XÓM NHÀ TÔI (Tạ Tỵ)

NHỮNG NGÀY ĐẦU TRÊN ĐẤT MỸ

Tôi vào đất Mỹ, trong một sáng trời mưa vừa tạnh, sau chuyến bay dài từ Tokyo tới phi cảng Seattle. Từ trên phi cơ nhìn xuống, tôi cứ tưởng, máy bay hạ cánh tại một vùng đất nào đó, chưa phải đất Mỹ, vì quang cảnh một nước Mỹ giàu có, hùng mạnh với những tòa cao ốc chọc trời, những thác ánh sáng, tôi thường được thấy trên màn ảnh, không hiện diện trước tầm nhìn, mà bên dưới kia, khi chiếc phi cơ hạ dần cao độ, tôi chỉ thấy trải dài một mầu đất sét loang lổ với những doi đất thấp thoáng men theo bờ Thái Bình Dương lặng lờ, xanh ngắt. Khi chiếc Boeing 747 đã nằm dài trên phi đạo, như con quái vật không lồ và từ nó nhả ra một khối người mang đủ màu da, đi vào chiếc hành lang nối liền phi cảng với thân tàu. Tôi đặt bước chân thứ nhất vào nơi làm thủ tục nhập nội, mới biết chắc mình đã có mặt trên đất Mỹ, miền đất đã hơn mười năm dài chung vui, chung buồn với nước tôi. Ba mươi đồng bào tị nạn và tôi hiện diện trong một khung cảnh xa lạ, mặt mày ngơ ngác, giống như nét mặt của những con người vừa trải qua cơn ác mộng cực kỳ kinh hãi.

Tôi đảo mắt nhìn xung quanh, toàn thể như toát ra cái gì lạnh lùng, lạnh từ nền gạch lạnh đi, cho tới dãy hành lang im vắng. Những chiếc thang máy sáng loáng tự động lên xuống không ngừng, dù chẳng có ai đặt chân lên đó. Không một hạt bụi vương trên mặt bàn, nệm ghế. Trong những căn phòng nhỏ, nơi làm việc của nhân viên phi cảng, tôi nhìn rõ những vóc người cao lớn, sắc phục thẳng nếp, ngồi hoặc đứng nghiêm trang trước nhưng chiếc bàn trống trơn không giấy tờ. Một người đưa mắt nhìn chúng tôi, cặp mắt xanh lơ lạnh lùng như hai cục nước đá. Trước cái nhìn đó, tự dưng trong lòng tôi như có ngọn lửa bốc lên, tuy không có tấm gương trước mặt, nhưng cũng đoán biết sắc mặt tôi đỏ bừng như kẻ say. Tôi muốn chạy đến, nắm tay anh ta rồi hỏi:

– Này Bạn, Bạn đã chiến đấu ở Việt-Nam chưa? Bạn có biết dân tộc tôi đã gánh chịu bao nhiêu đắng cay, nhục nhã sau ngày 30-4-75 chưa? Bạn đã biết thế nào là cái đau thua trận chưa? Bạn có biết những người tị nạn chúng tôi phải kinh qua bao nhiêu gian khổ để đến được nước Mỹ chưa? Bạn có biết…

Trong óc tôi có rất nhiều câu hỏi đặt ra lúc ấy, nhưng nghĩ lại, vô ích! Nếu anh ta có biết chút nào về Việt-Nam chăng nữa, thì cũng chỉ biết một cách hời hợt qua báo chí và phim ảnh chứ không thể nào hình dung nổi về hoàn cảnh đích thực của một nước Việt-Nam anh hùng, nhưng không may đã ngã gục sau hơn hai mươi năm chinh chiến và gần tám năm tủi nhục!… nên anh ta mới có cái nhìn lệch lạc như vậy, cũng như trước đây, nhân dân và Chính Phủ Hoa-Kỳ đã nhìn miền Nam chúng tôi giống hệt như cái nhìn của anh hôm nay, nên sự có mặt của những người tị nạn ở đây, cũng để nói lên niềm uất ức của một Dân Tộc nhược tiểu bị lệ thuộc vào một Quốc Gia hùng cường, để rồi mang lấy hậu quả chua cay, phải sống lưu đầy trên mảnh đất đã phụ rẫy mình!… Nói vậy, nhưng tôi không oán trách anh ta đâu, cũng như hai mươi lăm triệu đồng bào miền Nam không hoàn toàn quy trách nhiệm cho Chính Phủ Hoa-Kỳ, vì dù sao, sự thành bại, phần lớn do chúng tôi quyết định. Miền Nam mảnh đất thân yêu, một phần của toàn bộ Việt-Nam, ngày hôm nay đã thức tỉnh, nhưng muộn rồi, đành chờ cơ may lịch sử!…

***

Tôi đang xoay quanh với những ẩn ức tụ đọng trong ý nghĩ, bỗng từ ngoài bờ kính xa xa, có ba bóng người giơ cao tay vẫy. Tôi chưa nhận rõ những ai, nhưng cũng đưa tay lên phất qua lại, tỏ dấu vui mừng. Mà tôi mừng thật, khi biết, trên thước đất đầu tiên xa lạ lại có người quen đón gặp. Tôi mong chóng làm xong thủ tục để ra khỏi chiếc “lồng kính băng giá” càng sớm càng tốt, xem gặp những ai. A, nhà văn Thanh Nam, nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh và Nguyễn văn Giang, chủ biên tờ Đất Mới.

– Nơi đây là đâu, các ông?

– Đây là Bắc Mỹ, cách Canada trên dưới một trăm miles — Trần Cao Lĩnh cho biết.

Sau gần tám năm xa cách, anh em gặp lại, tay nắm tay, chan chứa cảm tình. Đi xa đã nhiều, bạn bè cũng lắm, nhưng quả thực, chưa có lần nào cảm động như buổi gặp gỡ sáng nay tại phi cảng nhỏ bé này, so với những phi trường khổng lồ của nước Mỹ. Chúng tôi ngồi uống nước và tâm sự chừng hai tiếng, xong tôi lại lên phi cơ khác đi về miền Nam, ở đây, tôi biết có người thân và bạn bè chờ đón.

Vào khoảng năm giờ chiều, tôi tới phi cảng San Diego, một phi cảng cuối miền đất Cali, sát biên giới Mễ Tây Cơ. Tôi bay từ miền Bắc tới miền Nam nước Mỹ dọc theo bờ Thái Bình Dương; chiều dài khoảng gấp hai lần chiều dài từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau, mất sáu tiếng đồng hồ, trong khi đó, phải mất ba ngày đêm, con tàu Roumania mới đưa tôi từ Hà-Nội trở về Sài-gòn, trên tuyến đường dài một ngàn tám trăm cây số, sau ngày được tha.

Ôi! Việt-Nam, biết đến bao giờ?

Vừa vào đến phi cảng, tôi đã thấy các bạn Phạm Duy, Cao Tiêu, Phan Lạc Tiếp, Hà Thúc Sinh, Lữ Liên cùng nhiều người thân đón đợi. Mọi người đều ôm chặt lấy tôi như vừa tìm lại được một vật gì bỏ quên tưởng mất, nhưng tôi biết, các bạn ở xa, từ Santa Ana xuống, cách phi trường hai giờ xe, nên không dám nói chuyện nhiều. Chúng tôi nắm tay, hẹn gặp lại.

Trời chiều, vùng San Diego khá lạnh tuy đã cuối tháng ba, nhưng mùa xuân ở đây mới bắt đầu. Xe chạy trên xa lộ êm như ru. Những dòng xe nối tiếp hình như không lúc nào ngừng. Dọc hai bên đường cỏ hoa chi chít. Từng dãy đồi núi chập chùng khi xa, lúc gần, cảnh trí luôn thay đổi, làm giao động tầm nhìn. Ngồi trong xe, tôi ôm cứng tập bản thảo Đáy Địa Ngục trong tay, như ôm người tình bé bỏng. Tôi đã hình thành nó trong một bối cảnh không mấy khích lệ, suốt ba tháng trời và vợ tôi, đã cần cù ngồi xệp trên nền đất, cúi gập người trên chiếc bàn nhỏ, chép lại bản thảo, thay vì đánh máy, cũng mất đúng ba tháng! Cuốn sách được chép xong trang cuối trước ngày rời Trại Tị Nạn Sungei Besi thuộc Mã-Lai-Á có bốn ngày. Tôi thấy hình như tập bản thảo còn ấm hơi người. Quả thực, trong hơn ba mươi năm viết lách, chưa có giai đoạn nào tôi phải làm việc trong một hoàn cảnh cực nhọc như vậy, cả thể xác lẫn tinh thần.

Nhưng ai đã trải qua những ngày và đêm dài trong các trại Tị Nạn mới cảm thông được với bao nhiêu nhục nhằn của kẻ mất quê hương, sống nhờ vào lòng từ thiện của kẻ khác. Sự đối xử của giới chức Mã Lai trong trại Tị Nạn tuy không khe khắt và xảo trá như trong trại Cải Tạo của Cộng Sản, nhưng nó cũng không kém phần cứng dắn trong mỗi vấn đề đời sống, nhất là sự mất tự do đi lại. Hai lớp kẽm gai quây kín khu vực Trại với những tấm tôn bít bùng và các mức độ hạn chế khác, làm con người dễ phẫn chí, nhất là thời gian rời Trại không biết ngày giờ nào, cũng như Cộng Sản thường nói với những người tù chính trị: “Lao động tốt, học tập tốt thì về…” Biết thế nào là tốt? Bao giờ mới tốt? Cái đó chỉ Cộng Sản mới trả lời được, cũng như ngày rời trại Tị Nạn chỉ có phái đoàn các nước và ICM biết mà thôi!

***

Nơi tôi ở, một thành phố bé nhỏ, yên tĩnh, thật yên tĩnh. Mỗi buổi sáng, tôi thường đi tản bộ để tìm hiểu sinh hoạt và lề lối sống của nơi mình góp mặt. Trước kia, khi chưa đặt chân lên đất Mỹ, tôi cứ đinh ninh đến Mỹ là phải va chạm với tiếng động, phải bon chen, xô bồ, phải tranh đua, giành giật! Nhưng không, ở nơi nào trên đất Mỹ, tôi không, hay chưa được biết, chứ nơi đây, tại thành phố Escondido bé bỏng này, đang là mùa xuân, hoa lá bạt ngàn, tôi cứ thong dong đi trên các lối dành riêng cho người đi bộ, nhìn nhẩn nha từng đóa hồng mơn mởn, từng nhánh lá non tơ, từng gốc tùng bách la đà trong hơi gió đong đưa. Những thảm cỏ xanh mướt như nhung trước mỗi ngôi nhà như mời gọi, tất cả toát ra sự hiền hòa êm dịu. Nó đưa hồn bay bổng lên cao, ở đó, chỉ có và còn ta với thiên nhiên hiền hậu.

Tôi biết nước Mỹ, mỗi phút qua đi đã có một đổi thay, con người luôn luôn tranh đua với tiến bộ. Cả nước Mỹ là một nhà máy khổng lồ, do đó, có người cho rằng, người Mỹ ít tình cảm, họ sử dụng con người như máy móc. Điều đó có thể đúng, có thể sai; giữa lúc này, tôi chưa có nhận định đúng mức về vấn đề trên, nên chưa dám khẳng định. Nhưng tôi biết, từng sáng đi dong chơi như kẻ nhàn du, mỗi lần gặp một người Mỹ đi ngược chiều trên cùng lối, dù đàn ông hay đàn bà, bao giờ họ cũng nhìn và cúi chào tôi trước. Cái nhìn này khác xa với cái nhìn của một viên chức nào đó nơi phi cảng Seattle. Có lẽ, nhân dân nói chung, bao giờ cũng hiền hòa, còn chính sách và đường lối là chuyện khác chăng?

Xung quanh thành phố tôi ở, đồi núi bao kín, giăng mắc, người Mỹ gọi nơi đây là “thung lũng kín.” Tôi nhìn lên đỉnh cao, chỉ thấy màu khô cằn của đá loang lổ cùng với những vườn cam và cây dại, không gợi đến cho tôi sự hùng vĩ của núi non nơi quê nhà. Nhưng mùa xuân nơi đây là một sự phối hợp hài hòa giữa cảnh vật và lòng người cũng như khí hậu. Cái lạnh làm cho ta cảm thấy yêu chứ không sợ. Mùa Xuân hiện diện trên từng ô cỏ, từng nhánh hoa, trên những lối mòn. Không biết bao nhiêu màu sắc múa lượn chập chùng trong mắt nhìn, hồn nghĩ. Tôi biết, mảnh đất này không phải quê hương mình, nhưng sao tâm hồn tôi lại hướng về Đà-Lạt, với những dây đồi thông nghiêng ngả, những kiến trúc Tây Phương, và những hồ nước êm tê, long lanh tráng thủy! Đà-Lạt là miền cao, quanh năm lạnh giá, những ngày hè quá ít ỏi, mỗi lần nắng đổ, mỗi lần reo vui.

Tôi đi dưới cái nắng của vùng trời Escondido mà cứ ngỡ mình đi dưới cái nắng vàng ấm của quê nhà. Mỗi ngày qua đi tại cái thành phố bé nhỏ này như qua đi một cái gì nuối tiếc! Trong những ngày giờ đầu, tôi sống giữa cái không khí không thuộc về mình, nhiều khi nó làm tâm hồn tôi choáng váng, hoảng hốt, hình như nửa muốn níu kéo, nửa muốn bứt rời!…

Tôi thương Việt-Nam quá! Quê hương tôi đó, sau hơn hai mươi năm chinh chiến, bao nhiêu máu xương đã đổ xuống, trên khắp bốn vùng Chiến Thuật, bao nhiêu tuổi trẻ đã ra đi và đã gục ngã, để nay còn lại cái gì? Chỉ còn lại nhớ thương và tủi hận! Tôi nhớ và thương đồng bào tôi đang gánh chịu nhiều nhục nhằn trong mỗi ô vuông đời sống, trong tờ “hộ khẩu” và dưới bao nhiêu tầng áp bức? Tôi nhớ thương bao nhiêu chiến hữu đang sống tủi nhục trong các trại Tập Trung Cải Tạo hãi hùng.

Mấy câu thơ đã làm khi còn đang bị giam cầm, chợt vang dội trong đầu:

Tôi, kẻ tội đồ đi trên gian khổ
Dìm cuộc đời giữa rừng thẳm non cao
Lòng đã chết và trái sầu đã vỡ.
Mỗi đêm nằm e sợ cả chiêm bao!…

Đúng, mỗi đêm nằm, chúng tôi đều e sợ cả chiêm bao, vì chiêm bao có khi lành, có khi dữ, khi đẹp, khi không, nhưng dù lành, dù dữ, dù xấu, dù đẹp cũng còn tốt hơn là mỗi khi mở mắt đã nghe tiếng kẻng gõ chát chúa, đã phải nhìn thấy quân thù lừng lững trước mặt với gian khổ, đói khát!

Nói đến trại Tập Trung Cải Tạo là nói đến nỗi ô nhục mà những con người thua trận phải gánh chịu qua từng nỗi đớn đau, nó dày vò tâm cảm, nó ray rứt trong mỗi suy nghĩ. Cộng Sản dìm kẻ thù xuống hàng súc vật. Nếu bạn đọc có cái may mắn chưa qua nó, chắc không bao giờ có thể hình dung đúng mức những cay đắng ê chề trong mỗi phút, mỗi giờ, mỗi ngày phải đối diện với thực tại không cách nào chối bỏ!

Sau những năm tháng dài tù đầy, những người tù chính trị đã trải qua nhiều giai đoạn cực kỳ gian khổ, đã nhìn rõ dã tâm của quân thù mà cái chính sách “đại ân, đại nghĩa” chỉ là tấm bình phong che giấu sự thực, một sự thực vô cùng tàn nhẫn là hủy diệt nhân phẩm con người qua miếng ăn và cung cách đối xử. Cái trò chơi ‘‘thua cuộc” quả quá đắt, nên dần dà mọi người đã lấy lại được cái “ý lực” thuở trước, chứ không buông xuôi, cúi đầu chịu trận như những năm tháng đầu.

Khi biết tôi được tha, trước khi lên xe, anh em có nhắn nhủ:

– Nếu ông về, có cơ hội vượt biên được, nên vì anh em, nói lên tất cả nỗi thống khổ mà anh em đã can đảm phấn đấu để tồn tại. Xin các ông, những người đã dùng phượng tiện của Quân Đội để di tản qua Mỹ trước ngày 30-4-1975 nên nghĩ đến tình chiến hữu, hãy đấu tranh tích cực trên chính trường quốc tế, với các Hội Bảo Vệ Nhân Quyền, Ân Xá Quốc Tế .v..v… đòi Cộng Sản phải thả hết tù chính trị miền Nam đã bị cầm giữ quá lâu trong các Trại Tập Trung Cải Tạo.

***

Tôi đã sống trên đất Mỹ được trên một tháng, đã đi thăm vài nơi. Tôi cũng đã gặp vài chiến hữu, ở đây trước ngày miền Nam thất thủ. Tôi có đưa ra ý kiến về vấn đề trên nhưng chỉ nhận được những lý do thế này, thế khác. Nước Mỹ quá rộng, sự gặp gỡ hầu như chỉ qua điện thoại, hơn nữa, hình như mọi người quá bận rộn, lo lắng về đời sống riêng tư, nên vấn đề đấu tranh chung bị xao lãng! Nói vậy, không có nghĩa phủ nhận tất cả những nỗ lực của các Hội Đoàn, của Mặt Trận Phục Quốc, nhưng mục đích của Hội Đoàn và Mặt Trận nằm trong các diện khác. Vì ở tù lâu quá, có người thất vọng đâm cáu kỉnh, cất tiếng chửi thề: “Đù mẹ, các ông ấy ăn cơm độn steak, quên cha nó cả tình chiến hữu rồi!” Câu đó, đúng chăng?…

Chính vì món nợ tôi có bổn phận và nhiệm vụ phải trả cho các anh em ‘‘đồng tù” nên trong lòng luôn luôn có một cái gì vướng mắc. Nó dằn vật như một tội tình, nói ra chưa chắc đã có ích, để trong lòng cũng chả yên. Món nợ này còn lâu tôi mới trả xong.

***

Chưa qua món nợ này lại nhớ đến món nợ khác. Món nợ sau, tuy không ai nhờ cậy, nhưng tôi nghĩ, nó là trách nhiệm của riêng tôi, một kẻ làm văn học nghệ thuật, phải tố cáo trước dư luận về sự đàn áp, chà đạp nhân phẩm của chế độ Cộng Sản đối với những con người làm công tác văn học nghệ thuật miền Nam chẳng may bị kẹt lại dưới ách thống trị của quân thùl

Trong gần tám năm nay, Cộng Sản tìm mọi cách, mọi thủ đọan dù đê hèn để mạt sát, bêu xấu tên tuổi họ trên báo chí và vu không cho một số người là “Những tên biệt kích trên Mặt Trận Văn hoá Tư tưởng dưới thời Mỹ Ngụy.” Ý đồ Cộng Sản là muốn dìm sâu, làm cho chết hẳn những ảnh hưởng văn học nghệ thuật của miền Nam đối với dân chúng. Làm công việc này, Cộng Sản nhằm vào số người ít quan tâm hoặc hiểu biết về văn học nghệ thuật, nhưng Cộng Sản đã thất bại vì qua các đợt càn quét “văn hóa đồi trụy,’’ sách vở và báo chí miền Nam vẫn được phổ biến bí mật, chẳng những ở miền Nam mà còn ở miền Bắc là nơi mà Cộng Sản đã “nắm vững” tư tưởng nhân dân từ bốn mươi lăm năm qua. Cộng Sản cứ đinh ninh thế nào chúng cũng thành công, ai ngờ cái “hố văn hóa” đã đào xong mà chẳng có cách gì lấp được vì nền văn hóa vô sản không cung ứng những giá trị tinh thần đúng mức theo trào lưu tiến hóa của nhân loại.

Tại Hà-Nội, thủ đô của xã hội chủ nghĩa, nhân dân chuyền tay nhau những cuốn tiểu thuyết xuất bản tại miền Nam và lén nghe nhạc vàng. Hồi tôi bị giam ở Chi-Nê, tên trại trưởng suốt ngày mở máy nghe nhạc vàng. Tiếng hát Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Thúy, Thanh Lan vẫn nghẹn ngào, nức nở qua dòng điện.

Trong một đêm, vào năm 1976, tại Sài-gòn, Cộng Sản đã bắt tới gần hai trăm văn nghệ sĩ. Chỉ một đêm thôi, bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu khốn khổ chất chồng?… Cho tới hôm nay, Cộng Sản mới tha một số nhỏ, còn lại, đều nằm trong các hốc núi miệt Pleiku, hoặc rải rác khắp cánh rừng Phan Thiết. Họ đã và đang gánh chịu biết bao dầy vò, tủi nhục.

Viết đến đây, tôi nhìn ra, những giọt nắng lấp lánh như muôn ngàn dấu nhạc đang nhảy múa, tỏa ra từng âm giai hớn hở. Lòng tôi se lại. Tôi đã có cái may mắn vượt thoát rồi, dù cho sự vượt thoát cũng phải trả giá rất đắt, cả thể xác lẫn tinh thần, nhưng anh em tôi, những người cầm bút, cầm cọ vẫn còn đó, vẫn kéo lê từng nỗi đớn đau, giận hờn trong mỗi suy nghĩ, tận đáy sâu tâm thức.

Trong thời gian chờ đợi vượt biên, tôi thường gặp lại mấy anh em cũ. Chúng tôi thì thầm tâm sự, một thứ tâm sự vơi đầy, uất nghẹn. Có một điều chắc chắn, tuy đang ở trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn về mọi mặt, nhưng ai nấy vẫn giữ trọn khí tiết của kẻ sĩ, không chịu để kẻ thù chi phối hoặc “lãnh đạo’’ linh hồn mình. Họ vẫn âm thầm sáng tác với những chất liệu sống do chính bản thân họ trực tiếp đối đầu với Cộng Sản, với hoàn cảnh, một hoàn cảnh phũ phàng, tồi tệ.

Hiện đã có nhiều tác phẩm “chui” thoát và được báo chí ở khắp thế giới tự do đăng tải. Âu đó cũng là niềm an ủi!… Ở Việt-Nam hiện nay không phải chỉ có một mình Nguyễn Chí Thiện làm thơ chống Đảng và Nhà Nước Cộng Sản, mà có hàng trăm, sẵn sàng tung cao ngọn bút chống chính sách bạo tàn đang xiết chặt nhân dân cả hai miền Nam Bắc dìm sâu xuống đáy vực thẳm. Họ là những nhân chứng trung thực và chung thủy nhất, có đầy đủ quyền uy để nói lên sự thực mà Cộng Sản luôn luôn tìm mọi cách che giấu. Nhưng kẻ thù cũng không ngu xuẩn gì để cho họ được yên ổn; chúng phao những tin đồn: — Sẽ bắt đi học tập cải tạo trở lại, hoặc sẽ tập trung họ vào một địa điểm nào đó, làm tinh thần anh em căng thẳng và luôn luôn dự phòng nơi trốn tránh trong trường hợp bị gọi trình diện. Đời sống vật chất của giới làm văn hóa thật sút kém, nếu trong gia đình không có ai di tản được trước ngày 30-4 hoặc vượt biên sau này.

Trong khi những người làm văn học nghệ thuật miền Nam sống vất vưởng giữa một môi trường khốn khó thì sinh hoạt văn hóa của thế giới bên ngoài vẫn bước đều nhịp, do đó, chẳng mấy ai đặt nhiều hy vọng vào sự can thiệp của các tổ chức văn hóa quốc tế, dù rằng, cũng có một vài trường hợp được đề cập tới. Riêng tôi, chưa mất hẳn niềm tin, cũng cố kêu gào bằng những lời thống thiết nhất. Biết đâu, tiếng kêu gào của tôi chẳng có vọng âm?

***

– Hỡi các nhà đại văn hào của thế giới tự do, các ngài nghĩ những gì, suy luận những gì trong các tác phẩm mà các ngài đang hay sắp viết ra. Các ngài là những người có đầy đủ quyền năng, thứ quyền năng tuyệt đối của người cầm bút vì xã hội văn minh cho phép; có bao giờ các ngài nghĩ tới, dù trong một giây, những nỗi cơ cực của các nhà văn hóa miền Nam Việt-Nam đang bị cầm chân và cầm tù trong các trại Cải Tạo cho đến bao giờ?

Cả Hội Văn Bút Quốc Tế nữa, không phải quí Hội chỉ can thiệp cho một vài cá nhân, mà chính quí Hội có nhiệm vụ cao cả, phải trực tiếp can thiệp tích cực bằng mọi cách, bằng mọi giá, buộc Cộng Sản phải trả tự do cho tất cả những người làm công tác văn học nghệ thuật và cho họ được ra khỏi nước nếu họ đòi hỏi. Có như vậy, các ngài mới hãnh diện và xứng đáng là những nhà văn hóa tiên phong, đóng góp cho nhân toại những công trình cao quí, có lẽ, còn cao quí hơn tất cả.

Chúng tôi không cầu xin, nhưng đó là chính nghĩa, chẳng riêng gì Việt-Nam mà cho tất cả những con người làm văn học bất cứ ở xứ sở nào trên trái đất hiện đang bị áp bức bởi cường lực.

Chúng tôi tự biết, sinh ra và làm công tác văn học nghệ thuật tại một quốc gia nhược tiểu, ngôn ngữ chưa được quốc tế hóa, nhưng chẳng phải vì thế, chúng tôi bị tước bỏ quyền sáng tạo. Chúng tôi đã đọc, đã xem, đã tìm hiểu ở các ngài nhiều; vì thế lúc này mới có những dòng chữ trên…

***

Tâm hồn tôi dẫn dắt ngòi bút đi về đâu chẳng biết. Tôi không kìm hãm được nó, giống như tên phù thủy không sai khiến nổi lũ âm binh. Tôi cảm thấy choáng váng như vừa uống xong ly rượu cực mạnh. Bản thảo cuốn Đáy Địa Ngục nằm trơ trẽn trên mặt bàn ngổn ngang giấy tờ, thư từ bạn bè thăm hỏi. Nó nằm đó như một chứng tích. Tôi có linh cảm như mỗi dòng chữ đang rẫy rụa để thoát khỏi lòng giấy. Tôi nhìn nó, nó ngó tôi. Sau cùng tôi cất tiếng thở dài.

Hoàn cảnh ra sách ở Việt-Nam và ở đất Mỹ khác nhau xa. Khi trước, chỉ sợ mình không có tác phẩm hay, chứ không lo tới xuất bản. Ở đây cả một vấn đề, nhất là tiền bạc. Tôi, kẻ mới vượt biên, chân ướt, chân ráo, trong túi không có một dollar, làm sao nói chuyện?

Hơn nữa, vấn đề phát hành cũng gặp khó khăn; độc giả không có bao nhiêu. Mỗi lần nhớ tới lời khuyên của người bạn văn nghệ đã có mặt ở đây từ ngày di tản, lại thấy nản: “Anh chỉ nên in chừng hai ngàn cuốn là nhiều vì sách rất khó bán, dù cho sách có giá trị văn học!”

Tôi suy nghĩ hoài về câu nói đó. Chả lẽ đồng bào tị nạn Việt-Nam mới có mấy năm phù du mà đã hờ hững, phụ rẫy chữ nghĩa Việt-Nam sao? Chả lẽ đồng bào quên rằng, nhờ có văn hóa, văn học nghệ thuật, tinh thần Việt-Nam mới còn tồn tại, dù ở góc cạnh nào của đời sống lưu vong! Không, không, tôi không tin như vậy. Tôi vẫn hằng nghĩ, người Việt-Nam dù đang phiêu bạt ở nơi nào, khắp bốn phương trời, lòng vẫn hướng về Tổ Quốc qua ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là con đường, là chiếc gạch nối giữa đời sống thực tại với đời sống tinh thần, mà tinh thần chúng ta, ngàn đời vẫn là tinh thần Việt-Nam, kể cả những ai đã vào quốc tịch Mỹ hay quốc tịch nào khác!

***

Thế là tôi đã sống trên đất Mỹ được ba mươi ba ngày rồi đấy. Ba mươi ba ngày qua đi thật êm ả, không sóng gió, không sợ hãi. Tôi được sống thoải mái với không khí tự do, dân chủ, nhưng không hiểu sao, tâm hồn tôi luôn luôn bị dày vò, ám ảnh bởi quá khứ, một quá khứ tuy không có chiều dài, nhưng thực tế nó in đậm trong hồn tôi như nét sổ lớn của ngọn bút đại tự.

Sống trên mảnh đất dư thừa vật chất, hầu như ngày nào tôi cũng được ăn đầy đủ chất dinh dưỡng dù với số tiền welfare ít ỏi. Đôi khi tôi được mời dự vài bữa tiệc lớn có rượu thịt ê hề, thừa mứa như thời đại “hoàng kim” của miền Nam ngày trước.

Sau những cuộc vui như vậy, trước khi đi vào giấc ngủ, lòng tôi bỗng quặn đau khi chợt nghĩ tới còn bao nhiêu bạn bè mình đang đói khát, thiếu thốn từng cục đường trong các Trại Cải Tạo. Tôi nhớ lại, mỗi tháng may ra, mỗi người được ăn một miếng thịt to bằng đầu ngón tay út kho với muối! Có người thèm thịt quá, bê luôn cả cái đầu ngựa trắng hếu, răng nhe lởm chởm, cạp vào chỗ nào còn sót lại ít thịt tím bầm!… Tôi nghĩ đến bao nhiêu gia đinh hiện đương vất vả vì “miếng cơm hộ khẩu.” Tôi nghĩ đến những đứa trẻ thơ, bụng ỏng, đít von đang sống một đời sống tối tăm trong các khe hốc lẩn khuất dưới chân dãy Hoàng-Liên-Sơn miền thượng du Bắc Việt. Còn nhiều, nhiều nữa nhưng thôi, nghĩ cho cùng, mỗi hoàn cảnh có nếp sinh hoạt riêng, phù hợp với môi trường chính trị.

Tôi kẻ tị nạn, mong mỏi ngày nào đó, sẽ được trở về mảnh đất thân yêu muôn đời xinh đẹp. Tôi sẽ đi lại trên những lối xưa, hỏi từng viên gạch đá, hỏi lá, hỏi cây, hỏi con người đã có những đổi thay gì sau những năm tháng dài xa cách?…

Ngày đó… bao giờ?…

Escondido, Tháng 5, 1983.

—>Trên Những Nẻo Đường Sài-Gòn

This entry was posted in 4.Truyện ngắn, Tạ Tỵ. Bookmark the permalink.

1 Response to XÓM NHÀ TÔI (Tạ Tỵ)

  1. Ad cho tôi hỏi, tôi cần tìm 1 số tựa sách xuất bản ở “hải ngoại” cũng khá lâu nên hiện nay khó kiếm, không biết ad có hay biết ai có giữ không ah. Xin cám ơn!

    1. Hôn Em Kỷ Niệm (tập nhạc của Duyên Anh) (NXB Nam Á)
    2. Em tôi Saigon & Paris (thơ Duyên Anh)
    3. Ngàn Lời Ca (tập nhạc của Phạm Duy)
    4. Rong Ca (tập nhạc Phạm Duy)
    5. Bè Bạn gần xa (tùy bút Phan Lạc Phúc) (NXB Văn Nghệ)
    6.Mai Thảo – chân dung 15 nhà văn nhà thơ Vietnam (NXB Văn Khoa)
    7.Hồn say phấn lạ (Duyên Anh) (NXB Xuân Thu)
    8.Những Khuôn Mặt Văn Nghệ – Đã Ði Qua Ðời Tôi (hồi ký), NXB Thằng Mõ 1990
    9. Ba Tập Hồi Ký Phạm Duy (Phạm Duy Cường productions)

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s