TÂM SỰ NƯỚC NON 2 (Minh Võ):Chiến tranh Việt-Pháp?

frontcover_tamsunuocnon25- Chiến Tranh Việt-Pháp?

Trên nhật báo Người Việt ngày 21 tháng 2 năm 2005, giáo sư Lê Xuân Khoa mở đầu bài “30 năm sau vẫn còn tranh luận: Chiến tranh của Mỹ hay chiến tranh Việt Nam?của ông như sau:

“Cuộc chiến 1945-1954 giữa thực dân Pháp và các phong trào kháng chiến giành độc lập của các dân tộc Viêt Nam, Cam-pu-chia và Lào thường được các nhà viết sử gọi chung là chiến tranh Đông Dương. Đối với từng quốc gia Đông Dương, cuộc chiến này còn mang những tên khác nhau nhưng cùng một ý nghĩa. Chẳng hạn trong trường hợp Việt Nam, đây là chiến tranh giành độc lập, chiến tranh chống đế quốc Pháp hay ngắn gọn hơn, chiến tranh Việt-Pháp (MV nhấn mạnh). Tất cả những cách gọi tên này đều đúng và không có gì cần phải tranh luận. “

Chẳng lẽ giáo sư Khoa từng nghiên cứu lịch sử Việt Nam quên rằng trong khoảng thời gian từ 1945 đến 1954 đã có hai hiệp ước (1948 và 1949) được ký kết giữa Pháp và quốc gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo và được sự ủng hộ của các đảng quốc gia không cộng sản? Hai hiệp ước này đã công nhận nền độc lập của Quốc Gia Việt Nam. Nhất là hiệp ước 8-3-1949 đã do chính Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ký với Quốc Trưởng Bảo Đại và đã được quốc hội Pháp phê chuẩn (ngày 2-2-50). Trong cuộc chiến tranh Đông Dương các đảng quốc gia trong Quốc Gia này đã không cùng với Việt Minh chống Pháp mà trái lại đã cùng với Pháp đánhViệt Minh. Vì vậy nếu khẳng định cuộc chiến tranh từ 1945 đên 1954 là chiến tranh Việt-Pháp do người Việt Nam thực hiện nhằm tranh thủ độc lập thì quả tình đã bỏ qua những thực tế lịch sử vô cùng quan trọng.

Nếu chúng ta chấp nhận – coi như không có gì cần tranh luận – nhận định của giáo sư Khoa, thì tất cả các đảng phái quốc gia phi cộng sản, và những nhân sĩ trí thức, học giả, văn nghệ sĩ, ký giả… và đa số nhân dân trong vùng quốc gia lúc ấy đêu là Việt gian bán nước đúng như Việt Cộng tuyên truyền.

Nếu không phân tích ỹĩ để tìm hiểu thực chất cuôc chiến tranh gọi là “cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất” này, thì sau này chắc chắn con cháu chúng ta sẽ kết tội cha ông chúng, có lẽ trong đó có cả chính giáo sư Khoa là phản quốc, tay sai thực dân Pháp.

Vì đây là một cuộc chiến có nhiều uẩn khúc, đầy bí ẩn cho nên nhiều sử gia ngoại quốc đã bị lầm do tuyên truyền tinh vi của cộng sản, và cũng vì phía quốc gia cũng như đồng minh coi nhẹ việc giải thích chính nghĩa của mình. Nhưng người viết sử trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, dù là tay mơ, cũng không thể khẳng định “cuộc chiến tranh chong cộng… chỉ thích hợp trong thời chiến”, như ông Khoa viết ở một đoạn sau. Nó đã là chiến tranh chống cộng, thì sau chiến tranh, các nhà viết sử chân chính vẫn phải coi nó là chiến tranh chống cộng. Trừ phi muốn đổi trắng thay đen theo ý muốn, để cho thích hợp với một đường lối lươn lẹo nào đó.

Vấn đề danh xưng của cuộc chiến liên quan mật thiết đến chính nghĩa của cuộc chiến. Người quốc gia chỉ có chính nghĩa khi phải tự vệ, cầm súng chống trả người Việt cộng sản, nghĩa là giết đồng bào của mình, nếu chứng minh được rằng những người Việt cộng sản đó phản bội tổ quốc, làm tay sai cho đế quốc Liên Xô, Trung Cộng, hay hành động trái với quyền lợi của tổ quốc, hòng phục vụ một ý đồ điên cuồng và ảo tưởng là đưa giai cấp vô sản quốc tế lên nắm quyền bá chủ thế giới bằng cách tàn sát các nhà ái quốc chân chính và đẩy hàng triệu đồng bào vào chỗ chết. Việc chứng minh đó có vẻ nhiêu khê vì nó đòi hỏi một hiểu biết tối thiểu về chủ nghĩa công sản và các chiến lược sách lược do những tay trùm Lê-nin và Stalin đề ra. Đồng thời cũng phải hiểu về kỹ thuật tuyên truyền cộng sản, là một thứ vũ khí chủ soái của cuộc chiến ý thức hệ (cộng sản).

Trong một bài bá, không thể đi vào những chi tiết đó mà chúng tôi đã ghi trong mấy cuốn sách gân đây.1 Chỉ xin dẫn chứng một tài liệu do chính một tay trùm Cộng Sản Việt Nam là Võ Nguyên Giáp liên quan đến mục đích của cuộc chiến mà ông Khoa gọi là Việt-Pháp.

Trong hồi ký Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên (nhà XB Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, lần thứ 5, 2001, chương 9) họ Võ đã tiết lộ một chỉ thị của Thủ Tướng Pháp George Bidault trao cho trưởng đoàn thương thuyết Max André, trong đó có câu: “Phải giành cho được mọi sự bao đảm để trên lãnh vực đối ngoại Việt Nam không thể trở thành một quân cờ mới trong ván cờ Xô Viết. “

Câu trên cho thấy, ngay từ lúc ấy (mùa thu năm 1946) đã bắt đầu ván cờ “chiến tranh lạnh” giữa Đông và Tây. Và nước Pháp cùng với một số nước khác ở châu Âu như Anh, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg đã tự đặt mình vào thế đối đầu với Liên Xô. Nguyên do chỉ vì ngay trong thế chiến II, và nhất là vài năm liền sau thế chiến II, Liên Xô đã sát nhập hàng chục nước ở Đông Âu vào khối Xô Viết bằng những hình thức chiến tranh phi vũ trang. Chính vì phi vũ trang nên thường được gọi là chiến tranh lạnh. Đó là chưa kể ngay từ khi phong trào cộng sản thế giới do Karl Marx và Friedrich Engels phát động, những nhà mô phạm ở Tây Phương, trong đó có Giáo Hoàng Piô IX, đã hô hào phải có biện pháp ngăn chặn. Như vậy chiến tranh ý thức hệ, chiến tranh chống cộng trên toàn thế giới đã nhen nhúm ngay từ đó.

Liên Hiệp Tây Âu thành lập vào tháng 3 năm 1948 và Hội Đồng Âu Châu thành lập tháng 5 năm đó để đối chọi với Phòng Thông Tin Quốc Tế (thối thân của Quốc Tế III tức Quốc Tế Cộng Sản) ra đời năm 1947 đã là những hạt nhân cùa Khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) bao gồm hầu hết các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, ra đời vào năm 1949 là năm Khối Cộng đã chiếm gọn một phần ba thế giới, với chiến thắng của Mao Trạch Đông tại lục địa Trung Hoa.

Cho đến 1954, sau khi Việt Nam bị cộng sản chiếm một nửa, thì hiệp uớc Liên Phòng Đông Nam A (SEATO) ra đời. Hằng tạm quên đi hai hiệp ước kém quan trọng là CENTO (Trung Đông, 1951) và ANZUS (Mỹ-Úc-Tân Tây Lan, 1953).

Tất cả những biện pháp, thái độ và hiệp ước liên phòng nói trên là gì, nếu không phải là một mặt trận ngán chặn làn sóng đỏ? Đó là một cuộc chiến do khối cộng phát khởi và thế giới tự do chỉ bất đắc dĩ phải đối phó hầu bảo vệ QUYỀN TƯ HỮU và những quyền căn bản của con người.

Đó là về mặt toàn cầu.

Trong phạm vi cục bộ, vì Việt Nam có Hồ Chí Minh là một cán bộ cao cấp của Quốc Tế Cộng Sản đưa mầm chiến tranh vào, cho nên những nhà ái quốc Việt Nam cũng đã phải thành lập mặt trận chống cộng để ngăn chặn “làn sóng đỏ”.

Nếu chấp nhận cuộc chiến toàn cầu này là một cuộc chiến ý thức hệ, thì về đại thể và toàn bộ khối cộng đã thua nhưng về cục bộ nó đã thắng và hãy còn tiếp diễn ở Viêt Nam, và những người quốc gia chống cộng vẫn còn đang tranh đấu bằng nhiều hình thức để dứt điểm chủ nghĩa CS tại đây.

Trở lại vấn đề chiến tranh Việt Pháp do ông Lê Xuân Khoa nêu lên. Dù thực sự có âm mưu của một số thực dân Pháp lúc ấy tìm cách quay trở lại Việt Nam, hay ít ra cố bám lấy Nam Kỳ (Cochinchine) thuộc địa cũ, thì cuộc chiến giữa Việt Minh cộng sản và phe quốc gia được Pháp yểm trợ và Hoa Kỳ cũng gián tiếp viện trợ vẫn phải được coi là cuộc chiến giữa Cộng sản và thế giới tự do.

Không thể bảo vì có một số thực dân Pháp trong đó mà phủ nhận tính chất chống cộng thực sự của cuộc chiến.

Quyết tâm sáng suốt cua những nhân vật chống cộng nổi tiếng Mỹ như các tổng thống Harry Truman, Dwight D. Eisenhower với các ngoại trưởng George C. Marshall, Dean Acheson, Foster Dulles, hay người em của ông là Allen Dulles lúc ấy là giám đốc Trung Ương Tình Báo (CIA), và sau này là các Tổng Thống George Bush (cha), Ronald Reagan, nhất là ông này cùng với một bộ tham mưu đồng lòng hăng say chống cộng, đã là nguyên nhân cua sự tan rã của khối cộng. Nếu nhu nhược, dè dặt hay cả tin như những Averell Harriman (kẻ có trách nhiệm về hiệp định Genève 1962 về Ai Lao) của chính quyền Dân Chủ sau này thì sẽ chỉ đem đến thất bại như ở Việt Nam mà thôi.

Vì cuộc chiến giữa các lực lượng quốc gia và cộng sản Việt Nam hãy còn tiếp diễn trên các mặt trận ngoại giao, văn hóa, kinh tế… và tuyên truyền nhằm đưa nước nhà thoát khỏi sự chậm tiến và tha hóa nên một thái độ không dứt khoát, nửa muốn giải thể chế độ hiện nay nửa lại muốn thỏa hiệp bằng hình thức này hay hình thuc khác sẽ chỉ đưa tới thất bại. Bởi vì Việt Cộng rất xảo quyệt và lật lọng thường dùng những chiêu bài liên hiệp trung lập, hòa giải, hòa hợp, hòa bình… để ru ngủ, chia rẽ rồi lũng đoạn làm suy yếu hàng ngũ quốc gia.

Vì cuộc chiến giữa khối cộng và thế giới tự do là môt cuộc chiến ý thức hệ, nó lại mang tính toàn cầu, cho nên nhiều người – trong đó đáng kể có Alexander I. Solzhenitsyn, Robert Strausz-Hupé (và 3 đồng tác giả cuốn Protracted Conflict, N.Y. 1959) và Max Eastman, người giới thiệu tác phẩm này – đã gọi đó là thế chiến ba. Và vì nó là một cuộc chiến toàn bộ mà cộng sản đã dùng nhiều hình thức tác chiến phi quân sự như xâm nhập, lũng đoạn, khuynh đảo hay bằng bầu cử gian lận, nhất là bằng tuyên truyên xảo trá, cho nên về phía thế giới tự do cũng phải kể tới những đóng góp đáng kể của những cây viết chống cộng nổi tiếng như Arthur Koestler, Kravchenko, André Gide, Louis Fisher, Ignazio Silone, George Orwell. v.v…

Ngày nay tại Việt Nam cuộc chiến vũ trang đã chấm dứt với sự thất trận của phe quốc gia, nhưng cuộc chiến phi vũ trang vẫn còn tiếp diễn mà tuyên truyền bằng thông tin đại chúng đang là trọng tâm. Thiết tưởng các nhà khoa bảng, văn nghệ sĩ, cũng nên góp sức với các đoàn thể đấu tranh bằng những tác phẩm văn học hay nghiên cứu cẩn trọng của mình như các cây viết chống cộng quốc tế nêu trên.

Nếu chúng ta bị ảnh hường của tuyên truyền cộng sản hay bởi các luận điệu của các sử gia và nhà báo thiên tả thế giới mà trình bày về cuộc chiến trước theo quan niệm của họ, thì mặc nhiên tiếp tay cho kẻ thù. Và như thế phe quốc gia sẽ vĩnh viễn là kẻ chiến bại trước lịch sử, cho dù trong một tương lai gần hay rất xa một chế độ gọi là dân chủ đa nguyên có được thành lập đi chăng nữa. Vì lúc đó kẻ lãnh đạo, kẻ chiếm số đông vẫn là các cựu cán bộ, đảng viên cộng sản, và họ sẽ không thoát được ảnh hưởng của một chủ nghĩa đã phá sản.

Vì vây chúng tôi đề nghị giáo sư Lê Xuân Khoa hãy rút lại lời khẳng định vội vã của ông ở phần nhập đê bài báo nói trên. Bằng không cũng mong ông cho ít hàng giải thích lập luận của ông.

minhvo_sign
Nam Cali 25-02-05

Chú thích:

Trong:

– chương 27, Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê,
– chương 27 (tổng kết, Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư,
– các chương “Cây Biết Đi Và Mặt Trời Xoay Quanh Trái Đất“,”Orchestration“, “Agit-Prop” cuốn Ai giết Hồ Chí Minh?,
– chương 9 phần I và toàn bộ phần 3 của Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp, gồm 10 chương (250 trang),

chúng tôi đã trình bày chi tiết về cuộc chiến ý thực hệ cộng sản và vai trò cùa Hồ Chí Minh chuyên gia số một thế giới về tuyên truyền cộng sản. Nếu muốn đi sâu vào chiến lược, sách lược của cuộc chiến ý thức hệ CS thì nên tìm đọc cuốn Sách Lược Xâm Lãng của Cộng Sản do tác giả xuất bản năm 1963 tại Sàigòn, tái bản lần thứ nhất tại Saigon, 1970, tái bản lần thứ 2 tại Nam Cali năm 2007.

<—Trở về Mục Lục
—>6.Trở lại danh xưng “chiến tranh Việt-Pháp” ;

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, MINH VÕ: Tâm Sự Nước Non. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s