25 THÁNG CHẠP (Lưu Nghi)

25 THÁNG CHẠP
(trích: tập truyện ngắn HAI MƯƠI NHÀ VĂN, HAI MƯƠI TRUYỆN NGẮN – Phù Sa 1962)

Kính tặng những người Phố Hội

Nói rằng lão cười thì không đúng. Mà nói rằng lão khóc, thì cũng chẳng đúng chút nào. Mặt lão nhăn rúm như mảnh giấy nhàu nát ; nhưng giữa cái nhàu nát vụn vặt ấy, đôi môi dày của lão hé mở nhếch về một bên có vẻ kiêu kỳ, ngạo mạn và dù bị lé mất một con, đôi mắt lão vẫn sáng long lanh, ươn ướt.

Lão buồn hay lão vui, thực chẳng ai muốn bận tâm đến. Cái buồn cái vui của lão không làm ai xao xuyến, băn khoăn cả. Có lẽ vì lão xấu trai quá chừng. Mà cũng có lẽ nghề nghiệp của lão, của cả gia đình nhà lão, không mấy khi cho phép lão ung dung nhìn thiên hạ trên đường phố, hoặc trái lại, để thiên hạ có dịp suy gẫm về tâm tư của lão.

Người ta gọi lão là lão Sóc. Vợ lão là mụ Sóc. Con lão là thằng Sóc. Và cả một bầy trẻ nheo nhóc tiếp theo, người ta cũng gọi chung là bầy con lão Sóc. Giữa cái đô thị nhỏ hẹp này, ai cũng biết lão và gia đình nhà lão. Nhưng cũng chỉ biết đại khái thế thôi.

*

Chiều mùa đông xuống mau, vây bủa một màu chì tang tóc.

Lão Sóc ngồi một mình trên chiếc ghế đá công cộng cũ kỹ, đặt trên bờ sông, nhìn trời, nước mông lung. Lão nhìn trời vì mây dày và đục quá; gần nửa tháng rồi mà chẳng thấy mặt trời. Lão nhìn nước, vì nước nguồn cứ chảy xuôi dòng, vàng ngầu và lạnh buốt. Trời như thế, nước như thế, làm ăn gì được! Lão thở nhè nhẹ, không phải vì chán nản, cũng không phải vì bực mình. Chiều nay lão cảm thấy buồn buồn, thoáng gợn lên một chút chua xót trong lòng,

Giữa bữa cơm chiều đạm bạc trong khoang thuyền của lão, vợ lão có nhắc đến chuyện cưới vợ cho đứa con lớn là thằng Sóc, tháng giêng sắp đến. Ăn xong, lão im lặng quấn một điếu thuốc rê thật lớn, châm lửa rồi lên bờ đi thẳng đến ngồi trên chiếc ghế đá nầy. Lão hút tàn điếu thuốc thì chiều xuống. Đêm và ngày giao tiếp không môi giới hoàng hôn. Trong phút chốc, mặt sông trở màu xanh đậm rồi tối mờ mờ. Cả vạn ghe đỏ lửa lúc nào không biết, mà lão thấy ánh đèn dầu vàng đục vẽ ngoằn ngoèo, nát từng mảnh vụn trên dòng sông. Chuyện cưới vợ cho đứa con lớn là thằng Sóc, nhắc lại trong ngày gần cuối năm, chính lão cũng không ngờ lại làm cho lão bận tâm đến thế.

Thằng Sóc, đứa con đầu của lão, đã hăm mốt hăm hai tuổi. Hắn cao lớn mạnh khỏe như lão. Người ta nói hắn «nhổ giò». Chính hắn đã giúp lão đắc lực trong nghề vớt cát đổ bán cho thiên hạ làm nhà. Nghề nầy đã nuôi sống gần trọn đời lão và cả gia đình nhà lão. Đất cát là của trời ; huống nữa đây là đất cát dưới lòng sông. Nghề của lão không cần vốn liếng, nhưng cần sức mạnh. Qua mấy mươi năm lặn hụp, còng lưng đẩy bao nhiêu là xe cát qua đường phố, sức lực của lão có suy giảm ít nhiều. Vừa lúc thằng Sóc lớn khôn, «ông, bà» lại phò hộ cho hắn mạnh khoẻ. Không có hắn, lão cũng đến thêm vất vả. Mặc dầu bổn phận hắn làm con thì phải giúp cha giúp mẹ, lão Sóc vẫn ghi nhớ công ăn việc làm khó nhọc của hắn.

Cách đây không bao lâu, vạn ghe xóm Chùa Cầu đồn rằng thằng sóc trai gái với con Nuôi. Con Nuôi chẳng phải ai xa lạ ; chính là đứa con gái mà lão Sóc thuê đẩy xe cát thường ngày. Mặt mày con Nuôi coi cũng ngồ ngộ, tánh nó lại dễ thương. Nên lão Sóc nghe người ta đồn mà không lấy gì làm khó chịu. Lão có dò la cho rõ đầu đuôi ; rồi lão làm thinh ; mãi đến khi chuyên trai gái giữa con Nuôi và thằng Sóc không còn giấu ai được nữa, thằng Sóc mới thưa cha mẹ xin cưới con Nuôi làm vợ.

Chiều nay,lão Sóc nhớ lại từ đầu chí cuối, mỉm cười khi nhớ lời thằng Sóc nói với vợ chồng lão :

– Thưa cha với mẹ, tôi muốn dựng gia đình.

Đối với lão nói như thế là lối tân thời. Tuy vậy lão không phản đối; lão thấy «đời bây giờ» không còn như thời trước nữa; thời ấy, lão cưới vợ mà không hề biết trước mặt mũi người vợ như thế nào. Ừ, cha mẹ bảo cưới thì lão cưới, chuyện tầm thường, bình dị như đi mua cái áo chẳng hạn. Nói chi đến chuyện thương yêu. Nhưng rồi vợ chồng lão Sóc vẫn chung sống như mọi gia đình khác. Cũng làm, cũng ăn, cũng sinh con đẻ cái. Chiếc thuyền con bập bềnh trên mặt nước kia, vừa là cái ghe nghề để vớt cát, mà cũng là mái nhà trôi nổi đã che mưa nắng bốn mùa cho gia đình nhà lão. Từ hai năm nay, mái nhà trên mặt nước ấy có phần chật chội, vì vợ lão sinh năm một. Đến nay mụ Sóc lại bụng mang dạ chửa nữa. Mỗi khi đi vớt cát, lão đuổi cổ cả bầy con lên bờ tha hồ đùa nghịch. Tối đến lão lại lùa bầy con xuống thuyền như lùa bầy heo vào chuồng.

Thằng Sóc thì vác chiếu lên bờ ngủ lang ở đâu tùy ý. Thỉnh thoảng, hắn cao hứng ngủ vài đêm trong Chùa Cầu Nhật-Bổn. Hắn hay nói đùa : «Đêm nay, đi ngủ với bốn con khỉ Chùa Cầu chơi » (1). Nói rằng chơi, nhưng chính vì ngủ ở Chùa Cầu mà hắn có dịp tình tự với con Nuôi, để đến ngày hôm nay trở thành chuyện vợ chồng gần thật sự.

Tất cả những chuyện ấy lão Sóc đều biết cả. Có lẽ vì lão thương con ; mà có lẽ lão cũng muốn con Nuôi với thằng Sóc chóng thành vợ thành chồng ; như thế lão có thêm một nhân lực trong nghề vớt cát của lão. Rồi đây khi vợ chồng lão già nua, vợ chồng thằng Sóc sẽ nối nghiệp xúc cát dưới lòng sông, bán cho thiên hạ làm nhà. Thiên hạ còn làm nhà, lão còn vớt cát, con, dâu lão còn vớt cát. Cái nghề không vốn ấy thế mà lương thiện, cũng đủ nuôi sống cả gia đình lão năm nầy qua năm nọ.

Thằng Sóc xin lão làm lễ cưới trong tháng giêng sắp tới. Hắn nói rằng mùa Xuân là mùa tốt đẹp. Theo lão, đó cũng là lối nói tân thời. Lão đã nghe quen rồi nên thản nhiên, và thuận ý dễ dàng với thằng óc. Nhưng có điều làm cho lão lo nghĩ và băn khoăn nhiều vì thằng Sóc tỏ ý xin làm nhà. Một căn nhà nho nhỏ thôi, để vợ chồng hắn có chỗ chui ra chui vào. Lão hỏi hắn :

– Bộ mi muốn bỏ cái nghề của tau rồi hả?

Hắn trả lời :

– Dạ không. Ở trên bờ, nhưng vợ chồng tui cứ xúc cát với cha.

Lão lại giải thích :

– Tau tính cố sắm cho mi một chiếc ghe nhỏ, vợ chồng mi sống, mà lại thêm cái ghe nghề. Sau nầy tau với mẹ mi có trăm tuổi thì vợ chồng mi quen thuộc công ăn việc làm, nối nghiệp cho tau. Chớ làm cái nhà trên bờ, thì…

Tự nhiên, lão không biết nói thế nào cho phải lẽ. Lão ngập ngừng một hồi lâu. Thằng Sóc lại trả lời :

– Tui thì tui nghĩ nên làm nhà nho nhỏ trên bờ, sau nầy cha mẹ già yếu, cũng có chỗ tránh nắng mưa. Chứ già cả đau yếu mà sống dưới ghe như ri, không tiện.

Chiều nay, nhắc đến đám cưới thằng Sóc, câu chuyện làm nhà cùng lời lẽ của hắn trở lại trong đầu óc lão. Lão nghĩ rằng :“thằng Sóc nói cũng có lý, mà lòng hắn có hiếu thảo với cha mẹ nên mới tính như rứa”.

Nhưng, lão bỗng cảm thấy bực dọc khó chịu. Lão đưa tay gãi sau ót mấy cái, thở một hơi nhẹ, chép miệng rồi đứng dậy. Lão đi chậm rãi về hướng chùa Quảng-Triệu ; đến ngã ba đường trước cửa chùa, lão ngập ngừng một chút không biết nên đi xuống hay đi lên, tựa như cái hướng đi lúc nầy quan hệ đến sự bực dọc của lão nhiều lắm. Sau cùng, lão Sóc đi lên, có lẽ lão vừa nghĩ nên đi ngang qua nhà ông Hoàng thầu khoán, biết đâu người ta gọi giật lão lại bảo lão đổ năm ba xe cát làm nhà. Lão đi thật chậm và mé sát vào vỉa hè. Nhà ông thầu khoán sáng đèn như mọi bữa. Nhưng, liếc nhìn qua chiếc bình phong đặt trước bộ xa-lông, lão chẳng thấy ma nào cả. Trong nhà vắng tanh. Lão đưa tay lại gãi sau ót thêm mấy cái nữa, rồi đi thẳng vào Chùa Cầu.

Lão ngồi chồm hổm, bên một cây cột, nhìn người qua kẻ lại, nhìn xuống nhìn lên dọc con đường phố cong queo, hẹp như một ngõ hẻm. Lão quấn một điếu thuốc thứ hai, chưa biết xin ai một chút lửa. Lão chợt nhìn thấy mấy chấm lửa thật nhỏ trong góc cầu, lão nói một mình : «À, có đây rồi.» Đây là mấy cây hương mà ông từ giữ chùa, đêm nào cũng cắm trước tượng mấy con khỉ. Châm lửa xong, lão mở lớn đôi mắt lé nhìn kỹ vào cái tượng khỉ. Lão nhớ lời nói đùa của thằng Sóc:

– Đêm nay, đi ngủ với bốn con khỉ Chùa Cầu chơi.

Lão quay lại chỗ cũ, cũng ngồi chồm hổm, đưa hai cánh tay dài thòng thượt ra đằng trước. Lão trách thầm: «Cũng tại mấy con khỉ Chùa Cầu nầy mà có chuyện thằng Sóc với con Nuôi; có chuyện thằng Sóc với con Nuôi mới có chuyện xin làm nhà ; và có chuyện xin làm nhà mới có chuyện xích mích lộn xộn giữa lão và vợ lão ». Sự bực dọc lại rộn ràng trong lòng lão.

Lão Sóc chợt nghe một câu hát ru em đưa lên từ bóng tối dưới cầu :


– À ơ…ấy ai dắt mối tơ mành… à ơ
Cho thuyền quen bến, à ơ… cho anh quen nàng à ơ…

Tiếng hát trong thanh, cao vút, lan dài trong bóng tối bỗng dưng khua động không gian và khua động cả lòng lão Sóc. Lão nhận ra ngay đó là giọng hát của con Nuôi, đứa con gái nay mai sẽ về làm dâu nhà lão. Lão lại nghĩ thầm : “Con nhỏ lo làm ăn, mà hát lại hay như rứa, hèn chi thằng Sóc không thương. Thằng Sóc thương con Nuôi là phải..» Tiếng khóc của thằng con nít dội lên ngằn ngặt làm giáo đoạn ý nghĩ của lão. Tiếng hát của con Nuôi lại nối tiếp :

– À ơ. . . Tơ tằm đã vấn, à ơ… thì vương,
Đã trót dan díu, à ơ… thì thương nhau cùng, à ơ …

Lão Sóc chưa kịp nghĩ gì thêm thì một tiếng gọi lớn làm cho lão muốn giật mình. Đó là tiếng thằng Sóc :

– Nuôi ơi! Nói chuyện chút nè.

Tiếng con Nuôi trả lời :

– Anh đợi chút, thằng Cu cứ rục rịch hoài, chưa chịu ngủ. Đợi chút, hay anh xuống đây.

Thằng Sóc hỏi:

– Dì Năm dâu?

Con Nuôi trả lời :

– Dì Năm ra Xóm Mới đòi tiền rồi.

Tiếp theo là tiếng chân đổ xuống cái dốc ngắn, có tiếng nước khua rộn ràng, vỗ bì bạch vào be thuyền.

Lão Sóc nghe rõ mồn một từ lời nói đến những tiếng động. Chỉ là sự tình cờ. Mà lão cũng muốn lợi dụng sự tình cờ đó để hiểu thêm một chút về chuyện tình giữa con Nuôi và đứa con của lão. Tự nhiên lão thở nhẹ hơn, se sẻ đập con muỗi vừa sà vào trán lão, và cố hết sức lắng tai nghe câu chuyện dưới chân cầu.

Thằng Sóc nói :

– Hồi chiều, mẹ có nhắc tới đám cưới hai đứa mình.

Con Nuôi chưa kịp nói gì thì thằng Cu nổi lên khóc. Con Nuôi lại vừa dỗ, vừa ru :

-À ơ. . . bao giờ cho chuối có cành, à ơ.. .
Cho sung có nụ, à ơ… cho hành có hoa, à ơ…

Hát xong, con Nuôi hỏi tiếp:

– Cha có nói răng không ?

– Cha làm thinh. Chắc không có chi rắc rối. Còn chuyện làm nhà….

Con Nuôi bỗng ngắt lời:

– Thôi, tui không muốn nghe chuyện đó nữa.

– Chưa chi mà em đã thối chí…

Con Nuôi càu nhàu :

– Chưa chi… chưa chi mà mẹ anh đã nói tui xúi dục anh làm nhà làm cửa, ăn ở theo nhà giàu. Chuyện làm nhà là tự ý anh muốn, chớ tui dục anh hồi nào, mà «bã» nói rứa ?

Thằng Sóc chép miệng mấy lần, im lặng một lát mới trả lời:

– Chà, bã nói gì thì nói, em không có thì thôi. Chuyện đó để tui lo cho. Có chuyện chi tui chịu hết. Cha tui thì có ý bằng lòng rồi, nhưng hơi ngặt…

Thằng Sóc ngập ngừng một hồi lâu ; mãi đến khi con Nuôi hỏi:

– Ngặt cái chi ?

Hắn mới nói rõ:

– Ngặt là cha không có tiền mặt cho hai đứa mình. Phải bán mấy lượng vàng mới đủ mua thứ nầy thứ nọ. Mà vàng thì mẹ tui cất. Bã quen giữ của, nên không muốn bán đi làm việc khác. Bã cứ nói đó là mồ hôi nước mắt, ăn mắm mút giòi mới dành dụm được.. .

Lão Sóc đã ngồi qua gần cái cột bên kia để nghe cho rõ. Ngồi đấy, nhìn qua kẽ hở ván cầu, lão còn thấy được cả thằng Sóc ngồi sau lái chiếc ghe nhỏ, quay mặt vào trong khoang mà nói chuyện với con Nuôi. Một lát sau, ý chừng thằng Cu đã ngủ say, con Nuôi lết ra phía ngoài một chút. Lão Sóc trông rõ cả hai đứa ngồi gần nhau, trong ánh đèn dầu vàng vọt.

Thằng Sóc phà khỏi thuốc trắng mờ mờ. Còn con Nuôi thì ngồi khoanh tay rế, có vẻ buồn buồn. Trước cảnh ấy, nghe hai đứa tính chuyện trăm năm, lão Sóc cảm thấy thương thương, tội tội, nhất là khi nghe thằng Sóc nói rằng:

– Tui muốn làm cái nhà, chừ thì hai đứa mình ở, nhưng sau ni cha mẹ già yếu, cũng có chỗ dưỡng thân cho ấm. Chứ thiệt tình, hai đứa mình thương nhau, ở giữa trời cũng được. Tui cũng biết lòng của em lắm ; mấy bà già thì hay tiếc của, với lại hay rào đón đủ diều. Em thương tui thì bỏ qua, để chuyện đó tui lo.

Con Nuôi làm thinh, khom lưng thổi lửa. Ngọn lửa chợt bừng lên, bập bùng soi sáng cả mặt nước đục ngầu. Con Nuôi vuốt tóc nói nhỏ :

– Ừ, anh muốn thì anh lo. Tui cũng biết. Nhưng tui chỉ sợ mang tiếng xúi dục anh, rồi sinh ra ác cảm trong gia đình.

Thằng Sóc lê mình đến gần con Nuôi một chút, nắm bàn tay con Nuôi kéo nhè nhẹ, vừa nói dịu dàng :

– Không có chi đâu. Em đừng nghĩ bậy bạ.

Con Nuôi thu tay lại, quay mặt vào trong, nói làu nhàu :

– Kỳ quá anh…

Rồi nó rót nước cho thằng Sóc uống.

Lão Sóc thấy hai đứa nhìn nhau yên lặng, qua khói trắng vương vương bốc lên từ bát nước nóng bỏng. Lão nhẹ nhàng quay mình chậm rãi đi trở xuống chùa Quảng-Triệu. Lão nghĩ đến mụ Sóc, giờ này chắc đã ngủ mê man, lận trong lưng mấy lượng vàng. Chính vì mấy lượng vàng ấy mà chiều nay lão phải bận tâm bận trí nhiều quá. Lão lại bực dọc : “có mấy lượng vàng mà giữ bo bo như mọi giữ của. Giữ của mà không biết thương con. Thiệt là…»

Ra đến bờ sông, nghe tiếng máy phóng thanh làm vang dội một điệu nhạc rộn ràng, lão mới sực nhớ đêm nay lão vừa lỡ một dịp đi xem xi-nê đại hạ giá ở rạp Hòa-Bình. Nghe nói chiếu phim “Tình nghĩa vợ chồng”, phim Nhật-Bổn nói tiếng Việt-Nam, mà thiên hạ đồn là hay lắm, hay lắm.

*

Trong lúc ấy, mụ Sóc ngủ say sưa, mang cái bụng to tướng, như con heo mẹ ngủ giữa đàn heo con. Và quả mụ Sóc có lận trong lưng mấy lượng vàng thật. Đúng như lời thằng Sóc đã nói với con Nuôi, chút của ấy là do mồ hôi, nước mắt, do công ăn việc làm khó nhọc của vợ chồng mụ mà có. Mụ giữ bo bo như mọi giữ của, kính cẩn và thận trọng như gia bảo thuộc về hương hỏa, thật chẳng có gì đáng trách.

Mụ Sóc thỉnh thoảng có nhắc lại cái thời vợ chồng mụ mới có năm đứa con, lão Sóc bê tha không nói được. Tự nhiên, lão đổi tâm đổi tánh. Từ nhỏ đến lớn, chưa biết uống rượu, lão cũng cố uống cho kỳ được ; uống xong, mặt đỏ gay như gà cắt tiết, nói xàm, nói tục, chửi bới tứ tung, đánh đập cả vợ lẫn con. Có người nói thẳng với mụ rằng :

– Tử tế thì ở, không tử tế thì thôi. Chớ vợ vợ chồng chồng cái chi mà đánh chửi tối ngày, làm răng chịu được ?

Ý giả, người ta muốn bảo mụ bỏ lão Sóc cho đỡ khổ tấm thân. Nhưng mụ nghĩ: đã ăn ở với nhau năm sáu mặt con, một ngày hai ngày cũng là tình nghĩa, bỏ nhau răng cho đành. Mụ Sóc cố tin rằng số kiếp của mụ như thế thì mụ ráng chịu, mong đợi và hy vọng một ngày nào đó lão Sóc hồi tĩnh, lo lắng gia đình thương vợ thương con như kẻ khác.

May quá, cái ngày mụ mong đợi chóng đến hơn mụ tưởng. Không những lão Sóc bớt uống rượu, bớt đánh đập chửi mắng mụ và lũ con, gia đình nhà mụ lại làm ăn thêm khá giả. Sau này, mụ mới hiểu rằng thực ra, lão Sóc không phải người hư hèn gì, sở dĩ thời kỳ đó lão cáu kỉnh, cọc cằn mè nheo khó chịu là vì gia đình túng quẫn quá. Túng quẫn đâm ra làm bẩn con người. Đến khi bĩ cực thái lai, công ăn việc làm có bề khá giả, tự nhiên tâm tánh của lão Sóc thuần thục lại. Rồi từ đấy, lão trở nên dễ dãi với mụ Sóc đủ điều. Lão biết nhịn vợ mỗi khi hai vợ chồng bất đồng ý kiến bất cứ về một việc gì. Làm được bao nhiêu tiền, lão giao cho mụ Sóc giữ gìn, dành dụm. Trong mấy năm sau nầy thỉnh thoảng, cũng có to tiếng cãi cọ với nhau một đôi lần, nhưng chẳng có chuyện gì đáng cho là quan trọng. Gia đình lão vẫn thuận hòa êm ấm. Mãi đến bây giờ, giữa vợ chồng lão mới xảy ra một sự xích mích dùng dằng cả mấy tháng rồi mà chưa thu xếp yên ổn. Đó là chuyện làm nhà cho thằng Sóc cưới vợ.

Xét cho kỹ, không phải mụ Sóc không biết thương con hay vì mấy lượng vàng mà để kéo dài không khí bất hòa trong gia đình nhà mụ. Lời nói của thằng Sóc cho mụ thấy được lòng hiếu thảo của đứa con ; mụ còn thấy trước cái cảnh êm ấm trong một căn nhà, dù nhỏ, để cưới vợ cho đứa con đầu lòng, là cả một vinh dự cho gia đình nhà mụ. Điều ấy, chứng tỏ rằng vợ chồng mụ làm ăn nên nổi, lại biết gầy dựng cho con cái, mụ cũng mở mày mở mặt đối với mọi người, giữa cái đô thị nhỏ bé nầy. Mụ biết tất cả những điều ấy, những điều mà chính thâm tâm mụ cũng thầm mong muốn.

Nhưng, mỗi khi lão Sóc hay thằng Sóc nói đến chuyện làm nhà, thì nhất định mụ không chịu nghe theo. Mụ nói với lão Sóc như thế nầy :

– Ông tưởng tui không muốn mở mày mở mặt với thiên hạ hả ? Nhưng, làm cái nhà ra đâu phải chỉ có hai vợ chồng thằng Sóc ở. . .

Ban đầu, lão Sóc ngạc nhiên :

– Ủa, thì có hai đứa hắn chứ còn ai ở nữa ? Bà muốn ở thì lên ở chung với vợ chồng hắn cho vui cửa vui nhà. Còn tui, tui ở dưới ghe này cho.

Mụ Sóc đâm cáu kỉnh. Ý của mụ không phải như thế. Ý mụ muốn nói thế nầy :

– Còn bà con, dòng họ con Nuôi nữa, chớ đâu phải mình hai đứa hắn. Nai lưng ra làm, dành dụm được ít nhiều rồi đem làm nhà cho thiên hạ ở phải không? Tui không làm chuyện dại nớ.

Lúc bấy giờ lão Sóc mới hiểu rõ rằng mụ Sóc ám chỉ bà Năm, dì của con Nuôi. Dần dần, lão hiểu thêm rằng vợ lão nhất quyết cho là chính bà Năm xúi dục con Nuôi, rồi con Nuôi xúi dục thằng Sóc làm nhà, để dì cháu ở chung, cho sung sướng tấm thân. Lão Sóc bực mình vì sự nghi kỵ của mụ Sóc. Lão đã giải thích năm ba lần:

– Bà Năm đâu có phải bà con ruột thịt chi với con Nuôi mà tính toán như rứa. Còn như mụ với tui mà không bằng lòng thì bà Năm đâu có đến đó ở được ? Mụ cứ nghĩ cho xa, mệt quá.

Mụ Sóc cũng dư biết như thiên hạ rằng con Nuôi mồ côi cha mẹ, bà Năm là bạn hồi xưa của mẹ nó, nên đem nó về nuôi. Mấy năm gần đây, bà Năm cứ đau yếu mãi, nên trái lại, con Nuôi phải làm lụng, nuôi dưỡng bà Năm. Dì dì, cháu cháu, nhưng thiệt tình chỉ là chút nhân tình, ân nghĩa làm chung đụng hai cuộc đời cô độc . Vì cái lẽ đó nên mụ Sóc không yên tâm, cứ nghĩ rằng chắc bà Năm làm «quân sư» bày mưu đặt mẹo cho con Nuôi xúi dục thằng Sóc.

Sự nghi ky của mụ Sóc chẳng căn cứ vào đâu cả. Nhưng, khi đàn bà, nhất là đàn bà như mụ Sóc, đã có thành kiến đối với một người đàn bà khác, thật là khó bề lay chuyển. Lão Sóc khó nghĩ quá. Không lẽ làm ra chuyện ồn ào, thiên hạ chê cười. Còn không lẽ cứ làm thinh, rình rình ăn cắp quách mấy lượng vàng. Lẽ nào coi ra cũng không tiện.

Đêm nay, tình cờ bắt gặp câu chuyện ân tình, tính việc trăm năm giữa con Nuôi và thằng Sóc, lão Sóc đếm nhẩm trên đầu ngón tay, tính ra còn chừng hai mươi ngày nữa là hết năm. Ăn Tết rồi, cũng còn chừng hăm lăm hăm sáu ngày là đến đám cưới thằng Sóc. Lão ngồi chồm hổm trên bờ sông, suy đi nghĩ lại mãi, mà chưa biết làm thế nào nói cho mụ Sóc nghe lọt lỗ tai, lòi mấy lượng ra cho yên việc. Đồng hồ nhà ai trong dãy phố bỗng khua rộn một hồi chuông, để rơi từng tiếng một ngân ngân qua cảnh đêm tịch mịch. Lão Sóc chép miệng, nghĩ đến ngày hết Tết tới…. Nếu mụ Sóc ưng thuận.. . Vừa về nhà mới mà vừa đám cưới cho con, thiệt là vui biết mấy. . . À, mà lại còn có nơi có chốn cho mụ Sóc sanh đẻ tử tế hơn mấy năm trước …

Nghĩ đến đấy, lão Sóc cảm thấy khoan khoái hẳn lên. Lão vừa tìm được một lý lẽ để thuyết phục vợ lão, cái lý lẽ này, chắc là phải được. Lão vươn mình đứng thẳng dậy, bước mau xuống chiếc ghe của lão. Lão bước hơi mạnh, làm chiếc ghe chòng chành, nghiêng lệch quá nhiều. Tiếng nước vỗ bì bạch bên be ghe làm mụ Sóc giật mình tỉnh giấc. Mụ hỏi :

– Ai đó?

Lão Sóc ho một tiếng ngắn, nói mau :

– Tui đây nè, mụ dậy tui nói chuyện ni chút.

Giọng mụ Sóc ngái ngủ :

– Chuyện chi mà nói chừ chứ ?

Lão Sóc dục :

– Thì cứ dậy, nói cho mà nghe.

Nhưng mụ Sóc cằn nhằn:

– Chuyện chi thì cứ nói đi, tui nghe đây. Tui mà rục rịch thì con Be, thằng Tứ khóc rân lên liền liền.

Con Be, thằng Tứ mà khóc lên thì lâu nín lắm: lão Sóc vẫn sợ tính khóc dai của chúng nó ; huống nữa trong lúc này, lão không muốn bỏ lỡ một dịp tốt, may ra thuyết phục được mụ vợ. Lão nói chẫm rãi :

– Hồi chiều, mình có nhắc tới đám cưới thằng Sóc, tui nghĩ chẳng có chi trở ngại. Còn về chuyện làm nhà như mình không làm cho hắn, chắc hắn không dám nói chi. Nhưng, tui nghĩ cũng tội, hắn lo làm lo ăn, có công khó với vợ chồng mình mấy năm ni rồi. Tui nghĩ muốn làm cho toại cái ý nguyện của hắn. Còn về phần vợ chồng mình, chuyện ngày sau có chỗ dưỡng lão thì chưa cần nói tới, nhưng, vài ba tháng nữa đây, mình sanh đẻ, cũng có nơi nằm tử tế hơn mấy năm trước. Chớ nằm dưới ghe dưới thuyền như ri thiệt là bất đắc dĩ, chứ gió máy nhiều bất tiện lắm.

Lão Sóc nói chẫm rãi, cố gợi sự xúc động trong lòng mụ Sóc, nhất là chuyện sanh đẻ gân đây của mụ. Lão tin rằng lần nầy gãi trúng chỗ ngứa, chắc mụ Sóc xiêu lòng.

Nói xong, lão chờ đợi. Trong khoang thuyền tối om, lão chỉ thấy lờ mờ những hình ảnh người lớn có, nhỏ có chen chúc nhau ngang dọc. Tiếng ngáy của mấy đứa con lão vang lên đều đều … Không nghe mụ Sóc trả lời. Lão không vội bực mình. Lão chỉ kiên nhẫn chờ thêm một lát nữa. Lão hy vọng rằng thời gian kéo dài trong cảnh đêm khuya tịch mịch may ra làm cho lời của lão thấm sâu vào óc, vào lòng mụ Sóc. Lão tự nhủ : “Chắc mụ Sóc đang suy nghĩ, và thế nào cũng thấy cái lẽ phải có lợi cho mụ trước nhất”. Đột nhiên giọng nói của mụ Sóc buông xuôi một cách nặng nhọc :

– Chớ mấy năm ni, tui sanh đẻ ở đâu ? Cũng trong cái khoang ghe ni, mà có hề chi mô nè. Trời sanh, trời dưỡng. Lo làm chi cho mệt. Thôi, đi ngủ đi ông. Khuya hung rồi. Không biết cớ chi mà tui cứ chóng mặt từ hồi tối đến chừ. . . Sáng mai hãy hay.

Lão Sóc thở một hơi dài, đưa tay gãi sau ót mấy cái thật mau. Rồi lão ngẩng mặt nhìn trời. Nền trời vẫn âm u mây dầy và đục. Im và buồn lạ.

*

Hai ngày rồi ba ngày sau, lão Sóc không có dịp nhắc lại chuyện làm nhà với mụ Sóc. Vì lão có mối đổ cát cho thiên hạ làm hầm vệ sinh. Và cũng vì mụ Sóc sổ mũi, đau đầu, nóng hâm hấp cả ngày, đêm.

Mỗi khi đi xúc cát lão cũng tống cổ bầy con lên bờ mặc sức chơi nhảy nhưng ghe đi làm nghề mà vẫn chở theo mụ Sóc nằm một khoảng nhỏ trong khoang. Thật là bất tiện và bận bịu quá. Nhưng không nằm đấy thì nằm đâu bây giờ? Nếu mụ Sóc không đến nỗi mê mê chắc lão đã thừa cơ hội nầy mà tấn công mụ về chuyện làm nhà. Lão làm việc hơi mệt. Mấy hôm nay con Nuôi không đến, nghe đâu bà Năm cũng bệnh hoạn. Lão cũng không muốn cãi cọ xao lãng sự làm ăn không nỡ mè nheo mụ Sóc trong lúc ốm đau.

Lão Sóc làm thinh, nhưng ngay khi đẩy xe cát qua phố chợ, lòng lão cứ bồn chồn. Gần rằm tháng chạp rồi … Loay hoay là tới đưa ông Táo. . . Loay hoay nữa là hết năm. Ngày tháng như quấn quít dưới bánh xe chở cát và cả dưới bàn chân của lão.

Đến ngày thứ tư, mụ Sóc đã ngồi dậy được, húp năm ba muỗng cháo đặc với chút nước mắm kho tiêu. Lão Sóc định bụng nói lại chuyện làm nhà một lần nữa, sau bữa cơm chiều hôm ấy.

Trăng mười bốn mà chẳng sáng tỏ chút nào. Nền trời xanh có hé ra đôi chỗ, nhưng mây dày vẫn còn bao phủ lừng dừng, chưa chịu bay đi phương khác. Lão Sóc hút tàn nửa điếu thuốc rê lớn mà chưa biết bắt đầu câu chuyện thế nào cho có lợi. Thằng Sóc ngồi ở mũi ghe, cột lại cái quai chèo. Mụ Sóc nằm trong khoang thuyền, co người lại trong cái mền xám cũ, trùm kín từ đầu đến chân, trông như bao gạo lưng lưng.

Bầy con đã lên bờ từ lâu, đang đuổi nhau, la hét giữa bãi cỏ đầu đường.

Ba người đều yên lặng không đến nỗi nặng nề ; nhưng hình như cả gia đình lão Sóc đang cùng nghĩ một câu chuyện, mà ai cũng thận trọng, e ngại gây thêm mối bất hòa sẵn có.

Sau cùng, lão Sóc tằng hắng một tiếng ngắn, như lấy giọng, rồi nói :

– Nè, mấy bữa ni mình đau.

Lão Sóc chợt ngừng lại. Vì lão vừa thấy ai như con Nuôi hớt ha hớt hãi chạy xuống từ phía chùa Quảng-Triệu. Mà chính con Nuôi thật. Hắn vừa chạy vừa quấn lại đuôi tóc, thở hồng hộc. Hắn chạy thẳng đến ghe lão Sóc vẻ mặt hắn hốt hoảng, tay chân hắn run run. Lão Sóc hỏi mau :

– Chuyện chi rứa, Nuôi ?

Con Nuôi trả lời ấp a ấp úng:

– Dạ dì Năm. . . răng mà dì Năm lạnh hết chân tay… Tui sợ quá. . .

Lão Sóc và thằng Sóc cùng nhảy lên bờ một lần. Mụ Sóc tốc mền ngồi dậy chồm mình ra phía ngoài khoang ghe. . . Lão Sóc nói với lại:

– Tui lên coi thử ra răng.

Rồi con Nuôi chạy trước, thằng Sóc chạy theo sau, lão Sóc sải thật mau từng bước dài theo hai đứa. Lũ con nhỏ của lão kêu «cha » ơi ớI, muốn bỏ dở cuộc chơi. Lão Sóc quát lớn :

– Ở đó. Thằng Sóc-em xuống ghe với mẹ mi. Chạy theo, tao đánh chết.

Lũ trẻ dừng lại ngơ ngác, như cả bầy ngỗng đực. Thằng Sóc-em không xuống ghe như lão Sốc đã bảo. Hắn quay lại, nói với lũ trẻ :

– Chừ «ve ve, trốn bắt» bây!

Cả bọn chạy ùa đến bãi cỏ, vừa reo lên : «ve ve, trốn bắt, ve ve, trốn bắt …»

Khuya hôm ấy, bà Năm, dì con Nuôi, tắt thở trong chiếc thuyền bé nhỏ, dưới Chùa Cầu Nhật-Bổn. Vì già yếu. Vì bệnh hoạn. Và, theo nhiều người khác, chắc vì trúng gió. Lão Sóc, thằng Sóc, con Nuôi và cả mụ Sóc đều tin như vậy.

*

Bà Năm chết, con Nuôi hưởng gia tài. Gia tài bà Năm để lại gồm có bẩy trăm đồng bạc mặt giấu kỹ dưới đáy rương, chiếc ghe nhỏ bé muốn hư nát và thằng Cu lên bốn tuổi. Con Nuôi đã là người dưng nước lã , thằng Cu kia cũng chẳng dính dấp đến ruột thịt của bà Năm một chút nào.

Người ta còn nhớ cách đây bốn năm, bà Năm nhặt được một mớ thịt người bỏ trong bụi rậm gần nhà Thờ Đạo, ngoài Xóm Mới. Mớ thịt người ấy là đứa hài nhi vô tội đáng lẽ đã bị kiến lửa cắn chết rồi, vì lòng dạ thú vật của một người đàn bà chửa hoang nào đó. Bà Năm không giàu có chi, nhưng «Ông Trời» đã cho bà gặp cái cảnh thương tâm ấy chẳng khác gì buộc bà phải làm một việc thiện. Bà thường nói với mọi người rằng hồi năm trước, ông thày Ba Chính (2) có bói cho bà một quẻ ; quẻ ấy dạy rằng đến năm ấy, tuổi ấy, gia đạo của bà sẽ gặp chuyện bất tường ; nếu không gặp chuyện bất tường thì bổn mạng của bà có thể lâm nguy, số mạng của bà đã như thế thì bà chịu như thế. Bà tin rằng đứa hài nhi này chính là điều bất tường mà «Ông Trời» đã cho bà bắt gặp để gánh vác dùm tai nạn cho bổn mạng của bà. Điều ấy không lấy gì làm chắc, nên dù có nghe, thiên hạ cũng để ngoài tai. Điều mà cả vạn ghe xóm Chùa Cầu biết rõ là bà Năm cố nuôi thằng bé lạc loài ấy để sau này, khi trái gió trở trời, có người lo chén cơm bát nước; và khi bà trăm, tuổi già, cũng có kẻ giữ cái lư hương khỏi lạnh.

Thằng Cu lên được hai tuổi thì bỗng dưng tấp đến cho bà một nhân mạng thứ hai là con Nuôi. Bà nhận lãnh vì chút thâm tình quen biết với mẹ con Nuôi, hồi trước. Vã cũng vì bà tin quẻ bói của ông thầy Ba Chính.

Không ngờ, nay bà Năm bỏ thằng Cu và con Nuôi lại trần gian mà đi sớm quá, chung quanh không một kẻ bà con ruột thịt. Ba con người, ba số kiếp sống. Cùng gặp rồi cùng chia tay nhau trong một cái khoang thuyền nhỏ hẹp. Cuộc chia ly không đến nỗi cô lạnh. Dù sao, cũng còn có một bàn tay nồng ấm vuốt trên khuôn mặt để cặp mắt của bà Nam nhắm kín lại.

Bảy trăm đồng bạc mặt đâu có chi nhiều. Cho là tạm đủ để chôn liệm một cuộc đời tứ cố vô thân.

Tống táng xong, con Nuôi chỉ còn lại hai bàn tay trắng, và cảm thấy có một sự nghiêng lệch, chòng chành trong cuộc đời của hắn. Tối tối, ru thằng Cu ngủ xong, hắn lặng thinh ngồi ngắm cái bàn thờ bà Năm, cái khoang ghe trống trải, suy nghĩ mông lung; rồi tự nhiên nước mắt cứ chảy tràn đôi gò má. Thế là thằng Sóc phải vỗ về, an ủi con Nuôi đủ lời, đủ cách.

Trong lúc ấy, vợ chồng lão Sóc cân nhắc lại cái đám cưới trong tháng giêng, sắp tới. Vợ chồng lão nghĩ rằng bà Năm vừa mới mất, mà nay làm lễ cưới cho con Nuôi, không biết có tiện hay không. Cưới thì thiên hạ có thể cho rằng vợ chồng lão là người không biết chuyện. Còn không cưới, thì phải chờ đợi ít nhất là một năm cho xao lãng cái cảnh ma chay, tống táng. Một năm, ba trăm sáu mươi lăm ngày. . . trai gái đã yêu thương nhau, đã làm lễ bỏ trầu cau (3), mà kéo dài ngày cưới, xét ra nhiều bất tiện. Một là có thể vì sự dèm pha của người ngoại cuộc, chúng nó thay đổi ý kiến bất ngờ thì hư việc. Còn như hai đứa quá khắn khít với nhau, nhất là con Nuôi ở một mình trong chiếc ghe dưới Chùa Cầu Nhật-Bổn. . . rủi ro mà chúng nó «lỡ dại» với nhau, chắc không khỏi tiếng đời khinh khi, mai mỉa. Vợ chồng lão Sóc không biết tính toán thế nào cho phải lẽ, nên đành dùng một mưu chước : mụ Sóc bắn tin đám cưới con Nuôi và thằng Sóc, rồi lão Sóc dò la dư luận trong vạn ghe. May quá, phần đông đều cho rằng: «Con Nuôi có bà con cật ruột chi với bà Năm đâu, có tang chế chi đâu mà kiêng cữ? Hai đứa thương nhau thì để chúng nó lập nên gia thất sớm ngày nào tốt ngày ấy. “Bỏ trầu cau” rồi thì coi như đã thành vợ thành chồng, trước sau rồi cũng cưới. Cưới sớm sớm cho bà con hàng xóm ăn miếng trầu, uống ly rượu cho vui ».

Vợ chồng lão Sóc yên tâm. Con Nuôi và thằng Sóc cũng vui vui trong bụng. Nhưng, thằng Sóc vẫn băn khoăn về chuyện làm nhà. Đưa ông Táo rồi mà hắn chưa nghe cha mẹ hắn nói chi cả. Thỉnh thoảng hắn thấy cha hắn nói chuyện thì thầm với mẹ hắn. Khi hắn đến gần, hai người lại nín thinh. Suốt mấy ngày liền, hắn suy nghĩ lung lắm. Đêm nào hắn cũng đến thăm con Nuôi, nói chuyện ngày Xuân, ngày Tết, nhưng hắn chưa dám đả động đến chuyện làm nhà, làm lễ cưới trên mặt đất.

Hăm lăm tháng chạp. Gia đình lão Sóc cũng cúng rước Phật (4) như mọi người. Đáng lẽ, trong bữa cơm chiều tất niên nầy có mặt cả con Nuôi. Nhưng, con Nuôi đau đầu nên không đến được. Thằng Sóc lùa qua loa vài chén cơm rồi vội vàng xách thức ăn, đi một mạch về phía Chùa Cầu. Vợ chồng lão Sóc chỉ nhìn nhau mỉm cười.

Ăn uống xong, lão Sóc lại quấn một điếu thuốc rê thật lớn, châm lửa rồi lên bờ như thường lệ. Lão chậm rãi đi thẳng lên chùa Quảng-Triệu. Đến ngã ba đường, lão ngập ngừng một chút. Lão đi quanh xuống phía dưới Chùa Cầu, lội nước bì bõm, rồi bước lên sau lái chiếc ghe nhỏ bé. Con Nuôi vội ngồi dậy, vừa vấn lại đuôi tóc, nói nhỏ :

– Thưa cha.

– Chớ đau răng đó ?

– Dạ nhức đầu sơ sơ thôi.

– Ăn uống chi chưa ?

Con Nuôi khẽ nhìn thằng Sóc, ngập ngừng. Thằng Sóc trả lời :

– Tui có nấu cho hắn miếng cháo. Hắn mới ăn xong, tui biểu hắn trùm mền cho đổ mồ hôi.

Lão Sóc gật đầu :

– Ừ, đổ mồ hôi được thì mau bớt.

Rồi ba người yên lặng. Chợt nghe tiếng bàn chân nặng nề đổ xuống dốc, tiếng nước khua rộn ràng, bì bạch đập vào be ghe. Mụ Sóc đột nhiên xuất hiện trước ánh đèn dầu vàng vọt

Lão Sóc, thằng Sóc, con Nuôi lặng thinh nhìn mụ. Mụ Sóc nói với lão Sóc :

– Ông về nói chuyện với ông Khá, trên Thanh-Hà (5) mới xuống về vụ mấy ngàn gạch.

Lão Sóc vội vã bước mau lên đường cái. Mụ Sóc nghiêng mặt vào trong khoang ghe, hỏi :

– Đau chi đó Nuôi ?

Con Nuôi lết ra phía ngoài một chút, trả lời :

– Dạ nhức đầu sơ sơ thôi.

Thằng Sóc chợt hỏi :

– Có ai dặn mua gạch đâu mà cha nhắn ông Khá xuống hở mẹ ?

Mụ Sóc mỉm cười :

– Mua gạch để ra giêng làm nhà cho hai đứa bây đó. Chớ có ai làm nhà cửa chi bữa ni nữa.

Rồi mụ lần từ túi áo ra một cái ve nhỏ xíu, đưa cho thằng Sóc:

– Nè, xức cho hắn chút dầu Nhị-Thiên-Đường, trùm mền lại cho kín, đổ mồ hôi nhiều thì mau bớt. Tau về đã nghe.

Mụ Sóc mang cái bụng chửa ì ạch lên cái dốc ngắn bên Chùa Cầu Nhật-Bổn. Lên đến mặt đường cái, mụ thở một hơi dài, rồi còn ngoái cổ xuống, dặn thêm :

– Biểu con Nuôi cữ gió cho kỹ, nghe. Gió máy độc địa lắm đó…

Trong khoang ghe nhỏ hẹp, con Nuôi và thằng Sóc nhìn nhau, đôi mắt sáng long lanh. Tưởng cả hai đứa đều muốn khóc.

– Em vô nằm cho khỏe.

Con Nuôi lết vào giữa khoang thuyền, nằm xuống bên thằng Cu đang ngủ say sưa.

Thằng Sóc kéo cái mền cũ đắp lên người con Nuôi, trùm kín cả mái tóc đổ xòa. Cái mền nhỏ quá không che hết thân mình, một cánh tay của con Nuôi bỏ xuôi trên mặt chiếu. Thằng Sóc nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay của con Nuôi. Yên lặng.

Một tràng pháo vọng đến từ một ngã đường nào xa lắm.

Nghe vui vui và rộn rộn trong lòng.

Chú thích:

(1) Tại Hội-An (Trung-Việt), có một cái cầu gỗ, bắt ngang một mương nước nhỏ. Ngay trên cầu là một cái chùa, cầu nầy do người Nhật-Bản xây dựng cách đây khoảng 300 năm, nên gọi là Chùa Cầu Nhật-Bản. Cầu làm từ năm Thân (tức là năm Khỉ), và xong năm Tuất (tức là năm con Chó), nên ở hai đầu cầu có đặt bốn cái tượng: hai tượng con khỉ và hai tượng con chó, đánh dấu khoảng thời gian làm cầu là 3 năm. Nhưng, người Hội-An quen gọi là bốn con khỉ Chùa Cầu (vì tượng chó không khác tượng khỉ cho lắm). Thành ngữ «Con khỉ Chùa Cầu» đến nay còn có nghĩa thông thường, đối với người Hội-An để mắng nhiếc hoặc châm biếm một người nào làm điều xấu hoặc có hình dáng kỳ dị.

(2) ông Thầy Ba Chính là một ông thầy bói rất quen thuộc tại Hội-An và được rất nhiều người tin lời bói toán.

(3) Lễ bỏ trầu cau là lễ hỏi.

(4) Trước ngày rước ông bà vào ngày 30 Tết, thường có lễ cúng rước Phật trước vào ngày 15 tháng chạp.

(5) Thanh-Hà là một làng cách Hội-An 3 cây số ngàn về hướng Tây, chuyên nghề nung gạch, ngói bán khắp tỉnh Quảng-Nam.

Lưu Nghi

This entry was posted in 4.Truyện ngắn, HAI MƯƠI NHÀ VĂN - HAI MUƠI TRUYỆN NGẮN (Nhiều tác giả). Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s