CHIẾN-THẮNG AN-LỘC 1972 : Phần I (Chương 6-11)

CHƯƠNG 10

(Những đơn vị chuyên môn thuộc các quân binh chủng Việt/ Mỹ
đã có công trong trận chiến An Lộc )

1- CỐ VẤN MỸ BÊN CẠNH CÁC ĐƠN VỊ VIỆT NAM CỘNG HOÀ:

A.- Chiếu theo dư luận của giới Quân Sự Hoa Kỳ cho rằng nếu không nhờ có Không Quân Hoa Kỳ yểm trợ, thì An Lộc đã bị quân Cộng Sản Bắc Việt tràn ngập và đè bẹp ngay từ khi khởi đầu trận chiến !!!!.

Việc nầy đúng hoàn toàn hay chỉ đúng một phần nào!! Xin quý độc giả đọc tiếp những sự thật về các Cố Vấn Mỹ và về không yểm của các pháo đài bay B.52 các oanh tạc cơ phản lực, trực thăng tiếp tế và tản thương của không lực Hoa Kỳ như sau:

a/ Các Cố Vấn Mỹ cũng có người tận tâm trong chức vụ Cố Vấn của mình, ngay cả hy sinh tính mạng; điển hình như sự can đảm của Đại Úy Mark Smith, một trong những Sĩ Quan trong Toán Cố Vấn của Chiến Đoàn 9 (-). Trước khi gọi phản lực cơ Hoa Kỳ thả Bom Napalm vào căn cứ Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 9 (-) , Ông còn quay trở lại hầm của Toán Cố Vấn Mỹ “kéo” xác Trung Tá Richard Schott (Cố Vấn Trưởng Chiến Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà), quyết định tự sát vì vết thương quá nặng, để các Cố Vấn còn lại khỏi vướng bận vì mình dễ bề thoát thân khi Lộc Ninh thất thủ. Đại Úy Smith đã bắn hạ thêm 3 cán binh Cộng Sản đang quay quần bên xác chết, định thẻo tai hay chặt đầu Trung Tá Schott?? Sau đó Đại Úy Smith kéo được xác Trung Tá Schott ra bên ngoài hầm của căn cứ. Nhờ vậy mà toán tìm những quân nhân Mỹ mất tích mới tìm được hài cốt của Trung Tá Schott vào năm 2002 tại địa điểm kể trên.

Kế tiếp tại mặt trận Cầu Cần Lê, toàn thể các Cố Vấn Mỹ của Chiến Đoàn 52 thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh rất là tận tâm trong chức vụ cố vấn của mình. Trước tiên, gương hy sinh cao cả của Đại úy Robert L. Hors (phi công phụ) của chiếc trực thăng tản thương Đại Úy Zumwalt (Cố Vấn Phó Chiến Đoàn 52 (-) cùng một số số thương binh Việt Nam Cộng Hoà; người rất đáng được ca tụng là Trung Tá Walter D. Ginger (Cố Vấn Trưởng), mặc dầu đã bị thương, nhưng Ông đã từ chối không cho gọi trực thăng đến tản thương, mà quyết định ở lại trận địa để giúp cho vị Chiến Đoàn Trưởng là Trung Tá Thịnh gọi trực thăng võ trang và các phi tuần phản lực oanh kích địch một cách chính xác và có hiệu quả. Nhờ vậy mà Chiến Đoàn 52 (-), mới vượt thoát được vòng vây của 2 Trung Đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt.

Kế tiếp, toán Cố Vấn của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, Đại Úy Huggings và Thượng Sĩ Yearta, giúp gọi trực thăng tản thương rất nhanh chóng để tản thương một số thương binh của Biệt Cách Dù và Biệt Động Quân tại vùng Đồi Gió, và liên lạc với phi cơ C.130 thanh toán mục tiêu Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, giúp cho Liên Đoàn 81 Biệt cách Dù “ủi” xong Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, phía Bắc Tỉnh Lỵ An Lộc, và sau cùng chỉ điểm cho trực thăng võ trang Cobra xạ kích, sát hại hàng trăm quân Cộng Sản Bắc Việt xung quanh Đồi Đồng Long, trong trận Biệt Cách Dù “đột kích” tái chiếm Đồi Đồng Long vào đêm 08 rạng ngày 09 tháng 06 năm 1972.

Tiếp đến các Cố vấn của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, đã liên lạc với C.130 của Không Lực Hoa Kỳ, đuổi bắn hạ hàng chục chiến xa của địch tại vùng phía Nam An Lộc vào đêm 10 tháng 05 năm 1972.

anloc_chuong10-1Ngoài ra còn có Cố Vấn của Chiến Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh… Viên Cố Vấn Mỹ luôn đứng sát bên cạnh Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn trước lằn đạn giao chiến giữa đôi bên, và đạn pháo của địch… Sau trận giao tranh tại vùng phía Nam An Lộc, người viết bài nầy có gặp Trung Tá Cẩn (vốn là bạn thâm giao, Thiếu Sinh Quân, từ thủa nhỏ, và lớn lên phục vụ cùng chung khu 42 Chiến Thuật tại Sư Đoàn 21 Bộ Binh). Trung Tá Cẩn nói “Toa nghĩ coi ! Moa bảo nó nằm xuống để tránh đạn bắn thẳng của Việt Cộng!! Nói bao nhiêu lần nó cũng không nghe, vì Moa lo là nó mà bị “Chết” thì không ai gíúp Chiến Đoàn gọi phi cơ Mỹ yểm trợ…, Moa coi mạng sống của nó còn quý hơn mạng sống của Moa.. có lần nó cũng đứng “dong dỏng” như moa, để chỉ điểm phi tuần phản lực cơ Mỹ oanh tạc, bỗng dưng có tiếng xé gió của một quả đạn pháo của địch bay đến… Moa vội nhảy lên mình đè nó nằm xuống, Moa nghĩ rằng nếu miểng đạn pháo có trúng thì trúng Moa chết trước, để nó còn sống tiếp tục gọi phi cơ yểm trợ cho Chiến Đoàn còn lại… nhưng rất may, quả pháo nổ cạnh kề, bụi cát bay mù mịt, kiểm điểm lại không thấy thương tich gì trên mình Moa cũng như “Anh ta” !!!

Thật là một tấm gương can đảm của vị Trung Tá Cố Vấn Chiến Đoàn 15 và tấm gương Hy Sinh của vị Chiến Đoàn Trưởng Hổ Ngọc Cẩn..

Còn lại các Cố vấn của các Trung Đoàn 31, 32, 33 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa cũng cùng sát cánh bên cạnh các Vị Trung Đoàn Trưởng Việt Nam, đồng cam lao cộng khổ cũng đầy nguy hiểm trước lằn tên mũi đạn trên đoạn đường Quốc Lộ 13, tiến lên giải toả An Lộc (từ ngày 12 tháng 04 năm 1972 đến ngày 08 tháng 06 năm 1972).

Sau cùng là Vị Tướng Mỹ, Chuẩn Tướng Richard J. Tallman, Tư Lệnh Phó Lực Lượng 2 Dã Chiến Hoa Kỳ, cùng một số Sĩ Quan cao cấp trong Bộ Tham Mưu, bị trúng một quả pháo của Cộng quân tử trận, khi trực thăng của Ông vừa đáp xuống định viếng thăm An Lộc cũng cùng vị trí bãi đáp, trước đó ba ngày, của phái đoàn Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Tướng Tallman là vị Tướng Lãnh Mỹ sau cùng “tử trận” trên chiến trường Miền Nam Việt Nam, vào ngày 10 tháng 07 năm 1972.

b/ Bên cạnh những gương can đảm kể cả hy sinh mạng sống của các Vị Anh Hùng Cố Vấn Mỹ, cho ý nghĩa cao cả TỰ DO, đã tận tụy và làm tròn chức năng Cố Vấn của mình, đối với người bạn đồng minh Việt Nam Cộng Hoà thì có những sự việc không mấy được tốt đẹp đã xảy ra.. Xin được liệt kê như sau:

* Trước tiên, toán Cố vấn Mỹ thuộc Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà. Viên Cố Vấn Trưởng, Trung Tá Abramawith và toàn ban cố vấn, đã từ chối không theo đơn vị (Trung Đoàn 8 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh), đổ quân vào tăng viện cho mặt trận An Lộc vào các ngày 11 và 12 tháng 04 năm 1972.

* Kế tiếp là Đại Tá Miller, Cố Vấn Trưởng Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, đòi rút hết toán cố vấn về Lai Khê, viện lẽ hầm nổi dã chiến của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh (do Công Binh Việt Nam Cộng Hoà xây cất từ thời cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí) không đủ an toàn…Nếu Tướng Hưng không tìm ra được một căn hầm khác (hầm chìm Trại Đỗ Cao Trí), thì Sư Đoàn 5 Bộ Binh, cũng giống như tình trạng của Trung Đoàn 8 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà vậy. (Mặc dầu đó là vận may do TRỜI định cho toàn thể Bộ Chỉ Huy đầu não của mặt trận An lộc và toàn toán Cố vấn Mỹ). Sau cùng Đại Tá Miller và toán Cố Vấn Mỹ rất tận tình sát cánh bên Tướng Hưng để đem đến chiến thắng sau cùng cho Quân Dân An Lộc.

B – Về không yểm, thật là hùng hậu và dồi dào, những phi tuần của những phản lực cơ, những phi vụ của Không Quân Chiến Lược B.52, những chiếc vận tải cơ chiến đấu có trang bị võ khí tối tân C.130, những trực thăng võ trang Cobra có một hoả lực tác xạ hùng hậu, đã yểm trợ rất đắc lực trong suốt trận chiến.

Bên cạnh những nỗ lực hùng hậu hoả lực về không yểm kể trên, còn có vài điểm khác biệt, cần phải nêu lên để làm sáng tỏ dư luận như:

– Về Không Quân chiến lược B.52: Đã ba lần từ chối, không chấp thuận chiếu theo sự yêu cầu của Bộ Tư Lệnh Hành Quân, Quân Đoàn 3/ Quân Khu III.

Lần thứ Nhất, ngày 18 tháng 04 năm 1972, tại vùng Phi Trường Quản Lợi, tính chất mục tiêu, Bộ Tư Lệnh tiền phương của Quân Đoàn Cộng Sản Bắc Việt và những nhân vật đầu não của Cục R (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) và hai Trung Đoàn Bộ Binh, quân chính quy Cộng Sản Bắc Việt.

Lần thứ Nhì vào ngày 20 tháng 05 năm 1972, và lần thứ Ba vào ngày 22 tháng 05, tính chất mục tiêu: Bộ Chỉ Huy Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt, (hầm chốt Xa Cam, đào dưới đường rầy xe lửa) cấp hai Trung Đoàn, 4 cây số Nam An Lộc.

Về trực thăng tiếp tế tản thương. Tất cả các trực thăng tiếp tế cũng như tản thương của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà đều không thể đáp xuống trận địa An Lộc, trong thời gian cuộc chiến đang sôi động. Dư luận của các Cố Vấn Mỹ cho rằng phi công Việt Nam nhát gan, sợ phòng không địch, nên không muốn đáp xuống An Lộc để tản thương…

Trong khi đó, các phi cơ trực thăng của Mỹ vẫn thường xuyên đáp lên xuống An Lộc để đem đồ tiếp tế hay bốc Cố Vấn Mỹ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Tiểu khu Bình Long, không chiếc nào bị phòng không Cộng Sản ngăn cản cả!!

Theo lời tường thuật của Thiếu Tá Nguyễn Văn Ức, vị Sĩ Quan đại diện Sư Đoàn 3 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, đặc trách các trực thăng đổ quân và tản thương, đích thân quan sát, tiếp chuyện và chứng kiến tận mắt, cho biết: Sở dĩ trực thăng Mỹ được ra vào An Lộc một cách an toàn, vì phía dưới lườn và các chiếc mũ của phi hành đoàn, đều được sơn màu trắng, thay vì màu xám tro (olive) như các đơn vị trực thăng tác chiến thông thường của Việt Nam Cộng Hoà hay của Không Lực Hoa Kỳ.

Như vậy câu hỏi được đặt ra, phía Đồng minh Hoa Kỳ có được sự “thoả thuận” nào với phía Địch (Cộng Sản) hay không ?

Sự việc gì cũng đếu có hai mặt TRÁI và PHẢI. Người thì nói, nhờ Cố Vấn và Không Lực Hoa Kỳ, An Lộc mới còn đứng vững sau 93 ngày quyết chiến, kẻ thì cho là người bạn đồng minh (Mỹ) bề ngoài thì giúp, nhưng bề trong thì có thoả hiệp “ngầm” với địch (Cộng Sản Bắc Việt).

Nếu nghĩ rằng chỉ nhờ sự yểm trợ của Không Lực Hoa Kỳ và Cố Vấn Mỹ mà An Lộc đứng vững, thì không đúng hẳn, bởi vì nếu Quân Dân Việt Nam Cộng Hoà không có được tinh thần quả cảm, không ngại gian lao khổ cực, quyết “Tử Thủ”, quyết sống chết cho Quê Hương Dân Tộc, chống lại ngoại xâm từ phương Bắc, mà bỏ chạy, buông súng đầu hàng.. thì làm sao An lộc còn đứng vững được cho đến ngày “Ca khúc khải hoàn”?? Xin để quý độc giả và hậu thế phán xét.

2- CÁC ĐƠN VỊ THUỘC KHÔNG LỰC HOA KỲ:

anloc_chuong10-2* Các pháo đài bay B.52 xuất phát từ Đảo Guam.

* Các phản lực cơ Phantom, F.14 cất cánh từ hai Hàng Không Mẫu Hạm USS Constellation và USS Saratoga, đậu ngoài khơi Biển Nam Hải.

* Không Đoàn1 Xung Kích vũ trang AC.130, và Không Đoàn vận tải cơ AC.130.

* Phi Đoàn 229 Trực Thăng Xung Kích Cobra.

* Phi Đoàn 362 Trực Thăng Chinook.

* Không Đoàn 7 Kỵ Binh Không Vận.

* Không Đoàn 1 Kỵ Binh Không Vận.

Và còn vài đơn vị Không Quân khác, mà chúng tôi chưa có dịp tham khảo.

3- KHÔNG QUÂN VIỆT & MỸ PHỐI HỢP, TIẾP TẾ “THẢ DÙ” CHO CHIẾN TRƯỜNG AN LỘC:

anloc_chuong10-3Từ nghìn xưa cho đến ngày nay, vấn đề Tiếp Vận cho một đoàn quân tấn công, hay tiếp tế cho một cứ điểm trong tư thế phòng thủ, luôn luôn đóng một vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của Chiến Trường.

Về mặt trân An Lộc, việc tiếp tế bằng đường bộ hoàn toàn bị bế tắc ngay từ lúc đầu khi khởi phát trận chiến. Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt đã khống chế Quốc Lộ 13 từ An Lộc đến Quận Chơn Thành, bằng một lực lượng cấp 2 Trung Đoàn, đóng chốt được bảo vệ bởi pháo binh tầm xa có tọa độ sẵn, và một hệ thống phòng không dày đặc, (các loại cao xạ 12 ly 7, 37 ly, hoả tiễn cầm tay SA-7) kể cả các chiến xa phòng không cơ động.

Vì không thể tiếp tế được bằng đường bộ, nên phía Việt Nam Cộng Hoà phải nghĩ đến phương cách tiếp tế bằng trực thăng Chinook, rồi đến việc tiếp tế bằng cách thả dù, do các vận tải cơ C.119 và C.123 của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà, lần hồi đến các vận tải cơ hiện đại C.130 của Không Lực Hoa Kỳ.

Biết bao máu xương và mạng sống của các Anh Hùng Không Quân Việt Mỹ đã đổ ra trong lúc thi hành các phi vụ “tiếp tế thả dù” cho Quân Dân An Lộc trong suốt thời gian chiến trận đựợc kể từ sau ngày 08 tháng 04 năm 1972 đến ngày 08 tháng 06 năm 1972.

Chiếu theo Bản ước tính của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, tại An Lộc, có khoảng 15,000 Quân Lính và thường dân Việt Nam Cộng Hoà, còn kẹt lại trong vòng lửa đạn giao tranh.

Nhu cầu tiếp tế cho 15,000 Quân Dân Việt Nam Cộng Hoà, theo các chuyên viên tiếp vận Việt & Mỹ, thì mỗi ngày cần phải có khoảng 200 TẤN tiếp liệu, gồm đạn được, thuốc men, lương khô, nước uống, xăng dầu, cùng nhiều thứ linh tinh khác. Danh sách được liệt kê như sau:

* 140 tấn đạn dược đủ loại, nặng nhất là đạn pháo binh

* 36 tấn lương khô và gạọ

* 20 tấn nước lọc để uống

* 4 tấn y dược và một số linh tinh khác.

Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, được sự tận tình phối hợp của Khộng Quân Hoa Kỳ, đã cố gắng thực hiện công tác tiếp tế đầy khó khăn và gian truân nầy, xuyên qua nhiều thời kỳ và những giai đoạn “nóng bỏng” của chiến trận.

A- Thời kỳ sơ khởi: Khi Cộng quân chưa biết phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tiếp tế bằng cách nào…Trong khi hệ thống phòng không của địch cũng chưa hoàn tất.

* Phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, sử dụng Phi Đoàn 237 Chinook, phối hợp với Phi Đoàn 362 Chinook của Hoa kỳ, đã thực hiện đổ được 42 chuyến hàng tiếp liệu (mỗi chuyến tiếp tế được 3 tấn đồ tiếp liệu cho mỗi ngày).

Việc tiếp tế bằng Chinook trong vài ngày đầu được thuận lợi và trôi chảy. Tổng cộng tiếp tế cho Quân Dân trú phòng, tất cả được 137 tấn hàng, mặc dù chưa đạt được chỉ tiêu như mong muốn, nhưng cũng đủ dùng.

Không trình của các phi cơ Việt Mỹ lấy từ Nam lên Bắc, và hạ cánh tại ngay các bãi trống trong thị trấn hay trong vòng 2 cây số phía Nam An Lộc (dọc theo Quốc Lộ 13).

Cho đến ngày 12 tháng 04 năm 1972, khi đoàn Chinook thuộc Phi Đoàn 237 Việt Nam Cộng Hoà vừa đáp xuống bãi đáp, pháo của Cộng Quân liền khai hoả, chiếc phi cơ đầu tiên do Phi Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Hữu điều khiển bị trúng một quả 130 ly, phi cơ bị hoàn toàn hư hại cùng toàn thể phi hành đoàn đều “Tử Thương”, vài chiếc khác bị trúng miểng pháo. Việc tiếp tế được tiếp tục duy trì cho đến ngày hôm sau. Cường độ pháo kích càng lúc càng được gia tăng vào đoàn trực thăng Chinook. Mỗi khi nghe tiếng trực thăng, Đề Lô của Cộng Sản chỉ điểm gọi pháo. Cộng quân còn thiết trí các giàn cao xạ 12 ly 7, khoảng 4 cây số Nam An Lộc để chận bắn đoàn Chinook tiếp tế, kết quả nhiều chiếc bị trúng đạn ..

Như vậy là Cộng quân biết được “hướng bay” của đoàn Chinook mang đồ tiếp tế đến cho Quân Dân An Lộc, nên huy động cả pháo tập lẫn phòng không, để ngăn chận không trình tiếp tế cho Quân Dân An Lộc. Thêm nhiều chiếc Chinook của Không Quân Việt Mỹ bị trúng đạn phòng không và miểng pháo. Vì lẽ đó, việc dùng các trực thăng Chinook để tiếp tế cho An Lộc không thể tiếp tục được nữa, và được đình chỉ.

B- Thời kỳ Cộng quân thiết lập xong hàng rào hoả lực phòng không, kể cả tăng cường Trung Đoàn cơ giới phòng không di động số 271 có thiết trí các khẩu đại liên phòng không 12 ly 7 và 37 ly.

Không Lực Việt Nam Cộng Hoà quyết định thay thế các Chinook tiếp tế bằng phương cách “thả dù”, do các vận tải cơ C.119 và C.123 thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, xuất phát từ phi trường Tân Sơn Nhất (Sư Đoàn 5 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà). Bay vào lúc ban ngày, ở cao độ 5,000 bộ.

Liên. tiếp 3 ngày, kể từ ngày 14 tháng 04 năm 1972, có tất cả 27 vận tải cơ của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà thả dù được 135 tấn tiếp liệu, nhưng quân phòng thủ chỉ nhận được có 37 tấn mà thôi, cộng với 6 bành dù khi vừa chạm đất thì phát nổ!!, số còn lại đã bay lạc ra ngoài vùng địch kiểm soát.

Qua đến ngày 17 tháng 04 năm 1972, trong đoàn sáu chiếc C.119 và C.123 thả dù, tất cả sáu chiếc đều bị trúng đạn phòng không của địch, chiếc C.123 dẫn đầu bị nổ tung trên bầu trời An Lộc, cả phi hành đoàn đều bị tử vong, trong đó có con chim đầu đàn của Phi Đoàn là Trung Tá Nguyễn Thế Thân.

Công tác thả dù bằng các vận tải cơ C.119 và C.123 buộc phải tạm đình chỉ. Bộ Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, phải nghiên cứu lại độ cao cho các chuyến bay thả dù sao cho tương đối được an toàn cho phi hành đoàn và cho phi cơ, bằng cách bay ở cao độ 7,000 bộ.

Ở độ cao 5,000 bộ, dù còn bay lạc ra ngoài hơn phân nửa, còn bay ở độ cao 7,000 bộ thì những bành dù bay lạc ra vùng địch còn gia tăng hơn nhiều, có thể nói là mất khoảng 80%.

Đứng trước tình hình gần kề bế tắc, ngày 18 tháng 04 năm 1972, Bộ Tư Lệnh MACV của Hoa Kỳ quyết định cho Không Đoàn vận tải cơ C.130, có hệ thống thả dú rất tối tân, từ cao độ (vị trí phi cơ) đến việc ước tính chiếu gió đến điạ điểm (toạ độ) dưới mặt đất, đều được ước tính bằng hệ thống điện tử (Computerized Aerial Drop System), thay thế cho Không Lực Việt Nam Cộng Hoà, gánh vác trách nhiệm thả dù tiếp tế cho chiến trường An Lộc, bằng các vận tải cơ khổng lồ C.130.

Các Cố Vấn Mỹ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Tiểu Khu Bình Long, đảm trách việc liên lạc với phi cơ, chọn địa điểm thả dù, kiểm điểm số lượng hàng nhận được.

Địa điểm thả dù, được các cấp chỉ huy Việt Mỹ thoả thuận chọn “Sân vận động Tỉnh” để trắc nghiệm cho chuyến thả dù đầu tiên của C.130. Sân vận động chỉ rộng có 219 thước vuông. Bước đầu C.130 thả dù vào lúc “ban đêm”, phía dưới “sân vận động” được đốt lửa trong những thùng phuy. Sở dĩ chọn thả dù vào lúc ban đêm là để phòng không của địch không nhìn thấy phi cơ ở đâu mà khai hỏa.

Hai chiếc C.130, bay từ phía Đông Nam (tránh Quôc Lộ 13), ở cao độ 2,000 bộ. Trước khi gần đến mục tiêu, chiếc đi đầu bị trúng đạn phòng không của địch được đặt trên các thiết giáp di động, bị chao đảo, buộc phải bay là xuống thấp còn khoảng 600 bộ, và vội bấm nút thả hàng, trước đầu phi cơ bị phát hoả, và một bộ phận cánh bên phải bị hư hại, sau khi thả hàng, phi cơ được điều khiển bay ra khỏi vùng nguy hiểm. Còn chiếc thứ hai vội thay đổi hướng bay cố gắng bay đến gần cận mục tiêu và bấm nút thả (release) các kiện hàng, chiếc phi cơ nầy cũng bị phòng không của địch bắn phát hoả một động cơ bên trái, đạn phòng không còn xuyên thủng phi cơ sát hại một sĩ quan cơ khí và một phi công phụ. Còn lại viên phi công chính điều khiển ra khỏi vùng nguy hiểm. Chiếc thứ nhì này chỉ còn có hai động cơ còn hoạt động. Sau đó cả hai C.130 trắc nhiệm nầy được đáp an toàn xuống phi trường Tân Sơn Nhất trong đêm. Trên hai chiếc C.130 có mang theo 26 tấn hàng tiếp liệu. Các Cố Vấn Mỹ bên dưới báo cáo là khộng nhận được một bành dù nào hết!!! không hiểu các bành dù biến đi đâu!!! có điều biết chắc là không lọt vào tay địch.

Đêm kế tiếp, rút kinh nghiệm của chuyến bay trước, hai C.130 khác tiếp tục thả dù tiếp tế cho Quân Dân An Lộc tại cùng một địa điểm (sân vận động Tỉnh). Lần nầy được thành công mỹ mãn, đã thả được 26 tấn hàng, lọt ngay vào “sân banh”, các giới chức Mỹ và giới tiếp liệu của các đơn vị tử thủ cùng phân phối chia nhau đồng đều cho các đơn vị.

Bước qua ngày 19 tháng 04, hai chiếc C.130 khác lại tiếp tục thả dù tiếp tế, lần này, một C.130 sau khi thả hết các bành dù, bị trúng đạn phòng không của địch, khiến một động cơ phát hoả, và được phi công điều khiển hạ cánh trên vùng 2 cây số cạnh căn cứ Lai Khê, phi cơ bị hư hại khá nặng, nhưng tất cả phi hành đoàn đều được vô sự, được trực thăng bốc vế Lai Khê an toàn.

Công cuộc thả dù ban đêm được thực hiện mỗi lần bằng hai chiếc C.130, được nối tiếp thành công liên tục, cho mãi đến đêm 24 tháng 04 năm 1972, một toán sáu chiếc, và qua đêm 25 tháng 04, thêm một đoàn 11 chiếc C.130, đồng loạt ồ ạt thả dù đổ hàng tiếp tế….Hai lần tập trung này, các phi cơ được lệnh tắt hết đèn hiệu, lấy không trình từ Nam Lên Bắc (khoảng giữa Quốc Lộ 13 và Đồi Gió) để tiến cận đến An Lộc.

Trong chuyến thả dù tiếp tế vào đêm 25 tháng 04, một trong 4 chiếc phi cơ dẫn đầu bị trúng đạn phòng không của địch, mất thăng bằng, rơi cạnh vùng 2 cây số Nam An Lộc, phát nổ, cả phi hành đoàn 8 người đều tử nạn.

Từ sau chuyến thả dù đêm, chiếc C.130 bi trúng đạn phòng không của địch bắn hạ và phát nổ, sát hại tất cả phi hành đoàn, Bộ Tư Lệnh MACV, cho lệnh tạm ngưng những phi vụ thả dù đêm kế tiếp (còn khoảng thêm 10 chuyến thả dù được đình chỉ).

Cho đến ngày 27 tháng 04 năm 1972, Không Lực Hoa Kỳ còn cố gắng thả thêm hai lần nữa, lần nầy, khi nghe tiếng phi cơ trên bầu trời, lập tức một rừng lưới lửa đạn phòng không giăng khắp các hướng vào An Lộc, hằng chục phi cơ bị trúng đạn, vội cất cánh lên cao, thoát ra khỏi vòng lửa đạn…đợt tiếp tế không thành công.

Việc thả dù tiếp tế ban đêm, đến đây được đỉnh chỉ hẳn. Bộ Tư Lệnh MACV thay đổi kế hoạch thả dù vào lúc ban ngày. Các phi cơ C.130 được lệnh bay trên cao độ ngoài tầm sát hại của tất cả các loại súng phòng không của quân Cộng Sản hiện có. Các bành dù được gắn một bộ phận tự động, dù sẽ được bung ra khi gần tới đất (rơi đúng mục tiêu và đồ bên trong các bành dù cũng không bị hư hại).

Những kiện hàng trong các đợt thả dù bằng C.130, đa phần là đạn cá nhân, lương khô và thuốc men, đạn pháo binh thì không cần nữa (vì các khẩu pháo của Quân Lưc Việt Nam Cộng Hoà đều bị pháo binh địch bắn hư hại), còn nước uống, Quân Dân An Lộc dùng nước dưới các ao đầm hay hứng nước từ TRỜI ban cho.

Bắt đầu ngày 03 tháng 05 năm 1972, phương cách thả dù ban ngày này được áp dụng, có tên là HALO ( High Altitude, Low Opening). Hai chiếc C.130 bay ở cao độ 9,000 bộ. Kết quả tương đối khả quan, các dù được thu nhận được 80% và không có bành dù nào bị hư hạị.

Những chuyến bay thả dù kế tiếp với nhiều phi cơ C.130 càng lúc càng có hiệu quả cao, được tiếp tục duy trì, cho đến ngày 08 tháng 06 năm 1972, ngày mà đoàn quân giải toả từ phía Nam Quốc Lộ 13 bắt tay được với quân tử thủ An Lộc. Tản thương và tiếp tế được tái lập bình thường trên chiến trường An Lộc. Các phi vụ tiếp tế của Không Lực Hoa Kỳ được chấm dứt (1)

anloc_chuong10-4

anloc_chuong10-5

4- VẤN ĐỀ Y TẾ:


anloc_chuong10-6
A . Quân Y :
Theo tổ chức của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, mỗi đơn vị cấp Trung Đoàn, Lữ Đoàn, Liên Đoàn, đều có 1 Đại Đội Quân Y (có một Bác Sĩ Quân Y, một Sĩ Quan Trợ Y và nhiều Y Tá), đi theo đơn vị hành quân ra mặt trận. Hãy đọc đoạn trích sau đây được trích trong tác phẩm “Trung Đoàn 8 Bộ Binh tại An Lộc” của Chuẩn Tường Mạch Văn Trường. Có thể xem như là tiêu biểu cho cả bốn mặt Đông, Tây, Nam, Bắc về vấn đề cứu thương và chung sự tại chìến trường An Lộc:

“Ngay khi địch ngưng tấn công, việc đầu tiên Trung Đoàn 8 cần phải giải quyết gấp là di tản thương binh và thường dân bị thương nặng về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, để Bác Sĩ Quân Y Trung Đoàn chăm sóc, kế đó là gom hết tất cả các xác chết đồng đội, thường dân, và các xác của Việt Cộng bỏ lại chiến trường đem chôn, để tránh mùi hôi thối do xác chết xông lên.

Kiểm tra tình trạng quân số và thương binh, từ ngày 13 tháng 04, khi bắt đầu nhập cuộc chiến, đến ngày hôm nay, tổn thất, thương vong của các Tiểu Đoàn lên đến gấn phân nửa. Số người tử thương thì đã giải quyết, chôn ngay tại chỗ, số bị thương thí tồn động rất nhiều, vì ngày nào cũng có nhiều thương binh nhưng không tản thương được. Do đó, Quân Y tạm thời giải quyết: sồ người bị thương nhẹ, còn đi đứng được thì sau khi băng bó xong, cho trở về đơn vị cũ, cầm súng tiếp tục chiến đấu trở lạị. Do đó có người bị thương 2 hoặc 3 hay nhiều lần. Có người lần trườc bị thương nhẹ, lần sau bị thương nặng. Cũng có những thương binh nhẹ sau đó lại tử thương. Còn những thương binh nặng thì để nằm đó chờ tản thương, sống thoi thóp, rồi có người mòn mỏi chết dần.

Đại đội 52 Quân Y báo cáo trong khu vực của Trung Đoàn 8 Bộ Binh còn cả ngàn quân nhân và thường dân bị thương nặng chờ tản thương, nằm chật cả một dãy phố trên Đại Lộ Hoàng Hôn. Những người còn lành mạnh thì rất mệt mỏi và gấy ốm vì phải chiến đấu hết ngày này sang ngày khác, không thì giờ nghỉ ngơi, thiếu ngủ, thiếu ăn, tinh thần lúc nào cũng bị căng thẳng, sinh mạng không biết chết lúc nào. Lại nữa, mùi hôi thối từ những xác chết rất khó thở. Ruồi lằn sinh sản nhanh kinh khủng. Nước không đủ uống, lấy đâu mà tắm giặt, dơ bẩn, khó chịu, nhưng họ cũng phải ráng chịu. Phấn đấu sống để mà chiến đấu, để bảo vệ Quê Hương và Dân Tộc không lọt vào tay Cộng Sản.

B. Dân Y : Còn về tổ chức hành chánh công quyền, mỗi Tỉnh/Tiểu Khu đều có một Ty Y Tế, một Bệnh Viện Tỉnh, tại đây có từ 2 đến 3 Bác Sĩ Dân cũng như Quân Y và có nhiều cán sự Y tá hay trợ tá phục vụ. Xin quý độc giả đọc một đoạn tựa đề “Điạ ngục trần gian”, trong quyển sách tựa đề “ Nhật Ký An Lộc” của Bác Sĩ Nguyễn Văn Quí ..

ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Tôi đã cắt mấy cẳng chân nát bấy. Xuơng vỡ ra nhiều mảnh vụn. Thịt da tơi tả trông như miếng giẻ rách, bầy nhầy lẫn lộn đất cát và mấy sợi gân trắng hếu. Tôi thấy không tài nào giữ được những cẳng chân ấy. Chiếc cưa dây Gigli tôi dùng đi dùng lại nhiều lần, giờ đây không chịu nổi nữa. Tôi kéo cưa được mấy cái là đứt tung ra, văng cả máu lên mặt. Trong tủ y cụ tôi chỉ còn có hai sợi chót. Sau khi thay, tôi chỉ còn một sợi độc nhất để dành. Sợi dây cưa Gigli rất dễ sử dụng. Cưa mau lại đỡ mệt hơn cưa tay thường. Tôi phục người nào đó đã sáng chế ra sợi dây cưa này. Tiện lợi vô cùng, vì nó chỉ là những sợi dây thép gồ ghề soắn lại với nhau nên luồn lách chỗ nào cũng được.

Trong tình trạng hiện tại, tôi quí sợi dây cưa này lắm, nó giúp tôi làm việc mau lẹ còn dành thì giờ mổ nhiều người khác. Thiếu nó thì những trường hợp thiết đoạn tứ chi tôi đành bó tay. Tôi cố gắng làm việc cho thật nhanh để thương binh khỏi phải chờ đợi và nhất là tránh phơi mình lâu ở chỗ không an toàn.

Mọi nghi thức trong phòng mổ đều được giản dị hoá đến mức tối thiểu. Chúng tôi chỉ cần một đôi găng tay. Mọi người trong toán mổ đều mặc áo giáp, đầu đội nón sắt để thay thế áo choàng mổ. Có như vậy chúng tôi mới yên lòng làm việc vì bên ngoài Việt Cộng vẫn pháo tới đều đều. Máy phát điện đã bị pháo kích hư từ đêm hôm qua. Tôi phải mở rộng cửa sổ để có đủ ánh sáng làm việc. Chiếc bàn mổ phải luôn luôn xoay ngang, xoay dọc, lộn đẩu lộn đuôi tùy thuộc nơi mổ là ngực, bụng, đầu hay chân tay để có đủ ánh sáng mặt trời rọi vào chỗ mổ. Phòng hấp ngưng hoạt động vì không còn điện nữa. Các dụng cụ giải phẫu đều được khử trùng bằng cách đốt bằng rượu cồn hay ngâm rửa trong nước sà bông gọi là surgical soap.

Mặc áo giáp mổ vừa nặng vừa nóng. Trong phòng mổ kín mít, không máy lạnh, chỉ có một cài cửa sổ thông hơi nên đứng một lúc mà mồ hôi vã ra như tắm. Tôi bị mất nước nhiều quá thành ra mau mệt. Nước bây giờ quý hơn vàng, khó kiếm ra. Phòng mổ bây giờ không còn một giọt nước. Những khăn mổ đã dùng rồi, dính máu không có nước giặt được chị Huyền gom lại vứt thành đống sau phòng trực y tá. Ngay đến nuớc rửa vết thương còn không có lấy nước đâu ra giặt đồ.

Ngay những ngày đầu của cuộc chiến, tôi đã tiên liệu tình trạng này. Nhưng tôi thực không ngờ trận đánh kéo dài mãi không dứt và hình như hiện giờ mới chỉ là khởi đầu. Tuần trước tôi đã ra lệnh cho Thượng Sĩ Lý chỉ huy các nhân viên phòng mổ thu gom tất cả các chai nước biển đã dùng rồi, đổ đầy nước vào, đem đi hấp để dự trữ hàng giẫy dài mấy trăm chai dọc theo tường phòng mổ.

Mặc dù chúng tôi dùng rất dè sẻn, chỉ để rửa các vết thương, số nước đó cũng chỉ được một tuần sau là hết. Cũng may tôi xuống dưới kho lớn đã đổ nát tìm được 6 gallon phisohex và hai thùng hydrogen peroxide. Không có nước pha, tôi đành rửa các vết thương bằng phisohex nguyên chất.

Phòng mổ bây giờ thật xơ xác hoang tàn, nền nhà dơ bẩn vì không có nước lau đã lâu. Dưới chân bàn mổ từng vũng máu đông đen xì hôi hám. Không khí ngột ngạt khó thở, không thể nào tiếp tục làm việc được nữa. Bệnh viện đã bị cô lập. Muốn liên lạc với các giới chức có thẩm quyền để xin trợ giúp chỉ còn có một cách đích thân đi bộ tới tận các bộ chỉ huy. Nhưng trong tình thế này tôi không tin là họ có thể giúp được cho bệnh viện một chút gì. Tôi tự nghĩ, có sao làm vậy, đến đâu hay đến đó, hết sức mình thì thôi.

Khoảng 5 giờ chiều, Bác Sĩ Nam Hùng ở phòng cấp cứu xuống cho tôi hay có 5 người bị thương bụng cần mổ gấp, tôi nghe vậy mệt xỉu luôn.

Dù ở trong thời bình với đầy đủ phương tiện, tôi có làm suốt đêm đến sáng, chưa chắc một mình tôi có thể giải quyết xong số thương binh đó. Huống chi, trong tình trạng hiện nay, với một số nhân viên cố định, đã làm việc suốt ngày không nghỉ. Tôi nghĩ không tài nào làm hết nổi. Không biết trận chiến còn kéo dài đến bao giờ. Tôi phải giữ sức khỏe cho nhân viên và cho tôi để có thể tiếp tục làm việc trong những ngày sắp tới. Nếu phung phí sức khỏe làm việc trong một ngày để rồi sau đó kiệt sức nằm bẹp một chỗ thì thật là người bất trí.

Lại còn vấn đề cá nhân nữa. Không ai lo cơm nước cho chúng tôi. Chúng tôi phải tự túc lấy. Sau vài ca mổ trong giờ xả hơi tôi tạt qua phòng nhắp vội một hai nắp bi đông nước cho đỡ khát, ăn vội mấy thìa cơm sấy với thịt hộp cho qua cơn đói. Các nhân viên phòng mổ khác chắc cũng được bạn bè giúp đỡ nên họ cũng chưa đến nỗi kiệt sức lắm.

Tuy nhiên trong tình trạng hiện tại, không điện nước, không đèn đuốc, thì dù có tinh thần cao cách mấy cũng không thể nào làm được. Lại thêm Việt Công vẫn tiếp tục pháo kích suốt ngày. Đạn pháo rơi bên trường trung học trước bệnh viện, bên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5, bên Ty Công Chánh sau bệnh viện rồi rơi vào ngay cả bệnh viện kiến cho chúng tôi đứng mổ không yên. Mọi người đều cố làm thật nhanh để còn đi tìm chỗ núp.

Những vội vã trong lòng không biểu lộ ra nét mặt. Ai nấy đều có cái vẻ ngoài điềm tĩnh để làm việc. Có thể nói sợ quá hoá lỳ. Vị thực ra đâu còn cách nào khác. Tuy nhiên mỗi lần nghe tiếng rít của đạn bay qua đầu hay tiếng hú của hoả tiễn thì những dấu hiệu kinh sợ mới thấy hiện ra trong ánh mắt mệt mỏi của mọi người. Riêng tôi, mỗi lần như vậy thì cảm giác sợ hãi làm co thắt các bắp thịt đến buốt nhói ở tim. Khi nghe thấy tiếng đạn nổ rồi, thấy mình không hề hấn gì mới yên lòng làm việc tiếp.

Càng ngày Việt Cộng càng pháo nhiều, tinh thần mọi người ở đây thật căng thẳng. Sống tính từng giờ, chết không biết lúc nào. Chúng tôi như những con chim đã bị tên, thấy cây cong là sợ: một tiếng xiết chân, một tiếng chép miệng, một tiếng thắng xe, tiếng xao động của mái tôn cũng làm cho chúng tôi giựt thót mình. Bao giờ tôi cũng có cảm tưởng là có một trái đạn treo trên đầu mình sẵn sàng nổ bất cứ lúc nào.

Tôi nhận thấy không tài nào làm hết những vết thương bụng đó được. Tôi chọn xem người nào nhẹ nhất tôi làm trước. Những người nặng và những người mất máu nhiều không có hy vọng sống sót sau khi mổ, tôi chỉ cho truyền nước pha với trụ sinh rồi giao cho số mệnh.

Trong số những người bị thương bụng không mổ, chỉ có hai người sống sót, một cô gái và một người lính cao lớn tên Ba. Tiếc thay anh Ba sống được hai tuần thì một đêm kia, phòng hậu giải phẫu bị trúng một trái 61 ly. Người đàn bà nằm ngay chỗ trái đạn nổ cùng với đứa con không việc gì, trái lại anh Ba bị một mảnh nơi cẳng chân trái. Một tuần sau anh chết vì bị phong đòn gánh.

Trong ánh sáng lờ mờ của buổi chiều, trong không khí ngột ngạt oi bức tanh mùi máu của phòng mổ, tôi, Thiện, Xòm cố sức làm việc. Tôi cố khâu những vết thủng ruột non. Tôi thấy khó thở quá, mồ hôi chảy ròng ròng trong thân làm tôi thấy ngứa ngáy khó chịu. Thỉnh thoảng tôi lại phải nghiêng đầu dơ vai lên quẹt mồ hôi ở mặt từ trán chảy xuống.

Bây giờ không còn như mấy ngày trước nữa mà mong có người đứng bên lau mồ hôi cho mình. Trong hoàn cảnh khó khăn tôi đã hình thành một triết lý sinh tồn là cứ hết sức chú ý vào công việc mình làm, không cần để ý tới thời gian và những phiền toái chung quanh. Bởi vậy cuộc mổ chiều hôm đó tuy cực nhọc khó khăn rốt cuộc rồi cũng xong.

Tôi mệt lả người. Trong lúc Thiện, Xòm đẩy bệnh ra phòng hậu giải phẫu, tôi bước ra ngoài cho dễ chịu một chút. Tôi không dám hít mạnh vì không khí bệnh viện hiện giờ chẳng trong lành, thơm tho gì. Cho tới nay gần 300 xác người nằm sấp lớp dưới nhà xe và sân sau của bệnh viện. Những xác chết đó có từ ngày đầu của cuộc chiến, đến nay gần mười ngày mà chưa được đêm đi chôn. Buổi chiều mùa hạ nóng bức cùng với mùi tử khí của những xác người đã bắt đầu trương phình làm cho không khí đặc quánh, thật khó thở.

Bệnh viện có một nhà xác chứa được hai xác. Khi tôi tới làm việc ở tỉnh này được chừng ba tháng, thì dự án nới rộng nhà xác của tỉnh đã được thông qua và bắt đầu. Một ông thượng sĩ an ninh của tỉnh thì thầm với tôi :

– Bác sĩ đừng chê tôi dị đoan, nới rộng nhà xác là điều tối ky, vì chắc chắn sẽ có nhiều người chết lắm. Để rồi bác sĩ coi tôi nói có đúng không. Trước kia làm ở tinh Chương Thiện cũng vậy. Chỉ vài tháng sau khi nới rộng nhà xác là vô số người chết tới.

Lúc đó tôi gật đầu cho ông ta vừa lòng, nhưng trong bụng bán tín bán nghi. Nay thì thấy ông thượng sĩ già này có lý.

Thoạt đầu những người tử nạn đều được tẩm liệm vô hòm đàng hoàng, có cả quốc kỳ phủ quan tài cùng hương đèn đốt cháy suốt ngày đêm. Trung đội chung sự không đem đi chôn được vì pháo kích và khu nghĩa địa không được an ninh vì ở xa, ngoài vùng kiểm soát của quân mình, nên xác chết cứ để lại tại bệnh viện.

Khuya, sau khi mổ xong, đi xuống phòng ngủ, tôi không dám nhìn ra phía nhà quàn với hàng quan tài có những ánh nến leo lét cháy. Cứ trông thấy là tôi lạnh người dựng tóc gáy rảo bước cho mau.

Dần dần người chết quá nhiều, bất cứ nơi nào có xác chết là họ thu về đem thảy vào nhà xác bệnh viện. Mới đầu giới hạn ở nhà quàn, sau lan ra nhà xe, tới sân sau, rồi tới ngang hông văn phòng Ty Y Tế ngay trước trại ngoại khoa. Có xác quấn poncho, có phiếu chứng tử đính kèm, nhiều xác để trần mặc áo giáp, xác nằm xấp, nằm nghiêng, co chân co tay, miệng há hốc, mắt trợn trừng. Có xác nằm bình thản như người ngủ. Có xác trương phình, bụng căng cứng, bóng như bụng ễnh ương, chảy nước vàng, rữa nát vì để quá lâu, phơi nằng suốt ngày đã biến màu thành đen sạm như chì. Xác của người lớn, của trẻ con, của quan, của lính, của dân nằm lẫn lộn, xông lên mùi hôi thối suốt nửa tháng trời. Ruồi nhặng bu đầy trên mặt mũi, trên những vùng nước rỉ ra từ những thân thể sắp rữa nát.

Để ngăn ngừa ruồi muỗi sinh sản, có người đem rắc bột DDT lên những xác chết. Hành động này về phương diện vệ sinh, trên lý thuyết thì rất đúng. Nhưng đứng ở một nơi nào khác kia, ở một thời điểm nào kia, chứ thực tình tôi vẫn phân vân tự hỏi tại đây nó có tốt không ? Trong nhất thời, tôi cho là tai hại quá.

Ruồi nhặng bị xua đuổi khỏi chỗ ở của nó liền quay vào tấn công bệnh viện. Khắp chỗ nào cũng có ruồi nhặng. Chúng lì lợm đậu lên đầu lên mặt tôi, lên mặt những thuơng binh mệt mỏi nằm ngủ quên. Tôi đưa tay vuốt mặt ngửi thấy mùi hôi thối của xác chết kinh tởm đến lợm giọng. Tệ hơn nữa hiện giờ chẳng kiếm đâu được nước mà tắm rửa. Tôi lấy một cục bông gòn thấm alcool lau qua cho đỡ bẩn. Mùi hăng nồng của alcool quả thực đã làm tôi thấy sạch sẽ hơn, dễ chịu hơn được một chút.

Lại nữa, mùi DDT trộn với mùi của xác chết xình thối hợp thành một mùi khủng khiếp không tài nào ngửi được. có những xác ruồi bu đen suốt từ đầu đến chân, tôi trông thấy mà nôn nao trong ruột muốn ói.

Mấy ngày sau, anh Châu kiếm đâu được ít thịt heo đem kho tầu mang đến cho tôi nhưng tôi không thể ăn được. Cứ đưa miếng thịt lên miệng lại nghĩ tới đống thịt rữa nát chỉ cách mình không xa là mấy, đành phải bỏ xuống. Ấn tượng đó cho đến cả tháng sau, lúc dọn sang bộ chỉ huy tiểu khu mới hết.

Sau khi không thể chịu được những xác chết đó nữa, chúng tôi trình sự việc lên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5. Một vị đại tá được chỉ thị lo việc này. Đó là Đại Tá Điềm nguyên Tỉnh Trưởng Long Khánh hồi tôi còn ở Trung Đoàn 43 Sư Đoàn 18 Bộ Binh đóng ngay tại tỉnh này. Không hiểu sao tôi lại gặp ông ở đây. Đích thân ông dẫn một tốp lính cùng 10 lao công đào binh để hốt xác đem lên xe cam nhông đưa đi chôn. Nhưng khi Đại Tá Điềm ra lệnh xong vừa quay về là lính, lao công đào binh cũng trốn luôn. Ai cũng ghê tởm không dám làm công việc khênh hàng trăm xác rữa nát hôi thối lên xe.

Ở sân trường học, ngay phía trước cửa bệnh viện, một chiếc xe ủi đất của Ty Công Chánh đang đào những hố thiệt lớn. Tiếng máy nổ khác thường làm mọi người chú ý. Ai cũng thắc mắc không hiểu họ đang làm gì. Mới đầu, tôi tưởng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn cho làm thêm công sự chiến đấu, sau mới biết là đào hố chôn tập thể. Xe phải đào tới gần một ngày mới xong.

Buổi chiều chừng 5 giờ, một xe GMC dẫn 10 lao công đào binh cùng 5 người lính sang bệnh viện. Xe de đít quay vào đám xác. Lần này có lệnh của Đại Tá Điềm là ai trốn chạy sẽ bị bắn tại chỗ. Chính nhờ nghiêm lệnh này công việc đã được tiến hành tương đối chu đáo và có hiệu quả. Một trung sĩ to con, mặt sát khí đằng đằng cầm súng M.16 đứng chỉ huy.

Mấy người lao công đào binh đi kiếm bao nylon gạo sấy để làm bao tay hì hục khênh từng xác vất lên xe.

Nước vàng hôi thối từ những xác chết chảy ròng ròng. Bắt họ làm công việc này thật tội nghiệp. Nhưng nếu không bắt buộc thì làm sao giải quyết nổi gần 300 cái xác đó. Sau khi chất lên được gần một xe, nhìn lại thấy số xác người như không suy chuyển một chút nào, mấy anh lao công đào binh đã bắt đầu nản, xuống tinh thần. Phần vì mệt mỏi, phần vì tiếp cận ngay những cái xác đang rữa nát hôi thối đó, họ đều xin dừng tay nghỉ mệt và một anh đề nghị lấy xe ủi đất ủi tất cả các xác đó vào một đống sau bệnh viện rồi đổ xăng đem đốt. Nhưng giải pháp này không được chấp thuận. Vì mùi khét lẹt của gần 300 cái xác đó xông lên thì chắc không ai chịu nổi.

Bỗng một người lính la lên :

-Có thằng trốn.

Hai người lính liền đi lục soát tìm kiếm. Lợi dụng mọi người không chú ý, ba người nữa chạy vội ra tính leo rào trốn khỏi bệnh viện. Một cuộc rượt bắt diễn ra. Anh trung sĩ phải bắn mấy phát chỉ thiên mới bắt lại được ba người, còn một người trốn mất luôn. Bắt được anh cho mỗi người một báng súng vô ngực, buộc phải quay lại làm tiếp. Anh hăm dọa :

-Tụi bay mà bỏ chạy nữa tao bắn bỏ nghe.

Một người lao công đào binh mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm chiếc áo ka ki bạc màu, nhăn nhó qua hàng nước mắt :

– Hôi thối quá làm sao tụi em làm được. Anh trung sĩ nạt lại:

– Bộ tao đứng canh tụi bay ở đây không ngửi thấy mùi sao. Ráng làm cho xong rồi về.

-Khênh người sống còn đỡ, khênh người chết sình nặng quá muốn hụt hơi luôn. Trung sĩ cho tụi em nghỉ một lát để thở.

-Được, cho tụi bay nghỉ 5 phút.

Mấy lao công đào binh ngồi ngay xuống thềm xi măng văn phòng Ty Y Tế nghỉ xả hơi. Mặt người nào người nấy phờ phạc có lẽ phải hít thở mãi những mùi xú uế từ những tử thi để lâu ngày. Một người trông hãy còn trẻ, chừng 20 tuổi mặt mũi có vẻ thông minh ngồi dựa vào tường than thở.

– Từ hồi cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa bao giờ tao phải làm một việc cực khổ khốn nạn như thế này. Cực đéo chịu được, thà chết sướng hơn.

Tôi cho người đi kiếm mấy cặp găng tay đã dùng rồi đưa cho họ mang để họ làm việc dễ dàng hơn là dùng những bao nylon gạo sấy.

Hết 5 phút xả hơi, họ lại được lệnh tiếp tục khênh xác lên xe. Đầy xe rồi tài xế liền lái ra hố chôn tập thể. Họ lại khênh xác vứt xuống hố. Tới 8 giờ tối mới xong được hai xe. Họ làm liên tục như thế trong hai ngày mới thanh toán hết số xác trong bệnh viện. Chiếc xe ủi đất phải đào thêm hố nữa dài theo sân của trường trung học mới đủ chỗ chôn. Ngoài ngã ba Xa Cam dọc theo vườn cao su, trung đội chung sự tiểu khu còn đào thêm một hố chôn tập thể khác khá lớn. Tôi nghe nói hố đó chứa chừng gần một ngàn xác.

Giờ đây mồ mả mọc lên như nấm rải rác khắp thành phố. Những tấm bia bằng gỗ pháo binh, bằng giấy carton được mấy người bạn đồng đội viết nguệch ngoạc tên họ người chết và cắm lên vội vã. Họ phải làm thật lẹ vì rất nguy hiểm khi phơi mình quá lâu trên mặt đất. Đạn pháo kích có thể rơi xuống bất cứ lúc nào.

Trước cửa nhà Tiểu Khu Phó, hai người đang đào hố chôn bạn, gần xong thì bị ngay một trái 105 ly. Chẳng một ai sống sót. Sẵn hố đã đào, người ta liền vùi tất cả chung vào một lỗ. Thành ra những ngưòi lính ấy đã tự tay đào lỗ chôn mình. Mấy anh lao công đào binh cũng bị tử nạn đang khi vứt xác xuống hố. Thi thể họ cũng được vùi chung với những xác mà họ mới vừa khênh xuống.

Người ta kể chuyện, vì có những vụ như vậy nên mỗi lần đào hố chôn, họ lại đào rộng ra một chút để nếu có bất hạnh xảy ra thì có sẵn hố tự chôn mình luôn. Thật là bi thảm nếu quả thực là như vậy. Không biết chuyện đó có thật hay không.

Từ khi giải quyết xong mấy trăm xác chết đó, bệnh viện thấy dễ thở hơn được một chút. Tuy nhiên hàng ngày, trung bình có từ 3 đến 5 xác do các nơi đem tới. Trung đội chung sự vì vậy cứ cách ngày lại phải tới bệnh viện gom xác lại đem đi chôn. Công việc cứ tiến hành đều đều như vậy, nên không còn sự ối đọng cả mấy trăm xác chết như trước nữa.

Ở đây không phải chỉ chết một lần, mà hai lần, có trường hợp tới ba lần. Pháo trúng mồ, thân xác bị cầy nát lên, được chôn lại, bị pháo trúng nữa, thịt xương rữa nát văng vãi tứ tung, hôi thối khửng khiếp. Đó là truờng hợp của một nữ y tá thuộc phòng y tế công cộng chẳng may bị tử thương, được bạn bè đem chôn tại bờ tường phía sau bệnh viện, đã bị chôn hai lần như vừa kể ở trên. Và đó cũng là trường hợp của bốn quân y tá mà tôi là người nói chuyện với họ lần cuối cùng dưới làn cây trứng cá trườc cửa văn phòng Milphap.

Khi tôi từ phòng mổ đi xuống trại ngoại khoa, nửa đường gặp một nhóm quân y tá đang đứng nói chuyện với nhau. Trông thấy tôi, binh nhất Út tươi cười chào hỏi :

-Bác sĩ làm việc có mệt không ?

Tôi đứng lại nhập bọn với họ, trả lời :

– Mệt lắm, nhưng cũng phải cố gắng, còn nước còn tát. Thế các anh em có chỗ núp an toàn không, ăn uống cơm nước ra sao ?

– Thưa bác sĩ, nhờ có gạo sấy do thả dù tiếp tế nên cũng không bị đói. Chúng em cứ hai người chung một hố cá nhân đào dọc tường sau của trại nhi khoa, cho đến bây giờ thì may mắn chưa có ai bị hề hấn gì cả.

– Thế thì tốt lắm, nhưng không nên đứng khơi khơi giữa trời như thế này làm gì, nguy hiểm lắm..

Nói xong, tôi liền tiếp tục đi xuống trại ngoại khoa, mở khóa vào trong phòng ngả lưng định nằm vài phút để lấy lại sức. Vừa nằm chưa ấm chỗ tôi chợt nghe một tiếng nổ rất gần ngay trong bệnh viện, không to lắm, mảnh đạn, đất đá văng lên mái nhà nghe rào rào. Tôi đoán là đạn súng cối 61 ly. Vì đã có kinh nghiệm và đã quá quen với pháo kích rồi nên nghe tiếng nổ là tôi có thể đoán trúng được là loại đạn gì. Tôi nghĩ thầm loại này thì nhằm nhò gì chỉ như gãi ghẻ mà thôi. Tôi chẳng thèm để ý, định bụng nằm trên giường như thường, chẳng cần phải chui xuống gầm giường như mọi khi nữa.

Đang suy nghĩ miên man, thì có tiếng gõ cửa gấp rút, rồi tiếng trung sĩ Lạng trưởng trại ngoại khoa nói vọng vào :

– Xin mời bác sĩ ra ngay cho. Có bốn y tá của mình bị thương nặng!

Tôi vội ngồi bật dậy, đi ra ngoài, khoá cửa lại cùng trung sĩ Lạng chạy ra phía đầu trại ngoại khoa, ra tới sân trước văn phòng Milphap tôi thấy một nhóm đông đang xúm xít săn sóc bốn người bị thương nằm dưói đất.

Tôi khám thật nhanh thấy ba người kia đã chết vì vết thương quá nặng ở đầu, bụng. Còn có binh nhất Út thấy có vẻ tỉnh táo nhưng mặt mày xanh mét vì mất máu, vì đau. Tôi ra lệnh cho y tá khênh Út vào văn phòng Milphap, đặt anh ta trên chiếc bàn, rồi bắt đầu khám lại kỹ càng hơn. Tôi thấy một vết thương do mảnh đạn xuyên vào phổi phải. Không có tiếng thở phế bào. Chắc máu ra nhiều trong phổi. Tim đập rất yếu. Chắc chắn bệnh nhân cần phải được thông phổi ngay. Nhưng những dụng cụ thông phổi nay đã hết. Nên tôi đành phải dùng valve Heimlitz là một hình thức thông phổi mà không cần bình nước vì valve chỉ cho phép đi một chiều tức là máu ra được nhưng không khí không vào được do hai lá cao su khi thở ra thì nó mở ra, khi hít vô thì nó tự động đóng lại theo sức ép của không khí.

Tôi biết vết thương này không đơn giản. Chắc chắn nó đã gây hư hại nhiều cho những cơ quan bên trong. Tôi chắc Út khó có thể qua khỏi được nếu không được di tản kịp thời. Nhưng với tình trạng hiện nay, tản thương là điều không thể có được. Tôi nghĩ đến nước này chỉ đành phó mặc cho trời mà thôi.

Sau khi truyền nước biển xong tôi dặn mấy người bạn Út canh chừng trong đêm nay. Ngày mai nếu may mắn có chuyến tản thương sẽ cho Út ưu tiên đi trước.

Tôi đi vòng qua đống rác lớn cuối trại nội khoa, ra phòng cấp cứu. Qua hành lang giữa trại, tôi thấy thương binh nhiều quá, nằm bừa ra cả lối đi. Tôi phải len chân lần từng bước. Ra tới cửa chính giữa, nơi được dùng làm phòng cấp cứu. Một cảnh tượng đau lòng hiện ra. Chừng 30 thương binh nằm đầy ra ở dưới đất. Một vài người có bang ca, còn phần đông nằm ngay trên sàn gạch dơ dáy, đầy bông băng vấy máu. Một bàn kê sát vách tường trên đó để đầy các thứ thuốc sát trùng, các thứ thuốc chích, cạnh đấy là những thùng băng đã được khui sẵn. Sáu y tá luôn tay làm việc băng bó. Bác sĩ Nam Hùng, bác sĩ Tích đã khám vết thương từng người rồi ra chỉ thị cho y tá, cái nào rửa sạch băng lại, cái nào cần giải phẫu thì chuyển xuống phòng mổ. Tôi đến gần bác sĩ Tích, anh nhìn lên lắc đầu thở ra. Tôi hiểu ý nói :

– Nhiều quá phải không anh Tích ?

Bác sĩ Tích gật đầu mệt mỏi đáp :

– Tôi với anh Hùng làm từ sáng tới giờ mà vẫn không hết. Nghe nói họ sẽ còn mang tới nữa.

-Trời! Lấy chỗ đâu cho thương binh nằm. Ở đây đầy rồi. Dưới trại cũng hết chỗ chứa.

Bác sĩ Tích ngao ngán lắc đầu :

– Mấy thằng khiêng cáng viên dông hết rồi. Tụi nó mất tinh thần, tên nào tên ấy lờ quờ không muốn làm gì cả.

– Mình bận làm việc không hở tay đâu để ý được tụi nó. Giá có thêm người đứng ra chỉ huy, tụi nó sợ, làm việc, thì đâu có ối đọng khổ sở như thế này.

Tôi đi thăm một lượt, may mắn không có ai cần phải mổ lớn cả. Phần đông đều bị thương ở tay chân. Có nhiều người bị gãy xương, được các bạn đồng đội băng bó giữ im tạm khúc xương bị gãy bằng những cành củi khô hoặc bất cứ vật gì mà họ kiếm được.

Một điều tôi lấy làm lạ là bị thương đau đớn như thế mà không có ai kêu la. Khi các y tá xức thuốc rửa những vết thương trầy trụa, họ chỉ suýt soa nhăn mặt cắn răng chịu đựng chứ không như những ngày thường.

Trong số những người bị thương, có mấy người dân vừa đàn bà vừa trẻ con. Một đứa trẻ cụt cả hai chân lên tới đầu gối, nằm gối đầu trên một chiếc hộp đựng băng, dơ đôi mắt lờ đờ nhìn tôi miệng mấy máy một cách yếu ớt :

– Nước, nước, cho con hớp nước.

Sắc mặt nó vì bị mất máu nên xanh mét, da môi khô, cánh tay trái bị băng gần hết.Một sợi giây vòng qua cổ treo cánh tay trước ngực thành một góc 90 độ.Tay kia cũng đuợc giữ im để truyền nước biển. Thân hình nó thành ra ngắn ngủn một cách thảm hại. Vệt nước mắt khô còn in trên má. Mắt nó ráo hoảnh, nó không còn nước mắt để mà khóc. Nó nhìn để mà nhìn, đôi mắt dường như vô cảm giác. Tôi nghĩ nó đã quá mệt, tê dại không còn biết đau đớn là gì nữa. Nó bây giờ chỉ còn là một sinh vật, sinh vật “vô tri”. Cạnh đấy một người đàn bà bị thương ở má phải tóc bê bết máu nằm gục đầu trên đống băng vấy máu. Vết thương của bà ta đã được băng bằng một băng cá nhân nhà binh khá lớn che gần hết khuôn mặt chỉ để hở một con mắt tím bầm, sưng vù, thỉnh thoảng cố nhướng lên mà không được. Bà ta nằm rên nho nhỏ.

Phía góc phòng, một người lính bị thương ở đầu, bị quấn băng kín mít, chốc chốc lại la lên :

– Trời ơi khát nước quá, ai cho tôi miếng nước.

Kêu xong anh ta lại nằm yên như không có gì xảy ra cả. Mọi người đều bận rộn, không ai lấy nước cho anh, vì thực ra cũng khó mà kiếm được nước trong lúc này. Tôi yên trí không lo anh bị chết khát, vì chai nước biển treo bên cạnh vẫn còn nhỏ đều đều từng giọt thẳng vào mạch máu.

Tôi nhìn những người y tá làm việc băng bó như máy. Không hiểu họ có nghĩ gì không. Suốt 20 năm chiến tranh, chết chóc bị thương xảy ra quá thường như cơm bữa, khiến người ta dường như không còn xúc động trước những cái chết của đồng loại. Tôi đã nhận ra được điều này ngay từ hồi tôi còn là một sinh viên y khoa thực tập tại khu ngoại khoa bệnh viện Chợ Rãy. Hôm ấy người ta khênh vào hai mẹ con bị thương. Tôi săn sóc khâu vá vết thương của người mẹ. Tôi hỏi :

– Vì sao chị bị thương vậy ?

Người đàn bà đáp :

– Bị máy bay bắn lầm trong khi cả nhà tôi đang ăn cơm. Hiện giờ chồng tôi và đứa con út bị chết vẫn còn để nằm ở nhà.

Điều làm tôi kinh ngạc nhất là giọng nói thản nhiên, gần như vô cảm giác, không một chút xúc động, không một giọt nước mắt, dường như bà ta đang nói về cái chết của người chồng, người con nào đó không phải của bà ta. Tôi cứ tưởng bà ta phải gào thét lên, khóc nức nở hay tỏ ra đau đớn lắm khi nhắc tới cái chết của chồng con. Nhưng thực sự đã trái lại, và điều này làm tôi chợt hiểu là chiến tranh đã làm chai đá lòng người.

Tuy nhiên cũng còn may, chiến tranh chưa hủy diệt hết tất cả tình cảm của con người vì sau này, trong những lần hành quân đụng địch, tôi đã bắt gặp được những tiếng khóc thổn thức, những tiếng kêu thảng thốt của những binh sĩ khi nghe tin một người bạn đã gục ở tuyến đầu. Thành ra về một phương diện nào đó, đau khổ quá mức làm cho tê dại đi cũng là một phản ứng tốt để người ta có thể sống còn được.

Tôi tiến dần ra phía ngoài cửa. Nơi đây quả là một địa ngục trần gian. Người sống người chết nằm lẫn lộn với nhau. Một người lính nằm dựa vào chân cột hành lang mắt nhắm nghiền. Một bên má có một vết thương còn rỉ máu. Cánh tay trái băng kín treo trước ngực. Khắp người anh chỗ nào cũng đầy những vết thương nhỏ. Anh nằm gác chân lên cái xác mà anh tưởng là một người bạn, thỉnh thoảng anh đập chân thì thào :

– Lấy tao hớp nước mày.

Có lẽ anh ta đã mê loạn rồi chăng ? Gần đấy một người bị thương ở cẳng chân, nằm gối đầu lên đùi một người bị thương ở đầu dường như đang ngủ mê mệt. Tôi tới gần xem, người bị thương ở đầu đã chết từ bao giờ. Tôi bỗng nghe một tiếng gọi yếu ớt

– Bác sĩ !

Tôi quay đầu lại, đưa mắt tìm kiếm xem tiếng nói từ đâu. Một cánh tay gầy khô như khúc xương mệt mỏi vẫy tôi. Tôi nhận ngay ra Điểu Thoul, một lính Địa Phương Quân người Thượng đamg nằm sát chân tường gần cửa phóng bác sĩ Chí. Tôi tới gần cúi nhìn vào hố mắt sâu hoắm của anh ta. Điểu Thoul giờ chỉ còn là bộ xương. Hắn quá yếu đuối không còn nhúc nhích gì được. Điểu Thoul bị thương ở bụng thủng ruột già. Tôi đã mổ làm hậu môn nhân tạo cho anh ta. Mấy ngày trước tôi đã cho tản thương, khênh ra khênh vào mấy lượt nhưng rốt cuộc không đi được, rồi chắc bị bỏ nằm ở đó.

Tôi ngồi xuống bên anh ta, một mùi hôi thối xông lên. Chung quanh chỗ nằm chảy đầy be bét toàn là phân. Cái túi nylon đựng phân buộc ở hậu môn nhân tạo mấy ngày nay không được thay, phân đầy tràn ra ngoài, những con bọ nhỏ bò lổn ngổn trông thấy mà nổi gai ốc. Tôi nói :

– Để tôi gọi người thay túi nylon cho anh chịu không ?

Điểu Thoul không nói gì, hai giọt nước mắt chảy dài trên đôi má hóp. Thường ngày cũng vậy, Điểu Thoul ít khi nói lắm. Bị đau nhức hay khó chịu trong mình chỉ biết ứa nước mắt khóc mà thôi. Tôi hỏi :

– Đói không, tôi cho người chuyển xuống trại nhé ?

Điểu Thoul gật nhẹ đầu. Sau đó tôi nhờ anh Xòm, thượng sĩ Lỹ làm sạch vết thương rồi khênh hắn xuống trại hậu giải phẫu.

Trước cửa sổ phòng bác sĩ Chí, ba xác nằm bình thản ngay lối đi. Xa hơn nữa, trước cửa phòng nha khoa hai xác nằm sóng đôi được đậy bằng một tấm tôn cong queo thủng lỗ chỗ vì bị mảnh đạn chừa ra hai cặp chân tím ngắt sưng mọng nước. Những thây đó đã bắt đầu hôi, mùi tử khí làm cho mọi người ngột ngạt khó thở.

Tôi thấy cô Bông, điểu dưỡng trưởng của bệnh viện, đang loay hoay băng bó một cách khó khăn cho một người lính bị thương ở đùi. Cẳng chân bị ngắn lại bị vẹo về một bên. Tôi hấp tấp bước lại :

– Khoan hãy băng, người này bị gãy xương đùi, làm bậy bạ bị kích xúc dễ chết lắm. Cô chờ tôi một chút, tôi đi lấy nẹp Thomas, trong khi chờ đợi cô cho truyền một chai Ringer và chíc một syrette Morphin cho bớt đau.

Nói xong tôi rảo bước về phòng mổ, ào vô kho lục được một chiếc nẹp mang ra. Tôi hỏi người lính :

– Anh thấy đã bớt đau chưa ?

Anh ta gật đầu nhè nhẹ. Tôi vẫy trung sĩ Trọng :

– Lại đây giúp tôi một tay. Anh bợ nhẹ chân này lên để cô Bông đặt nẹp vào.

Tôi nắm lấy cổ chân người lính, hơi kéo nhẹ nhàng vừa nâng lên cao. Người lính nhăn mặt kêu đau. Tôi vừa giữ chân vừa vỗ về anh.

– Chịu khó một chút sắp xong rồi.

Năm phút sau, chúng tôi băng bó và giữ im xong. Trên trán người lính còn lấm tấm mấy giọt mồ hôi. Anh đã can đảm cắn răng chịu đau khiến chúng tôi làm việc được mau chóng dể dàng. Tôi thấy cô Bông có vẻ mệt. Bây giờ là 8 giờ tối. Tôi biết cô và Trọng đã làm việc không ngừng từ suốt sáng tới giờ. Đầu tóc cô bơ phờ. Chiếc áo bà ba bằng lụa xanh màu lá chuối non và chiếc quần đen đều vấy máu.

Chúng tôi làm việc dưới ánh sáng bập bùng của ngọn đèn biến chế làm bằng một chai thủy tinh đựng dầu lửa, nút chai được đục thủng một lỗ để bấc đèn chui qua. Ngọn lửa có nhiều khói khét lẹt. Tôi nói với hai người :

– Chắc hết bệnh rồi. Mình có thể đi nghỉ được.

Cô Bông đưa tay quẹt mấy giọt mồ hôi trên trán nói :

– Bác sĩ đi nghỉ trước đi. Tôi đi kiếm chút nước cho thằng bé nằm kia uống.

Tôi vội dặn cô :

– Coi chừng đấy, mấy người khác thấy được, họ nhao nhao lên đòi, cô không có nước đâu mà cho.

Cô Bông mỉm cười hiểu ý nói :

– Tôi biết mà, bác sĩ yên trí đi nghỉ đi……

5- KHÔNG LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ:

• Sư Đoàn 3 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, đặt bản doanh tại Tỉnh Biên Hoà. Đặc biệt Không Đoàn 43 Trực Thăng thuộc Sư Đoàn 3 Không Quân có trách vụ đổ quân, tản thuơng và tiếp tế (Phi Đoàn 237 Chinook) trực tiếp yểm trợ tiếp tế cho chiến trường An Lộc.

• Sư Đoàn 5 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, bản doanh đặt tại Tân Sơn Nhất Sài Gòn, đảm nhận phần hành thả dù tiếp tế và thả Biệt Kích giả, Phi Đoàn Tinh Long 821( Rồng Lửa) yểm trợ hoả lực cho Căn Cứ Tống Lê Chân, các Phi Đoàn Vận Tải C.119 & C.123 đảm trách thả dù tiếp tế cho An Lộc.

• Sư Đoàn 4 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, bản doanh đặt tại Thị Trấn Cần Thơ. Chuyển vận Sư Đoàn 21 Bộ Binh và Chiến Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh từ Quân Đoàn 4 lên Lai Khê thuộc Tỉnh Bình Dương Quân Khu III.

GHI CHÚ ĐẶC BIỆT:

Chiếu theo Quyển Chiến Sử Trận Bình Long do Nha Quân Sử Bộ Tổng Tham Mưu QL/VNCH phát hành năm 1973:” Vào ngày 26 tháng 04 năm 1972, Quân Đoàn 3 được Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường cho Lữ Đòan 3 Nhảy Dù (Tr.71)..TRỰC THĂNG VẬN XUỐNG TÂN KHAI:” Theo đúng kế họach đã ấn định, các Tiểu Đòan Nhảy Dù, vừa được rút về từ chiến trường Kontum đã đền Lai Khê để đợi lệnh..Lữ Đòan 3 Dù do Đại Tá Trương Vĩnh Phước chỉ huy…( Trang 125)..

Nhưng rất tiếc là cho tới nay, chúng tôi chưa bắt liên lạc được với bất cứ cấp Chỉ Huy nào của Lữ Đòan 3 Dù , để phối kiểm nguồn tin, Chúng tôi ước mông sau ấn bản phát hành lần “NHÌ” này , các Chiến Hữu các cấp thuộc Lữ Đòan 3 Dù vui lòng lên tiếng (gọi điện thọai cho chúng tôi : (512) 278-1729. để được cập nhật hóa cho ấn bản kế tiếp.Thảnh thật cảm tạ trước.

anloc_chuong10-7

 

CÁC ĐƠN VỊ THIẾT GIÁP

• Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh Việt Nam Cộng Hoà (Cơ hữu của Quân Đoàn 3/Quân Khu III).

• Thiết Đoàn 9 Thiết Quân Vận (Cơ hữu của Chiến Đòan15/SĐ 9 Bộ Binh).

anloc_chuong10-8

PHÁO BINH

• Các Tiểu Đoàn Pháo Binh : 52, 53 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh VIệt Nam Cộng Hoà.

• Các Đại Đội Pháo Binh 105 ly và 155 ly tại các căn cứ hoả lực Hoa Lư, Cầu Cần Lê, Tống Lê Chân

• Pháo Binh Lãnh Thổ của Tiểu khu Bình Long: Chi Khu Lộc Ninh, Chi Khu An Lộc, Chi Khu Chơn Thành.

• Đại Đội Pháo Binh Dù (đặt tại căn cứ hoả lực Đồi Gió).

CÔNG BINH CHIẾN ĐẤU

• Tiểu Đoàn 21 Công Binh Chiến Đấu của Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà .

Tại các Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn và Sư Đoàn, còn có các chiến binh Quân Cảnh, cũng rất khổ cực trong việc gìn giữ an ninh trật tự cũng như điều hành lưu thông.

Các chiến binh thuộc ngành Quân Nhu, Quân Cụ và ngành Tâm Lý Chiến (các phóng viên và Đặc Phái Viên Quân Đội Chiến Trường, cũng đã đổ xương máu và mồ hôi nước mắt cho trận chiến thắng vĩ đại nầy).

TOÁN MẬT MÃ THUỘC NHA KỸ THUẬT BỘ TỔNG THAM MƯU, VÀ TIỂU ĐOÀN 5 TRUYỀN TIN CỦA SƯ ĐOÀN 5 BỘ BINH VNCH

Toán Mật Mã thuộc Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu, đã lập được một kỳ công âm thầm ít ai biết đến, đã giúp giải đoán những điện tin “MẬT” của Cộng Quân, trình lên Tư Lệnh Chiến Trường sớm biết được mưu đồ và cường độ tấn kích, để kịp thời điều quân ứng phó. Các Chiến Sĩ thuộc Tiểu Đoàn 5 Truyền Tin, đặc biệt là toán mắc dây điện thoại của Trung Đoàn 8 Bộ Binh, đã có nhiều chiến sĩ bị trúng pháo của Cộng Quân tử trận hay bị thương tích trong khi thi hành nhiệm vụ (nối dây điện thoại, từ hầm Chỉ Huy của Tướng Hưng đến Bộ Chì Huy của Trung Đoàn 8 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà).

CÁC LỰC LƯỢNG DIỆN ĐỊA CỦA TIỂU KHU BÌNH LONG

Các Tiểu Đoàn, Đại Đội, Trung Đội Địa Phương Quân, các Trung Đội Nghĩa Quân v Nhân Dân Tự Vệ,Các Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, Các Chiến Sĩ Cảnh Sất Quốc Gia và Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến, và các viên chức Xả Ấp của Tiểu Khu Bình Long đã hy sinh 495 Chiến Sĩ.

BÁO CHÍ

Kế tiếp là đoàn quân báo chí, xin mới quý vị đọc bài viết tựa đề “An Lộc – Chiến trường thách đố” của phóng viên Phan Nhật Nam.

Sau đây, dưới hình thức một ký sự của một phái viên Vô Tuyến Việt Nam đã đặt chân hơn một lần vào An Lộc, trong những ngày còn lửa đạn, người đọc sẽ được dẫn dắt vào một thành phố đổ nát – An Lộc. Công việc của một phóng viên là trung thực ghi nhận mọi sự kiện xảy ra trong đời sống thời sự. Trên một khía cạnh nào đó, người phóng viên như một chứng nhân dự phần vào những diễn biến luôn luôn làm cho thế giới biến đổi không ngừng. Với tư cách của một phóng viên Vô Tuyến Việt Nam, tôi tới An Lộc ngày 13 tháng 06 năm 1972 khi trận này bước vào ngày tử thủ thứ 68. Nhiệm vụ của tôi tương tự như các phái viên Vô Tuyến Việt Nam ở các mặt trận khác, là tường trình qua hệ thống liên lạc siêu tần số những sự thật đã và đang diễn ra tại các địa điểm mà chúng tôi có mặt. Tôi đặc trách mặt trận Bình Long và chiến trường An Lộc, thực sự như một thách đố đối với cá nhân tôi cũng như nhiều người khác đã từng tìm cách vào An Lộc. Chuyến đi của tôi khởi sự và trung tuần tháng 6 năm 1972. Trong 02 tháng trời ròng rã này, mỗi lần khởi hành đều kéo theo một thất bại cho riêng tôi và cả các anh em khác đi cùng. Có những người bị thương, có những kỷ niệm chua xót, nhưng đau đớn hơn cả là cái chết của cố phóng viên điện ảnh Thiếu Úy Nguyễn Ngọc Bình. Một tuần lễ chờ đợi lên trực thăng rồi lại xuống, ăn chực nằm chờ dưới những cơn lốc cát nóng bỏng ở phi trường Lai Khê – Bình Dương, ngày 29 tháng 4 năm 1972, chúng tôi khởi sự cuộc hành trình phiêu lưu vào An Lộc. Trong thời gian này An Lộc đang bước vào ngày tử thủ thứ 22, áp lực đang lúc mạnh và quân Cộng sản Bắc Việt đã tạo được một lưới lửa phòng không suốt dọc phi trình dẫn vào thành phố anh hùng này. Trong ngày này, chúng tôi không tới được mục tiêu – trực thăng chở chúng tôi bị bắn như mưa, cho đến khi tới gần đồn điền Xa Cam tại đây địch quân pháo kích hang lọat vào bãi đáp, các phi công quyết định bay trở về. Trên cao độ hơn ngọn cây ở Xa Cam, chúng tôi nhìn thấy hàng trăm thương binh đang chờ đợi được di tản về Lai Khê, có những người nằm trên băng ca, có những người chạy tán loạn dưới những tiếng nổ chat chúa, cát bụi mịt mờ của đạn phao kích. Họ chạy theo hướng trực thăng đến như muốn bấu víu vào những hy vọng cuối cùng của sự sống. Chúng tôi cảm thông tình cảnh này, vì chính mắt tôi trông thấy những thương binh ở Lai Khê, những người còn đi lại được, những vết thương đã có giòi, và những ký sinh trùng ghê tởm này đã rớt vương vãi khi anh em từ trên trực thăng tản thương bước xuống. Đợt trực thăng hôm đó không có một thương binh nào về tới Lai Khê vì các phi công không thể hạ tàu giữa cơn mưa pháo kích của địch quân. Trên đường về địch cũng bắn rát như khi chúng tôi tới, một trong các lọat đạn của địch đã khiến chiếc trực thăng chở chúng tôi không còn điều khiển được và phi công phải hạ cánh khẩn cấp xuống một bãi trống chính giữa khu rừng rậm ở phía Nam đồn điền Xa Cam. Trong khoảnh khắc kinh hoàng, một trực thăng Gunship yểm trợ đã đáp xuống khu đất này để cứu sống tất cả chúng tôi gồm 4 nhân viên phi hành đoàn và 4 phóng viên chiến trường.

Ngày 01 tháng 05 năm 1972, trong một chuyến đi tương tự, điện ảnh viên Nguyễn Ngọc Bình đã giã từ ống kính khi trực thăng chở anh nổ tung vì đạn B40 của Cộng quân …

Ngòai ra, còn có Liên Đoàn 5 Quân Y, các đơn vị Quân Nhu,Quân Cụ, Quân Vận,…

(1) Tựa đề “The siege of An Lộc” How Air Supply Helped save the City?? của Trung Tá Len Funk ( The Army Historical Foundation ).

—->Phần I-chương 10

Advertisements
This entry was posted in Chiến Thắng An Lộc 1972 (Nhóm quân nhân QLVNCH), Một thời để nhớ, Người Lính VNCH. Bookmark the permalink.