Về “R” (Kim Nhật)- Phần II

3-ÔNG TỔ CỦA ĐƯỜNG DÂY “ÔNG CỤ”

20-7-1956 đi qua một cách bình thản như mọi ngày, không một biến cố nào xảy ra. Điều đó có nghĩa là Tổng Tuyển cử cho cả hai Miền Nam Bắc đúng theo điều khoản ghi trong Hiệp định Genève 54, không được thi hành. Ranh giới giữa hai Miền Nam Bắc ở Bến Hải, Cửa Tùng không còn là ranh giới tạm thời trong hai năm sau ngày đình chiến nữa mà trở nên vô hạn định..

Đầu năm 1957 trong một phiên họp của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng do Hồ chí Minh làm chủ tọa có một điều trong nghị quyết được chấp thuận :

– Chuẩn bị phát động cuộc khởi nghĩa ở Miền Nam để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tiến tới thống nhất đất nước bằng đấu tranh vũ trang.

Nghị quyết này được gửi đến Trung Ương Cục Miền Nam để tổ chức học tập và thi hành. Sau đó nhận thêm một công điện mật của Trung Ương ra lệnh cho Trung Ương Cục Miền Nam nghiên cứu và tổ chức một đường dây để đưa cán bộ tập kết trở về Nam.

Trung Ương Cục lúc đó “đóng đô” ở khu vực sông Mã Đà quãng giữa suối Ràng và suối Đá trong rừng sâu Đông Bắc Khu A. Tại căn cứ lúc ấy Đảng bộ chỉ có ba người ở nhà là “Hai chủ tịch xe ngựa “, Tư Thắng và Năm Quốc Đăng.

Còn số Trung Ương Cục ủy viên khác thì kẻ ở nơi này, người ở nơi kia hoặc bận công tác ở các vùng xa. Giữa rừng già mênh mông vắng ngắt, khí hậu ẩm ướt quanh năm mà chỉ có ba người với một y tá và hơn một tiểu đội bảo vệ thì quả là buồn vô hạn.

Ba người bàn với nhau về bức công điện. Không cần phải nói, ai ai cũng đều biết rằng khi nhận được nghị quyết của Bộ Chính trị, toàn thể Đảng bộ của Trung Ương Cục Miền Nam mừng vô kể, vừa mừng vừa phấn khởi, vui sướng đến tưởng chừng có thể cất cánh bay bổng lên chín tầng mây. Viễn ảnh trong tương lai sẽ rạng rỡ, oai hùng, sống một cuộc đời “đế vương” đầy quyền uy như thuở nào, chứ không phải “nằm ep rệp” giữa rừng sâu với bóng cả cây già, nhìn mưa xuyên qua kẽ lá âm u. Thỉnh thoảng kẹt gạo phải ăn củ chụp thay cơm. Tuy thực phẩm không thiếu, nhưng chả lẽ hết nướng tới luộc rồi kho, thỉnh thoảng nồi canh chua lá bứa, lá chòi mòi. Chỉ có bốn món đó sao đi, sao lại hết năm này sang năm khác thì nó ngấy lắm ! Dù sao cũng thấy thèm món gỏi chua, món chả giò, món càry v. v… thèm được thấy đồng bằng, cửa nhà đông đảo, thèm sống nếp sống bình thường đủ hỷ, nộ, ái, ố, lục dục, thất tình của con người, chả hơn quanh năm suốt tháng như bị ngộp thở trong cái màu xanh bất tận, màu xanh mỏi mắt của cây rừng, chưa bao giờ thấy được chân trời chạy tít ở một vùng xa.

Trong ba người chỉ có Năm Quốc Đăng là già hơn cả, tuổi năm mươi ngoài, gầy và cao lêu nghêu. Già nhất nhưng cũng hăng hái nhất. Mấy anh em cận vệ thường gọi lén là ông già gân. Đôi mắt tròn nhìn vật gì bao giờ cũng mở to, không chớp, dưới hàng chân mày chổi xuể, xác nhận một cá tính thẳng thẳn, nóng nảy. Ăn to nói lớn, bướng bỉnh, nếu cần nói thẳng một cách mạnh dạn đôi khi hơi thô lỗ một tí chả sao. Con người của ông già gân như thế đó.

Năm Quốc Đăng xung phong nhận nhiệm vụ đi điều nghiên tình hình và tổ chức hệ thống đường dây từ Nam ra Bắc, băng cao nguyên, vượt Trường sơn xuyên Bến Hải con đường đầy gai chông hiểm trở, trèo đèo lội suối hàng mấy nghìn cây số. Thành thực mà nói, đứng về phương diện con người, ông già gân dám làm công việc đó cũng đáng để cho mọi người dở nón nghiêng đầu bái phục.

Lãnh nhiệm vụ này, Năm Quốc Đăng chỉ mang theo một anh cận vệ người Thượng, dân tộc Ba Na. Đó cũng là một sự tính toán kỹ càng. Vì nếu đi nhiều người càng thêm vướng bận chẳng ích gì. Còn chọn anh cận vệ người Thượng, dọc đường đỡ biết mấy. Mỗi khi gặp một “buôn” nào, cần hỏi thăm tình hình, liên hệ địa phương để tổ chức hay cần mua bán, đổi chác thức ăn thì anh ta sẽ là người thông ngôn, là cố vấn kiêm luôn quản lý. Chẳng những vậy, người Thượng đi rừng rất giỏi, họ có nhiều kinh nghiệm đặc biệt trước mọi bất trắc để sinh tồn. Họ chưa hề lạc đường bao giờ vì núi rừng quen thuộc với họ như khu vườn của ta dù họ chưa đi qua.

Cần phải nói thêm một chút về “hệ thống đường dây”. Đường dây là đường giao liên (giao thông liên lạc) để dẫn đường cho khách và mang thư từ, bưu kiện giữa các khu vực.

Ta có thể so sánh với đường dây của họ như hệ thống bưu điện của ta. Ở hoàn cảnh của ta, việc chuyên chở thư từ, bưu kiện do xe đò hay phi cơ đảm nhận hằng ngày chuyển từ Nha Bưu Điện Trung Ương (SG) đến các tỉnh, rồi tỉnh xuống quận, xuống xã, hay chuyển ngược lại.

Ở xã, ấp thì có bưu xã, bưu ấp do tổ chức ấp hay Hội đồng xã lo. Quận thì có nhà bưu điện quận hay Trạm Bưu điện. Tỉnh có Ty Bưu điện tỉnh. Trung Ương thì có Tổng Nha. Tại mỗi nơi, dù xã hay Trung Ương ngoài việc chuyển còn phải lựa chọn và kiểm tra để thư và bưu kiện gửi đi đúng chỗ, đúng địa chỉ của người nhận. Còn họ, việc liên lạc thư tín gặp khó khăn bội phần. Phương tiện chuyên chở phải bằng sức người . Thư tín, bưu kiện thì cho vào bồng bột (loại bao vải đựng bột mì) cột lại mang trên lưng , đi bộ từ trạm này đến trạm kia. Tùy theo địa thế mà đặt trạm. Thông thường các trạm cách nhau một buổi hoặc một ngày đường. Nhưng nhiều vùng vì địa thế bất tiện, bất an ninh, giữa hai trạm có thể cách nhau hai ngày đường.

Tại trạm, họ cũng làm công việc bàn giao, nhận lãnh, ký tên rồi lựa chọn thư tín, kiểm tra thư tín để phân phối hay để chuyển sang trạm khác như công việc làm của các Ty Bưu điện. Nhưng với họ, ngoài nhiệm vụ chuyển vận thư tín, họ còn phải làm nhiệm vụ đưa khách, bảo vệ khách, tổ chức ăn ở cho khách mỗi khi đến trạm. Cho nên công việc đó hết sức nặng nề và phức tạp. Hôm nào thư tín bưu kiện nhiều thì phải cho nhiều người mang rồi phải có tổ bảo vệ mang súng và vũ khí theo để chiến đấu, bảo vệ thư tín không thất lạc. Nếu có nhiều khách, tổ bảo vệ phải tăng cường đến cả tiểu đội để bảo vệ khách, cũng như giúp đỡ khách, cấp cứu khi cần. Khách ở đây dĩ nhiên phải là nhân viên, cán bộ đi công tác, từ đơn vị này sang đơn vị khác hay từ vùng này sang vùng khác, có giấy giới thiệu của cơ quan. Việc ăn uống dọc đường, khách phải tự túc lấy, tự nấu lấy, nhưng nếu có sự trục trặc bất ngờ, hết gạo, hết muối hay bệnh hoạn thì Trạm phải cung cấp, phải lo.

Hệ thống chuyển vận thư tín, chuyển vận khách đó ngày nay họ gọi là đường đây hoặc giao bưu để thay thế cho danh từ trạm giao liên trước kia.

Trong việc đi rừng có rất nhiều điều cần phải quan tâm như vấn đề ăn ngủ, định phương hướng chính xác để khỏi bị lạc. Rồi còn bệnh hoạn, tai nạn, thú dữ và những khó khăn bất ngờ khác ngoài ý muốn.

Nhất là trong trường hợp của Năm Quốc Đăng lãnh sứ mạng của Trung Ương Cục Miền Nam đi nghiên cứu và thiết lập đường dây từ Khu A xuyên qua rừng núi hoang vu đến Quảng Bình. Làm công việc này đâu phải là một việc dễ. Đi đến đâu phải nghiên cứu tình hình đến đấy, liên hệ với các buôn, các sóc của đồng bào Thượng, tuyên truyền, tổ chức v.v..

Suốt cuộc hành trình này, Năm Quốc Đăng không thể nào biết trước những gì sẽ đến với mình, chỉ biết chắc mỗi một điều là mình thừa quyết tâm, không ngại khó, ngại khổ để hoàn thành nhiệm vụ vậy thôi!

Về việc chuẩn bị cho cuộc hành trình, Quốc Đăng ra lịnh cho anh cận vệ người Thượng Ba Na chuẩn bị sẵn để mỗi người hai mươi ngày gạo, 2 lít muối hột, võng, tấm đắp, mùng cá nhân, nylon nóc, nylon choàng, một chai dầu hôi, đèn chai, đá quẹt một mớ thuốc rê giấy quyến, vài gói trà Thái Nguyên, hai cái “hăng gô” và một số lon sữa guigoz để đựng lương khô, đường, tiêu, bột ngọt.

Theo tiêu chuẩn quy định, khẩu phần gạo của một người là một lít cho một ngày. Hai mươi ngày gạo tức 20l được đựng trong một cái ruột tượng, may bằng vải bồng, dài hơn 1 thước. Khi mang ruột tượng sẽ quấn choàng qua vai tréo xuống hông như kiểu mang đai da. Kể ra số gạo này có ăn nhằm gì cho cuộc hành trình dài đăng đẳng suốt cả năm trời, nhưng mang nhiều hơn thì không nổi và còn sức đâu mang theo hàng trăm thức cần dùng khác. Dọc đường hết gạo sẽ kiếm, sẽ mua ở những buôn đồng bào Thượng.

Muối ở rừng núi hiếm và quí cũng như vàng nên mang theo hai lít cho mỗi người quả là hết sức cần thiết.

Còn võng, tấm đắp, mùng cá nhân, nylon nóc, ny1on choàng là trang bị cá nhân không thể thiếu được như dép râu, bình ton (bidon) đựng nước v.v.. cho mỗi cá nhân, thích hợp với đời sống ở núi rừng. Võng là loại võng nylon, thứ nylon may áo dài, dài khoảng 2m50, hai đầu may nuông luồn dây dù đôi làm dây cột.

Quốc Đăng tay trái cầm gậy, tay mặt xách cái chà gạc của đồng bào Thượng, giống như cây phảng phát cỏ của nông dân Nam bộ kéo ngay cổ ra. Trước ngực mang tòn ten chiếc địa bàn nhỏ. Vai mang túi dết đựng thuốc cấp cứu và mấy bản đồ. Lưng mang ba lô và ruột tượng gạo. Còn sợi thắt lưng Mỹ to bản thì lổn nhổn những súng ngắn, bao đựng đạn, võng, nylon nóc, nylon choàng, bình ton, lon lớn, nhỏ, dày đặc đến nỗi không nhìn thấy hình dáng sợi thắt lưng ra sao cả.

Anh cận vệ thì cồng kềnh, nặng nề hơn nhiều và phải mang theo cả “gánh hàng xén” trên lưng, rồi còn phải đèo thêm xẻng xúc đất của bộ binh và cây súng cạc-bin. Lưng trần, đầu trần, chỉ mặc quần đùi, mình cúi khom tới trước để giữ thăng bằng cho khỏi ngã ra đàng sau.

Cuộc đưa tiễn lên đường tuy giản dị bình thường lặng lẽ nhưng cũng xúc cảm, khích động lòng người như bao cuộc tiễn đưa khác. Người đi không khóc nhưng kẻ ở lại nhìn cảnh hai thầy trò mang khăn gói, nước mắt cũng rưng rưng :

– Chúc chú Năm – Chúc anh thượng lộ bình yên!

– Chúc các đồng chí gặp nhiều may mắn !

Quốc Đăng ngoảnh mặt đi, cất tiếng cười – tiếng cười của ông già gân dòn tan trong sương sớm.

-Các đồng chí ở lại mạnh giỏi ! Năm sau tôi về và… hoàn thành nhiệm vụ !

Hình bóng của Quốc Đăng và anh cận vệ mờ dần rồi mất hút trong rừng sâu, trên nẻo về đồi Tam Cấp.

Chuyến đi này của Quốc Đăng tuy không đưa không tiễn rùm beng, giản dị, âm thầm lặng lẽ như trăm ngàn công việc bình thường khác nhưng mang một tính chất vô cùng quan trọng về chiến lược sau này. Có chuyến đi này của Quốc Đăng mới có đường mòn Hồ chí Minh. Có chuyến đi này mới có “đường dây ông cụ” cho những năm sau để hàng ngày từng đoàn năm trăm người, ba trăm người cho đến vài chục người cán bộ Miền Nam tập kết trở về mang theo vũ khí, dụng cụ, vật liệu và những kinh nghiệm hiện đại về du kích chiến tranh gây dựng lại cơ sở, phát động chiến tranh, mà theo tài liệu đã được công bố trên báo chí trong những năm 1963- 1964. Ngô triều sụp đổ rồi những cuộc đảo chánh kế tiếp, Miền Nam thân yêu này suýt hoàn toàn lọt vào tay Cộng Sản nếu họ nắm vững được tình hình, nắm vững được thời cơ lúc đó.

Thì chuyến đi ấy của Quốc Đăng đâu phải một chuyến đi thường.

Cứ ngày đi đêm nghỉ, có địa bàn định hướng.

Quốc Đăng đến đâu, lật bản đồ ra đánh đấu đến đấy. Gặp buôn nào, bản nào cũng dừng chân lại cho anh cận vệ vào thăm dò tình hình trước để Quốc Đăng vào sau, hỏi thăm những người tham gia kháng chiến cũ, gây cảm tình cho “thằng cán bộ” ghét “thằng qưốc gia”. Sau đó thì xây dựng nồng cốt đặt cơ sở cho đường dây hẹn năm sau sẽ trở về gặp lại.

Có những buôn khi hai thầy trò vào móc nối, xây dựng cơ sở hay mua thức ăn, bị dân buôn đi báo lính, làm hai thầy trò phải chạy vắt giò lên cổ, suýt chết đôi ba phen. Cũng có những buôn, hai thầy trò cậy cục mãi nói hết nước miếng, khô cả cổ đồng bào cũng không chịu cho là “thằng quốc gia” xấu. Đồng bào nói :

– Ừ! Thằng cán bộ tốt, thằng quốc gia cũng tốt. Đồng bào theo thằng cán bộ, thằng quốc gia giận không cho muối thì sao ?

Và cũng có những buôn gặp được sự dễ dàng may mắn, nhờ có những cán bộ Thượng cơ sở được cài lại sau ngày tập kết. Ở những buôn này, hai thầy trò tha hồ phè phỡn, no say, ba lô đầy lương thực vật dụng, bù cho những ngày đói đến mờ mắt. Không tìm ra vật gì cho vào bụng được.

Qua hết mùa Thu rồi mùa Đông đầy mưa gió của năm 1958, rồi mùa xuân năm 1959, Quốc Đăng và anh cận vệ mới vượt Sông Ba đi về phía biên giới Lào Việt. Và cuối tháng 6-1959 từ đất Lào hai thầy trò tiến vào đất Quảng Bình.

Điều đáng nói là không hiểu hai người đi bằng cách nào, dùng phương tiện gì mà suốt từ biên giới đến thị xã Quảng Bình thoát khỏi lưới kiểm soát của hệ thống công an nhân dân, cùng đội công an vũ trang biên phòng.

Chỉ lúc vào thị xã, lúc ấy phố đã lên đèn, trời mưa nặng hột, hai thầy trò vào đụt mưa ở một hàng hiên thì có hai người công an đang cỡi xe đạp ngoài đường bỗng dừng lại rồi ngoặt vào hỏi giấy tờ. Mỗi người đứng một phía dồn hai thầy trò vào giữa. Qua ánh đèn đêm, Quốc Đăng vẫn thấy rõ hai nòng súng đen ngòm động đậy dưới lớp áo mưa sũng nước.

Dĩ nhiên là Quốc Đăng rất hả hê trong dạ khi được hỏi giấy tờ. Như thế đỡ phải hỏi thăm, dò dẫm đường đi đến văn phòng Tỉnh ủy Quảng Bình. Công an sẽ giúp đỡ, sẽ lo hộ.

Quốc Đăng cười

– Giấy tờ à ? Giấy gì? chúng tôi không có chứng minh thư đâu !

Hai người công an đòi xét thì Quốc Đăng bảo :

– Đừng! đừng !Đồng chí đừng có làm thế ! Chúng tôi có súng đấy, cả súng ngắn lẫn súng dài.

Một trong hai người công an hỏi :

– Vậy hai đồng chí ở đơn vị nào ? Đi công tác sao không có giấy tờ gì cả. Chứng minh thư cũng kkông. Đồng chí có giấy phép mang vũ khí chứ ?

– Không!

Hai người công an rút súng lục ra khỏi áo, trong tư thế đề phòng, hết sức khẩn trương :

– Không có giấy phép vậy đồng chí cho phép chúng tôi giữ lại vũ khí và mời đồng chí đi về đồn công an ngay.

– Đừng ! Đừng có mó vào tôi không được đâu. Tôi không cho phép các đồng chí làm việc đó.

Vì không hiểu hai thầy trò Quốc Đăng là ai, thuộc loại người nào nên hai người công an bối rối ra mặt, không biết phải xử trí cách nào. Phong thái, dáng dấp, cách ăn mặc chẳng giống cán bộ chút nào. Còn biệt kích của Mỹ-Diệm thì có thể lắm ! Nhưng biệt kích sao lại già nua?

Qua cái liếc mắt ngầm ra hiệu cho nhau, một công an viên chạy vội ra đường, leo lên xe đạp lao đi một mạch. Người công an còn lại cho tay trái vào túi quần lôi ra một cái còi như sắp sửa báo động cho nhan dân hai bên phố biết. Tay mặt thì nắm chắc súng, ngón trỏ trong vòng cò. Nhưng… án binh bất động.

Quốc Đăng điềm nhiên lôi thuốc ra vấn hút, mỉm cười một mình, nhìn mưa, như không quan tâm, như không hề hay biết rằng bên cạnh còn một người công an đang lăm le khẩu súng sẵn sàng dùng “biện pháp mạnh” nếu xét thấy cần.

Năm phút sau, hai chiếc xe “díp” chở đầy lính công an vũ trang lao tới như gió, thắng gấp bên vệ đường. Bảy, tám người nhảy xuống, võ trang bằng K50 và CKC trên tay, tư thế không khác gì đang xung trận. Viên sĩ quan công an lừ lừ đi vào. Phía sau là người công an cỡi xe đạp khi nãy. A! Thì ra họ về báo cho đồn công an.

Viên sĩ quan công an chào Quốc Đăng theo thông lệ, đoạn hỏi giấy tờ. Quốc Đăng vẫn cứ mỉm cười, không trả lời ngay :

– À! Tốt quá ! Các đồng chí mang xe đến đón tôi về đồn Công An đấy à ?

Rồi quay sang anh cận vệ :

– Các đồng chí công an mang xe đến đón mình. Vác ba lô ra xe chứ cậu, đừng để anh em đợi lâu.

Và với vẻ nghiêm túc, trang trọng khác thường, Quốc Đăng nói như ra lệnh :

– Các đồng chí đưa tôi về đồn công an ngay, ở đây nói chuyện không tiện. Sau đó các đồng chí sẽ rõ!

Viên sĩ quan công an võ trang không nói gì, bước ra mưa, đi về phía xe. Quốc Đăng và anh cận vệ choàng nylon theo sau. Viên sĩ quan công an, dù sao cũng vẫn thắc mắc về lai lịch của hai người lạ mặt, 1 kinh, 1 Thượng này. Anh ta hỏi một câu, âm thanh gọn và sắc :

– Hai đồng chí từ đâu đến.?

– Xa, xa lắm ! Quốc Đăng trả lời.

– Ở đơn vị nào ?

– Chốc nữa sẽ rõ!

Xe vọt đi một cách giận dữ như tâm sự của anh sĩ quan công an vũ trang lúc bấy giờ. Khi qưa cổng vào nhà, anh ta đưa Quốc Đăng đến một căn phòng có cửa cánh bướm chắn ngoài. Không chờ cho người ta hỏi mình, Quốc Đăng hỏi trước :

– Các đồng chí ở đây có điện thoại không ?

– Có !

– Đồng chí gọi điện thoại ngay đến Văn phòng Tỉnh úy Quảng Bình, báo tin có người chờ gặp đồng chí Bí thư ngay bây giờ ! Có việc cần giải quyết gấp!

Anh sĩ quan đứng ngẩn người, không hiểu ra làm sao cả. Ở Trung Ương xuống kiểm tra à ? Nếu vậy sao lang thang không xe pháo gì cả, lại trang phục ăn vận thế kia ? Bao nhiêu bực dọc của anh ta bỗng nhiên tiêu tán đâu mất. Anh ta đẩy cửa bước sang phòng bên như một cái máy.

Bên này, Quốc Đằng nghe rất rõ tiếng máy điện thoại quay rè rè…

Chừng 20 phút sau, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình đến. Không hiểu hai người nói chuyện với nhau ra sao mà trước khi về, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình gọi anh sĩ qưan công an ra trước sân, chỉ thị :

– Các đồng chí phải chăm sóc đặc biệt và bảo vệ hai đồng chí đó trong đêm nay. Hai đồng chí đó chưa xơi cơm, cho người đến cửa hàng hợp tác xã mang về dây một bữa ăn thực ngon, có cả rượu. Tiền này thanh toán sau với Thường vụ Tỉnh ủy. Chỗ ngủ của khách phải lo chu đáo, cũng như phải đáp ứng hoàn toàn mọi yêu cầu. Có gì trục trặc điện thoại cho biết ngay. Tối nay văn phòng Tỉnh ủy bận họp nên tạm thời nhờ các dồng chí thay mặt chúng tôi chăm sóc họ. Sáng mai tôi đến.

Nói xong, Bí thư Tỉnh ủy ra xe đi ngay, không kịp cho kẻ đối thoại hỏi thêm một câu nào.

Sáng sớm, mới 4g30 sáng giờ Hà nội tức 5 giờ 30 giờ Saigon trên bầu trời yên tĩnh của tỉnh lỵ Quảng Bình đã có tiếng phình phịch của động cơ trực thăng từ xa vang lại càng lúc càng rõ. Điều này rất hiếm thấy đối với nhân dân Quảng Bình. Vì dạo ấy cả miền Bắc chỉ có vài ba chiếc trực thăng xử dụng dành cho những công tác đặc biệt của Trung Ương, chứ đâu phải những vụ xê dịch hay công tác bình thường nào cũng được dùng.

Nhân dân tỉnh Quảng Bình không một ai biết rõ chiếc trực thăng ấy đi đâu, làm gì, nhưng Bí thư Tỉnh ủy thì biết rất rõ. Khi hôm, lúc rời khỏi đồn công an, y đánh điện khẩn, báo về Trung Ương : ” Quốc Đăng hiện có mặt tại Quảng Bình. Tỉnh ủy đang chờ chỉ thị của Trung Ương”. Y phải dùng hình thức này vì y nhận rõ tầm quan trọng đặc biệt của báo cáo bí mật phải được bảo vệ triệt để nên dùng đường đây điện thoại gọi thẳng về Trung Ương sẽ là một sai lầm tai hại. Có cảnh giác cao độ mới tránh được con mắt gián điệp, tình báo quốc tế cũng như Ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến tại Việt Nam

Hai giờ sáng, Tỉnh ủy nhận được điện khẩn trả lời của Trung Ương và chỉ thị những việc cần làm.

Tiếng nổ phình phịch inh tai của chiếc trực thăng bay qua làm viên sĩ quan công an vũ trang thức giác. Việc trước tiên của anh ta là bò lên lầu xem hai ông khách đã thức chưa, có cần gì không ? Cửa buồng mở toang, trong buồng vắng ngắt, cả hành trang của hai ông khách cũng biến mất không lưu lại một vết tích nào.

Anh ta nhảy vội hai bực một xuống lầu, ra cổng hỏi viên hạ sĩ trực thì được biết là hồi gần 4 giờ sáng, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đến đón hai người khách ra đi.

Như vậy là Quốc Đăng và anh cận vệ đã lên phi cơ trực thăng đi rồi.

Sau khi ra Hà-nội, Quốc Đăng lưu lại đây ba tháng để nghỉ ngơi bồi dưỡng và đi tham quan các nông trường, công trường, hợp tác xã, sự sinh hoạt miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa. Quốc Đăng cũng đi thăm lại những bạn bè cũ tập kết trước kia.

Chỉ có những ngày đầu là bận rộn phải dự phiên họp kín của Thường vụ Trung Ương Đảng, của Bộ Chính trị để báo cáo tình hình chung về Miền Nam và kết quả của chuyến đi. Rồi làm việc với Ủy ban Miền Nam do Thiếu tướng Trần văn Trà phụ trách.

Tuy cuộc tiếp đón Đăng không chính thức, không được mọi người biết công khai, rộng rãi, nhưng chính nhờ thế mà Quốc Đăng được sống những ngày vui vẻ, thỏa mãn, đầy đủ ở Hà-nội, không cần phải giữ gìn, e dè, gò bó như những cán bộ cao cấp khác. Vì không ai biết Quốc Đăng là ai.

Về mặt tinh thần, Đăng cũng thỏa mãn, hả hê.

Đăng cũng được Hồ chủ tịch hôn, chụp ảnh chung, ăn cơm chung, cũng được cụ Tôn tiếp đón nồng hậu rồi Trường Chinh, Lê Duẫn, Trung Ương Đảng, dự những cuộc tiếp tân cũng được ngồi trên khán đài cao bên cạnh các tướng lãnh, Bộ Chính trị trong ngày lễ Quốc Khánh 2-9 năm 1959.

Từ trước, Quốc Đăng vẫn nổi tiếng là con người nóng nảy nhưng tốt bụng, tánh tình bộc trực, không thích đề cao, không thích bị gò bó trong nền nếp sinh hoạt đầy nguyên tắc, điều lịnh nọ kia. Đăng thường nói, tôi là nông dân, thích cuộc sống đó, muốn ăn chừng nào thì ăn, muốn ngủ chừng nào thì ngủ, không ưa kiểu cọ, nghi thức rắc rối phiền phức, mất thì giờ. Càng giản dị chừng nào thì tốt chừng ấy. Nông dân Nam bộ là như vậy đó.

Cho đến cách ăn mặc, dù ở Hà-nội, Đăng được các cán bộ giao tế Trung Ương và cán bộ Tổng cục Hậu Cần cung cấp cho đủ mọi thứ trang phục cần dùng, hay nói cách khác là trong túi của Đăng rất nhiều tiền, muốn ăn xài gì, mua sắm gì tùy ý không phải báo cáo ai, nhưng ít khi người ta thấy “ông già gân ” ăn mặc chững chạc như đại cán bao giờ, ngoại trừ những buổi tiếp tân có tính cách ngoại giao và trong ngày Quốc Khánh. Đăng chỉ thích mặc bộ quân phục cháo lòng may bằng vải ta rộng thùng thình, mốc thích mà Đăng mặc trong cuộc hành trình. Vài anh em cán bộ trẻ tuổi biết Đăng, hỏi Đăng sao ăn mặc xập xệ vậy, Đăng trả lời :

– Tao à! Tao là nông dân Nam bộ, có phải quan cách gì đâu. Đời sống chính quy tao thấy bực bội quá. A! Còn điều này ! Chiến trường Miền Nam là chiến trường du kích, có phải Xã hội chủ nghĩa đâu.

Sau ngày lễ Quốc khánh 2-9-1959, Quốc Đăng sửa soạn trở về Nam. Trong tuần lễ cuối cùng ở Hà-nội, Đăng một lần nữa phải dự mấy buổi họp liên tiếp với Thường vụ Trung Ương Đảng để bàn kế hoạch khởi nghĩa, duyệt lần cuối cùng toàn bộ kế hoạch này, để điện vào Nam cho kịp.

Riêng Quốc Đăng, còn nhận thêm những chỉ thị miệng về những kế hoạch hậu cần, chuyển quân, tiếp nhận vũ khí v.v… Trên nguyên tắc, coi như Quảng Ngãi trở ra Thừa Thiên, Quảng Trị – khu 5 – sẽ do Trung Ương trực tiếp điều khiển để đỡ gánh nặng cho Trung Ương Cục Miền Nam.

Những tỉnh phía nam Bến Hải này xa Trung Ương Cục quá, liên lạc khó khăn, không thể nào bảo đảm nổi vấn đề hậu cần và thi hành kế hoạch Tổng khởi nghĩa của Trung Ương. Do đó, Trung Ương sẽ tiếp nhận quản trị vùng này, sẽ có một đoàn cán bộ của Trung Ương đến nghiên cứu tình hình, cùng đi với Quốc Đăng.

Ngày về, Quốc Đăng từ biệt mọi người, lên xe đi thẳng đến Đồng Hới, rồi từ đây, đi xe đạp đến biên giới Lào-Việt, con đường cũ mà Quốc Đăng đã đi qua. Anh cận vệ Thượng của Đăng được để lại miền Bắc, cho học tập. Thay vào đó, Trung Ương cấp cho Đăng hai cán bộ Thượng vận khác để làm cận vệ và sẽ giúp Đăng đắc lực hơn trong việc móc nối và tổ chức các trạm.

Chẳng những vậy, một số cán bộ trung cấp về chính trị và hậu cần đã từng hoạt động tại chiến trường C (tức Lào) với một đại đội cán bộ sơ cấp (cấp trung đội, đại đội) đang chờ Đăng tại biên giới để cùng về Nam. Mỗi người đều được trang bị vũ khí hai súng ngắn, một súng dài. Họ được trang bị thế là vì Miền Nam đang thiếu, đang cần, mọi người đều phải mang càng nhiều càng tốt để về trang bị lại cho những cán bộ khác.

Ngoài ra mỗi người còn phải mang thêm mấy mươi lạng vàng y, vừa để dùng trao đổi thực phẩm dọc đường vừa là ngân khoản viện trợ của miền Bắc cho Trung Ương Cục Miền Nam.

Thế là trên đường về, Quốc Đăng không đơn độc như trước. Vui vẻ, phấn khởi nhưng Đăng đâm ra lo. Lo vì đoàn đi càng đông, càng nặng nề. Dọc đường xảy ra bệnh hoạn, tai nạn thì làm sao ? Đồ đạc mang vác nặng, đâu ai có thể tiếp tay ai. Không lẽ có tay nào bệnh hoạn, đuối sức đi không nổi, hoặc bị thương thì bỏ lại. Bỏ lại ai chăm sóc, ai nuôi ? Còn đi thì ai tải ai cáng cho ? Khó khăn đáng kể nhất là vấn đề gạo.

Chuyến đi chỉ có 2 người mà dọc đường ghé mấy buôn kiếm gạo, có khi còn không đủ ăn phải uống nước cầm hơi và đào củ chụp, bây giờ đông thế này giải quyết vấn đề gạo đâu phải chuyện dễ. Củ chụp vùng có, vùng không, dù có, đào cho đủ ăn gần hai trăm nhân mạng, úi dào! Mệt.

Đoàn công tác Liên khu 5 đi chung, nhưng họ sinh hoạt riêng. Vả lại, họ vừa đi vừa mở đường, lo vận chuyển thực phẩm để cung cấp cho các trạm đường dây, phục vụ cho “khách” sau này. Họ đâu có đói. Bên cạnh họ còn có cả kho lúa của cánh đồng Chum (Lào).

Vẫn cái chà gạc trên vai, cây gậy trên tay, cái nón nỉ thủng không vành trên đầu và bộ đồ mốc, “ông già gân Năm Quốc Đăng” dẫn đầu đoàn quân lên đường tiến về Nam. Họ là những người Miền Nam tập kết, những đảng viên mang danh là “anh dũng ngoan cường” được chọn lựa sẵn . Tháng 10 năm 1960, Quốc Đăng dẫn đoàn về đến Suối Đá, đông bắc Khu A.

Để nhớ đến người có công tạo nên nó, người ta đặt tên nó là “đường dây ông Cụ”. Và đoàn người đó được mệnh danh là “đoàn cán bộ mùa thu số 1”, dù rằng trước đó cũng có những nhóm lẻ tẻ trở về Nam, nhưng họ được đi bằng con đường khác, với những phương tiện khác.

Bù vào thời gian mấy tháng đói lã người, ăn lá bép, đọt kè cầm hơi trên quãng đường từ mạn Kontum về Cao nguyên Darlac, Quốc Đăng cho tổ chức buổi tiệc liên hoan với thịt nai và trâu rừng, gạo ăn không tiêu chuẩn, nghĩa là chừng nào no thì thôi. Kết quả, đại đa số mỗi người ăn gần hai lít gạo, báo hại “anh nuôi” phải thổi cơm liên tục cũng không kịp cung ứng nhu cầu.

—> Khu A
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s