ nghiệp làm ăn theo kiểu gia tộc cùng với các con của mình là Ông Nghiệp Hùng, Ông Nghiệp Sơ, Ông Nghiệp Kỳ quản lý cả một ngân hàng, xây cất nhà cho thuê, nhà máy dệt, công ty vận tải đường bộ và đường thuỷ, xuất nhập cảng hàng hoá, xưởng đóng tàu, công ty bốc dỡ hàng hoá ở thương cảng Sài Gòn. Continue reading

Posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo | Leave a comment

BẮC KỲ DI CƯ DƯỚI CON MẮT CÔ GÁI TRUNG KỲ (Huyền Chiêu)

BẮC KỲ DI CƯ
DƯỚI CON MẮT CÔ GÁI TRUNG KỲ

Tôi sinh ra ở miền trung, nơi có rặng Trường Sơn chồm ra sát biển. Dòng sông nghèo phù sa cũng cố nuôi dưỡng những cánh đồng nho nhỏ. Cuộc sống ở quê tôi thật lặng lẽ…Mỗi buổi chiều nhìn đàn cò trắng bay về núi, nhìn những đám mây trắng đùn lên phía chân trời tôi vẫn mơ ước được biết bên kia núi có gì vui hơn. Continue reading

Posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký | Leave a comment

CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp & Biên Hòa :

(TM tổng hợp và bổ túc)

III- NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI
GÒ VẤP VÀ BIÊN HOÀ
Continue reading

Posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975 | Leave a comment

CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Gia Định

(TM tổng hợp và bổ túc)

II- NGHĨA ĐỊA GIA ĐỊNH Continue reading

Posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975 | Leave a comment

Tập truyện: CHUYỆN HAI NGƯỜI (Hoàng Ngọc Tuấn)

Qua nhiều thế hệ, Tristan và Yseull, Roméo và Juliette... đã trở thành những đôi nhân tình bất tử, và gần đây Love Story của Erich Segal cũng đã lôi cuốn hàng triệu người trẻ.

Nhưng ở đây, CHUYỆN HAI NGƯỜI của Hoàng Ngọc Tuấn thực sự là những chuyện tình của người Việt. Thơ mộng, lãng mạn, đắm đuối, tuy vội vàng mỏng manh dưới bóng mây đen của cuộc chiến. Đây là chuyện tình của tuổi trẻ hiện đại, nếm đủ vị ngọt của hương hoa chan hòa cùng trái đắng.

Theo một nghĩa nào đó, CHUYỆN HAI NGƯỜI là tiếng nói của Tình Yêu trong văn chương, và cũng là tiếng gọi Thanh Bình cất lên từ một thời đại hoang tàn vì súng đạn.

(Cathy – Độc giả BVCV – đánh máy từ bản PDF của tusachtiengviet.com)

MỤC LỤC

Chuyện hai người

Tiểu muội

Ông già Noël

Lên xứ lạnh, nhớ mặc thêm áo ấm

Sông Kỹ nữ

Trăng

Đừng đến sân ga

—>Chuyện hai người

Posted in 4.Truyện ngắn | Leave a comment

CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Saigon 11…16

(TM tổng hợp và bổ túc)

I- NGHĨA ĐỊA SÀIGÒN
(11…16) Continue reading

Posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975 | Leave a comment

CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Saigon 5…10

(TM tổng hợp và bổ túc)

I- NGHĨA ĐỊA SÀIGÒN
(5…10)

Continue reading

Posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975 | Leave a comment

CÁC NGHĨA ĐỊA Ở SÀIGÒN – GIA ĐỊNH trước năm 1975: Nghĩa Địa Saigon 1…4

(TM tổng hợp và bổ túc)

I- NGHĨA ĐỊA SÀIGÒN
(1…4)

Continue reading

Posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM, TM: Các Nghĩa địa ở Sàigòn - Gia Định trước năm 1975 | Leave a comment